BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---------------------
NGUYỄN THỊ NHẬT HUYỀN
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TỪ GÓC ĐỘ
KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HỒNG HẢI
Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 01/2010
1
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Danh mục viết tắt
Danh mục bảng biểu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KIỂM
TOÁN NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM……….8
1.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA NHTM ……………………………………………………………...8
1.1.1. Khái niệm rủi ro …………………………………………………………..8
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG HIỆN NAY TẠI ACB ….46
2.3.1. Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về hoạt động tín dụng …….46
2.3.2. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định nội bộ ………..47
2.3.3. Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp ………………….48
2.3.4. ACB thực hiện chính sách QLRRTD hiệu quả …………………………49
2.3.5. Thực hiện các quy định đảm bảo kiểm soát rủi ro và an toàn hoạt động tín
dụng ………………………………………………………………………………..51
2.3.6. Áp dụng các biện pháp để thu hồi nợ vay ……………………………….51
2.3.7. Phân tán rủi ro trong cho vay …………………………………………...51
2.3.8. Thực hiện tốt việc thẩm định khách hàng và khả năng trả nợ …………..52
2.3.9. ACB có chính sách tín dụng tương đối hợp lý và duy trì các khoản dự
phòng để đối phó với rủi ro ………………………………………………………..52
2.3.10. Xem xét 4 điều kiện cơ bản ……………………………………………56
2.4. ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ, HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC KTNB TẠI ACB
TRONG VIỆC NHẬN DIỆNVÀ QLRRTD……………………………………….56
2.4.1. Ưu điểm của KTNB trong việc nhận diện và QLRRTD tại ACB ............56
2.4.2. Nhược điểm của KTNB trong việc nhận diện và QLRRTD tại ACB .......60
2.5. NHỮNG TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI
RO TÍN DỤNG TẠI ACB .......................................................................................63
2.6.
NHỮNG NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN TỒN TẠI ......................................64
2.6.1. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân hoàn cảnh khách quan ...........................65
2.6.2. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân từ khách hàng vay .................................69
2.6.3. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay ....................70
3
TGĐ
Tổng Giám đốc
HĐQT
Hội đồng quản trị
KTNB
Kiểm toán nội bộ
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
TCTD
Tổ chức tín dụng
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTM
Ngân hàng thương mại
CNTT
QLRR
Quản lý rủi ro
QLRRTD
Quản lý rủi ro tín dụng
KSNB
Kiểm soát nội bộ
KTKSNB
Kiểm tra kiểm soát nội bộ
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SỐ
NỘI DUNG
Bảng 2.1
Phân loại dư nợ từ 2007 đến 2009 theo loại hình cho vay
Bảng 2.2
Bảng 2.10
Hệ số rủi ro tín dụng từ 2007 đến 2009
6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền
tệ. Hoạt động của NHTM chịu tác động của nhiều yếu tố như: môi trường Kinh tế,
Chính trị, Xã hội, các cơ chế, chính sách quản lý, điều hành vĩ mô và vi mô. Và
những yếu tố trên lại luôn có sự thay đổi để phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế,
đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay. Sự thay đổi đó một
mặt tạo ra nhiều cơ hội cho hoạt động của NHTM trong nước, mặt khác cũng làm
gia tăng rủi ro trong hoạt động, đặc biệt là rủi ro tín dụng luôn được coi là mối nguy
hiểm lớn nhất bởi vì hoạt động tín dụng luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong bảng cân
đối tài sản của các ngân hàng. Do vậy, rủi ro tín dụng luôn có một tác động rất lớn
đến tình hình hoạt động của ngân hàng, thậm chí làm cho ngân hàng bị phá sản. Bên
cạnh đó, rủi ro tín dụng cũng có tính lây lan trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, có
thể dẫn đến những hậu quả khó lường đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội. Theo thống
kê của uỷ ban Basel, rủi ro tín dụng là nguyên nhân gây ra 70% thua lỗ của các ngân
hàng trên thế giới.
Chính vì vậy, các NHTM cần phải có một công cụ hữu hiệu để có thể quản lý
và kiểm soát các loại rủi ro tín dụng hiện có, đồng thời ngăn chặn việc phát sinh
những rủi ro tín dụng mới. Thực hiện công tác kiểm toán nội bộ hiