Trang 1
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VÀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về hoạt động của ngân hàng thương mại ................................ 1
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại..................................................1
1.1.2 Các nghiệp vụ của NHTM ..................................................................1
1.1.2.1.Nghiệp vụ nguồn vốn ....................................................................1
1.1.2.2.Nghiệp vụ sử dụng vốn..................................................................2
1.1.2.3.Nghiệp vụ trung gian (cung cấp các dòch vụ NHTM) ...................3
1.2 Khái quát về tín dụng Ngân hàng thương mại............................................4
1.2.1 Khái niệm và bản chất của tín dụng ...................................................4
1.2.2 Tín dụng NH........................................................................................5
1.2.2.1 Đặc điểm của tín dụng NH ............................................................5
1.2.2.2 Công cụ hoạt động của tín dụng NH .............................................5
1.3 Rủi ro trong hoạt động NHTM.....................................................................5
1.3.1 Các loại rủi ro trong hoạt động Ngân hàng thương mại liên quan
đến rủi ro tín dụng.......................................................................................6
1.3.1.1 Rủi ro lãi suất................................................................................6
1.3.1.2 Rủi ro tỷ giá hối đoái....................................................................8
1.3.1.3 Rủi ro nguồn vốn ..........................................................................9
1.3.2 Rủi do tín dụng ..................................................................................11
1.3.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng ......................................................11
1.3.2.2 Các đặc điểm của rủi ro tín dụng ...............................................12
1.3.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng .............................................................12
1.3.2.4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng................................................15
1.3.2.5 Hậu quả của rủi ro tín dụng........................................................15
NHTM trên đòa bàn....................................................................................50
2.3.3.1 Quản trò rủi ro tín dụng trên đòa bàn............................................50
2.3.3.2 Xử lý rủi ro tín dụng và các hạn chế trong xử lý rủi ro tín
dụng của các NHTM trên đòa bàn ...........................................................50
Trang 3
PHẦN MỞ ĐẦU
1.-Sự cần thiết của đề tài
Đối với nền kinh tế thò trường, rủi ro kinh doanh của các doanh nghiệp là
không thể tránh khỏi. Ngân hàng Thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc
biệt kinh doanh trong lónh vực tiền tệ – tín dụng nên càng tiềm ẩn nhiều rủi ro
hơn.
Trong các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Việt Nam
hoạt động tín dụng mang lại nguồn lợi nhuận lớn nhất và cũng là hoạt động có
nhiều rủi ro nhất. Cho đến nay rủi ro tín dụng vẫn là rủi ro chính yếu, nó chiếm
đến 80% tổng số những rủi ro mà các ngân hàng phải gánh chòu. Lòch sử đã cho
thấy nhiều NHTM thất bại, sụp đổ là do rủi ro tín dụng. Do đó, hoạt động tín
dụng xứng đáng nhận được sự chú ý đặc biệt trong quản trò NH cũng như trong
công tác giám sát, điều chỉnh hoạt động NH của NH Trung ương (ở nước ta là
Ngân hàng Nhà nước). Chất lượng tín dụng có hiệu quả hay không? Rủi ro tín
dụng ở mức độ như thế nào? Là những câu hỏi mà câu trả lời có thể đánh giá sự
thành công hay thất bại của một NHTM.
Cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế trong quá trình hội nhập, quan
điểm về rủi ro tín dụng của hệ thống NH Việt Nam trong thời gian qua có nhiều
thay đổi đáng kể:
• Từ không chấp nhận rủi ro tín dụng – (trong nền kinh tế kế
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong luận văn là phương
pháp duy vật biện chứng. Ngoài ra, luận văn còn kết hợp và vận dụng các
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương
pháp thống kê ….
5.- Cấu trúc nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu được trình bày gồm ba
phần lớn :
Chương I: Lý luận chung về Ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng của
Ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng rủi ro tín dụng của hệ thống Ngân hàng thương mại
trên đòa bàn tỉnh Bà Ròa –Vũng Tàu.
Chương III: Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao chất
lượng tín dụng của hệ thống Ngân hàng thương mại trên đòa bàn tỉnh Bà
Ròa–Vũng Tàu.
Trang 6
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VÀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.4 Khái quát về hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM ) là một trong những đònh chế tài chính
nguồn nói trên như vốn phát sinh khi làm đại lý chuyển tiền, thanh toán, công nợ
chưa đến hạn phải trả…
1.1.2.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn
Nghiệp vụ sử dụng vốn thể hiện trên tài sản có của bảng cân đối kế toán
còn được gọi là nghiệp vụ có, bao gồm:
* Dự trữ: trước tiên các NHTM phải dành một phần nguồn vốn dự trữ dưới
hình thức tiền mặt tại NHTM, tiền gửi tại NHTW, tiền gửi tại các TCTD khác,
chứng từ có giá ngắn hạn. Dự trữ của NHTM nhằm sẵn sàng đảm bảo khả năng
thanh toán nhờ đó mà giữ vững được lòng tin của khách hàng đối với NH.
* Tín dụng: Nghiệp vụ cơ bản hàng đầu của NHTM. Đây là nghiệp vụ
trong đó NHTM thoả thuận với khách hàng (qua hợp đồng tín dụng) để khách
hàng sử dụng một khoản tiền nhất đònh, có lãi suất và phải hoàn trả.
* Đầu tư: đây là kỹ thuật giúp NHTM phân tán rủi ro đồng thời tạo ra thu
nhập. Đầu tư của NHTM có thể được phân chia thành 2 nhóm lớn: Đầu tư trực
tiếp và Đầu tư tài chính.
Trang 8
Đầu tư trực tiếp là hình thức NH bỏ vốn đầu tư trực tiếp quản lý và sử dụng
phần vốn của mình, để tạo ra lợi nhuận.
Đầu tư tài chính được thể hiện bằng cách: - Đầu tư vào trái phiếu chính phủ
và trái phiếu kho bạc, với hệ số rủi ro bằng không - Đầu tư vào trái phiếu công
ty có lãi suất cao hơn song tỷ lệ rủi ro cao.
* Tài sản Có khác: sử dụng vốn để mua sắm tài sản, xây dựng cơ sở vật
chất để cho hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.1.2.3. Nghiệp vụ trung gian (cung cấp các dòch vụ NHTM)
Kinh doanh dòch vụ NH tạo ra một phần thu nhập khá lớn. Trong điều
kiện hội nhập quốc tế, xu hướng thành lập những NHTM quy mô lớn nên các
dòch vụ NH không ngừng hoàn thiện và ngày càng đa dạng, bao gồm các nghiệp
vụ sau:
- Các dòch vụ thanh toán thu, chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ
séc, dòch vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán…)
- Giá trò của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao
nhờ lợi tức tín dụng.
* Bản chất của tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người
đi vay và người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ
thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh
tế xã hội.
Trang 10
1.2.2 Tín dụng NH
1.2.2.1 Đặc điểm của tín dụng NH
Tín dụng NH là quan hệ tín dụng giữa các NH với các doanh nghiệp, tổ
chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng
đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối tượng
nói trên.
* Đối tượng của tín dụng NH là vốn tiền tệ, nghóa là NH huy động vốn và
cho vay bằng tiền.
* Trong tín dụng NH, các chủ thể của nó được xác đònh một cách rõ ràng,
trong đó NH là người cho vay, còn các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá
nhân…là người đi vay.
* Tín dụng NH vừa mang tính chất SXKD gắn với hoạt động SXKD của
các doanh nghiệp vừa là tín dụng tiêu dùng không gắn với hoạt động SXKD, vì
vậy quá trình vận động và phát triển của tín dụng NH không hoàn toàn phù hợp
với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa.
1.2.2.2 Công cụ hoạt động của tín dụng NH
Các công cụ được sử dụng trong tín dụng NH rất đa dạng và phong phú.
Để tập trung các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội, NH sử dụng các công cụ
như kỳ phiếu, trái phiếu NH, chứng chỉ tiền gửi, các sổ tiết kiệm đònh mức hay
không đònh mức, v.v …
Để cung ứng vốn tín dụng (cho vay), NH thường sử dụng công cụ chủ yếu
là hợp đồng tín dụng, với hợp đồng này cho phép NH thu hồi đầy đủ số vốn gốc
và tiền lãi theo thời hạn đã được xác đònh.
+ Huy động vốn nhiều nhưng cho vay ít hơn
+ Huy động vốn kỳ hạn dài nhưng cho vay ngắn hạn
* Thứ ba : Do tác động của các yếu tố khách quan như tỷ lệ lạm phát, tỷ
giá…
Rủi ro lãi suất được đánh giá qua hệ số rủi ro lãi suất
Tài sản có nhạy cảm với lãi suất
Tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất
Hệ số rủi ro lãi suất
=
( Trong đó Tài sản có và tài sản nợ đang áp dụng lãi suất biến đổi, hoặc
có thời hạn dưới một năm )
+ Nếu hệ số rủi ro lãi suất = 1 . Rủi ro lãi suất sẽ bò triệt tiêu.
+ Nếu hệ số rủi ro lãi suất > 1 . Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất giảm
+ Nếu hệ số rủi ro lãi suất < 1 . Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất tăng
Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng yếu tố rủi ro lãi suất không phải lúc
nào cũng xảy ra. Trong một số trường hợp lãi suất thò trường tăng thì NH lại thu
lợi nhuận cao nếu hệ số nói trên > 1 và ngược lại khi lãi suất thò trường giảm
nhưng hệ số rủi ro lãi suất < 1 thì NH lại được lợi.
Để hạn chế rủi ro lãi suất các NHTM cần phải:
* Thường xuyên duy trì sự cân đối giữa tài sản có nhạy cảm với lãi suất
với tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất. Điều này có thể hạ thấp được rủi ro lãi suất
nhưng đổi lại, nó có thể làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng vì ngân hàng
chấp nhận loại trừ các cơ hội đầu tư vào những lãnh vực có rủi ro nhưng tiềm
năng sinh lời cao.
* Thực hiện dự báo lãi suất để có chính sách đón đầu nhằm ngăn chặn rủi
ro lãi suất và tăng lợi nhuận. Ngoài ra, có thể sử dụng nghiệp vụ hoán đổi lãi
suất để giảm thiểu rủi ro lãi suất.
Trang 13
1.3.1.2 Rủi ro tỷ giá hối đoái
hạn trạng thái ngoại hối, các NH có thể sử dụng các công cụ phái sinh như giao
dòch kỳ hạn (Forward), giao dòch quyền chọn (Options), giao dòch hoán đổi
(Swap), đồng thời dự báo tỷ giá tốt để có đối sách thích hợp (chẳng hạn dự báo
tỷ giá tăng thì nên duy trì trạng thái ngoại hối dương và ngược lại). Ngoài ra
cũng cần đa dạng hóa ngoại tệ trong kinh doanh tránh tập trung quá lớn vào một
loại ngoại tệ.
1.3.1.3 Rủi ro nguồn vốn
Rủi ro nguồn vốn bao gồm rủi ro thừa vốn và rủi ro thiếu vốn.
- Rủi ro thừa vốn: thừa vốn hay đọng vốn là một trạng thái mất cân bằng
của các NHTM xảy ra khi mà nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả. Ngân hàng
không tiếp cận được với khách hàng hay không lựa chọn được nhiều khách hàng
đáng tin cậy để cho vay. Xét về góc độ vó mô thì quan hệ giữa tiết kiệm và đầu
tư là không tương ứng. Tiết kiệm trong nền kinh tế vẫn cao nên ngân hàng vẫn
huy động được vốn nhưng không cho vay được nên đầu tư thấp. Trong phạm vi
của một NHTM thì đó là việc không khai thác hết tiềm năng sinh lời của tài sản
có, chiếm giữ quá nhiều tài sản có không ở dạng trực tiếp hay gián tiếp có khả
năng sinh lời. Ví dụ tồn quỹ tiền mặt quá lớn.
Một hình thức thừa vốn khác đang trở thành vấn đề gay gắt hiện nay ở các
NHTM là tài sản thế chấp đang tiến hành xử lý phát mại nhiều. Thông thường,
các món cho vay quá hạn mà đã tiến hành niêm phong để phát mại tài sản thế
chấp thì ngừng tính lãi. Tuy nhiên trong trường hợp này, ngân hàng vẫn chưa thu
Trang 15
được nợ về để đầu tư tiếp nên vốn bò đọng. (Ở đây, chúng ta không bàn đến khả
năng phát mại các tài sản thế chấp đó để thu nợ).
- Rủi ro thiếu vốn: rủi ro thiếu vốn xuất hiện khi ngân hàng mất khả năng
chống đỡ các dòng tiền ra. Rủi ro thiếu vốn hay còn gọi là rủi ro vỡ nợ là do
biến động của tình hình kinh tế, chính trò hay sự giảm sút về uy tín của ngân
hàng làm cho người gửi tiền mất niềm tin vào ngân hàng, ồ ạt rút tiền ra mà
ngân hàng không đủ khả năng thanh toán dẫn đến vỡ nợ. Sự vững mạnh về tình
hình tài chính, khả năng thanh toán cao của ngân hàng sẽ củng cố uy tín của
hoặc thực hiện không đúng các cam kết với NH. Biểu hiện cụ thể của rủi ro tín
dụng là.
- Khách hàng không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ.
- Khách hàng trả nợ không đầy đủ.
- Khách hàng trả nợ không đúng hạn.
Các biểu hiện nói trên của rủi ro tín dụng đều dẫn đến kết quả là : NH
cho vay bò tổn thất trực tiếp.
Theo đònh nghóa của NHNN Việt Nam tại quyết đònh số 493/2005/QĐ-
NHNN ngày 22/04/2005 của Thống Đốc NHNNVN về việc ban hành Quy đònh
về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong
hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ( TCTD ): “Rủi ro tín dụng là khả
năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không
thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghóa vụ của mình theo cam kết”.
Trang 17
1.3.2.2 Các đặc điểm của rủi ro tín dụng.
* Rủi ro tín dụng là loại rủi ro chủ yếu trong hoạt động NH.
- Xảy ra thường xuyên
- Gây hậu quả nặng nề cho NH.
* Rủi ro tín dụng là loại rủi ro bò tác động bởi nhiều nguyên nhân, trong
đó chủ yếu là nguyên nhân khách quan.
- Các thông tin về khách hàng vay vốn chưa đầy đủ và thiếu tin cậy.
- Các tác động của yếu tố khách quan như thiên tai, cạnh tranh, giá cả…
Trên phạm vi quốc nội và quốc tế.
- Quản lý và sử dụng vốn vay yếu kém của khách hàng.
- Kiểm soát tín dụng còn lỏng lẻo.
1.3.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng
* Phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro
- Rủi ro khách quan: do các nguyên nhân khách quan gây ra như thiên tai,
đòch họa, người vay bò chết, mất tích không có người thừa kế hoặc do các biến
động khác ngoài dự kiến làm thất thoát vốn vay trong khi NH cho vay đã thực
thấp.
+ Rủi ro do biến động khả năng kinh doanh của người vay (chủ quan): xảy
ra khi người vay, doanh nghiệp vay không theo kòp được những thay đổi về chế
độ, chính sách, không thích ứng được với sự cạnh tranh gay gắt trên thò trường.
Trang 19
+ Rủi ro từ phía người điều hành doanh nghiệp, ngành hoạt động, vò trí của
doanh nghệp, mối quan hệ của doanh nghiệp, mối quan hệ của doanh nghiệp với
các doanh nghiệp khác, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, năng lực tổ chức
điều hành, tư cách đạo đức của người điều hành cũng như vò trí của ngành hoạt
động.
Phân loại khác
+ Rủi ro từ khâu quản lý, kiểm tra của NHNN: NHNN với tư cách là cơ
quan quản lý nhà nước đối với các NHTM và ban hành các cơ chế, quy chế về
hoạt động tín dụng NH nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng trong nền
kinh tế thò trường. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung, hay ban hành mới các chế
độ về an toàn vốn, trích quỹ dự phòng bù đắp rủi ro, tài sản thế chấp, quy chế
thanh tra kiểm soát, công tác thông tin tín dụng... còn chưa kòp thời và chưa đáp
ứng được yêu cầu.
+ Rủi ro phát sinh từ chế độ chính sách của Nhà nước: Đây cũng là một
tác nhân gây ra rủi ro trong trường hợp có sự thay đổi về chính trò, điều chỉnh
chính sách, chế độ, luật pháp của Nhà nước hoặc thay đổi đòa giới hành chính
của các đòa phương. Ngoài ra, cũng có thể còn do sự thiếu đồng bộ trong các chế
độ, chính sách, luật pháp.
+ Rủi ro quốc gia: Xảy ra khi ngân hàng đầu tư tín dụng sang một nước
khác hoặc đầu tư cho doanh nghiệp của nước ngoài hoạt động tại Việt nam.
+ Rủi ro môi trường: Xảy ra khi khoản vay chưa tính đến hoặc chưa tính hết
các yếu tố về vấn đề bảo vệ môi trường làm phát sinh các chi phí mới ảnh hưởng
trực tiếp đến lợi nhuận thu được của dự án.
+ Rủi ro khác như do sự đánh giá không khách quan, chính xác của cơ quan
công chứng đối với tài sản thế chấp, do việc cho vay bò áp đặt bởi cấp trên...
Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành,
các tổ chức và các cá nhân. Vì vậy, khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng
hay bò phá sản thì người gửi tiền ở ngân hàng hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt
đến rút tiền, ảnh hưởng dây chuyền đến hoạt động của các NH khác, làm cho hệ
thống ngân hàng gặp khó khăn. Khi hệ thống NH gặp khó khăn trong thời gian
dài, trên diện rộng lúc này nền kinh tế có khả năng rơi vào tình trạng khủng
hoảng.
1.3.3. Các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro và nâng cao chất
lượng tín dụng
1.3.3.1. Các biện pháp cơ bản
* Thông tin về khách hàng
Để đánh giá rủi ro và đề ra biện pháp nhằm hạn chế rủi ro, thông tin cần
thu thập từ khách hàng phải đầy đủ, trung thực, kòp thời. Quá trình thu thập thông
tin, sàng lọc thông tin từ khách hàng và thu thập từ nhiều nguồn khác nhau cần
được xem là nguyên tắc hàng đầu để ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng.
* Giới hạn cấp tín dụng
NH nên quy đònh hạn mức cấp tín dụng tối đa cho từng cấp quản trò (mức
phán quyết). Mức phán quyết có thể được quy đònh cho các chi nhánh NH, các
phòng giao dòch, tuỳ theo quy mô hoạt động, năng lực làm việc của Chi nhánh
theo loại sản phẩm tín dụng, tính chất có hay không có tài sản bảo đảm của
khoản vay. Ngoài ra, NH cũng cần xác đònh mức giới hạn tín dụng đối với từng
KH riêng biệt. Giới hạn tín dụng bao gồm hạn mức của tất cả các dòch vụ chứa
Trang 22
đựng rủi ro tín dụng mà NH cấp cho KH như dư nợ vay, bảo lãnh, mở L/C, chiết
khấu, thấu chi…. Vượt qua giới hạn này, độ rủi ro đã ở quá mức cho phép.
Giới hạn tín dụng được xác đònh trên cơ sở chính sách tín dụng từng thời
kỳ, xếp hạng tín dụng của DN, ngành nghề và quy mô hoạt động của họ, khả
năng cung ứng và quản trò vốn của NH.
* Bảo đảm tiền vay
Ngân hàng cần xem xét, quyết đònh cho vay trên cơ sở có bảo đảm hoặc
- Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tín dụng có vấn đề, tăng
cường kiểm tra, giám sát khi phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh liên
quan đến khoản tín dụng của NH.
- Tăng cường kiểm tra tín dụng khi nền kinh tế có những biểu hiện đi
xuống hoặc ngành nghề (sử dụng nhiều vốn vay) không phát triển.
- Xây dựng kế hoạch, chương trình và nội dung kiểm tra bao hàm các khía
cạnh sau: thực hiện kế hoạch trả nợ, chất lượng và điều kiện tài sản đảm bảo,
khả năng xử lý tài sản bảo đảm.
* Phân hạng tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng
Phân hạng tín dụng là công cụ quản trò rủi ro cơ bản, là một tiến trình xếp
loại rủi ro bằng phương pháp đònh lượng và đònh tính nhằm xác đònh cấp độ rủi
ro đối với các khoản cho vay. Rủi ro phải được đánh giá và xếp hạng vào thời
điểm mà khoản vay được thực hiện và sau đó được đánh giá và phân loại lại khi
cần thiết (tùy vào mức độ rủi ro) có thể vài lần trong năm. Trang 24
Theo thông lệ quốc tế, các khoản cho vay được phân loại thành 5 hạng sau:
- Hạng 1: Các khoản cho vay Đạt tiêu chuẩn (Standard) là khoản cho vay
không có nghi ngờ nào về khả năng trả nợ. Nói chung, các khoản cho vay được
đảm bảo (kể cả gốc vốn và lãi) bằng tiền mặt hoặc các giấy tờ có giá trò thay thế
tiền mặt như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu kho bạc được xếp vào loại chuẩn này.
- Hạng 2: Các khoản cho vay Cần theo dõi hoặc cảnh giác (Specially
mentioned, or watch) là khoản cho vay chứa đựng tiềm năng rủi ro trong tương
lai.
- Hạng 3: Các khoản cho vay Dưới chuẩn (Substandard) là các khoản cho
vay yếu kém, nguồn trả nợ cơ bản bò thiếu hụt và ngân hàng phải cần đến nguồn
trả nợ thứ cấp như thanh lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Những khoản nợ quá
hạn từ 90 ngày trở lên thường được xếp vào loại này.
- Hạng 4: Các khoản cho vay Khó thu hồi (Doubtful) là các khoản cho vay
quan đến rủi ro tín dụng cho từng đối tượng cho vay cụ thể. Sau khi các dữ liệu
đã được xác đònh, kỹ thuật thống kê sẽ được sử dụng để tính toán xác suất rủi ro
tín dụng hoặc để phân loại rủi ro tín dụng. Các mô hình thường phân tích là : Mô
hình xác suất tuyến tính Mô hình Logit Mô hình Propit Mô hình phân biệt tuyến
tính …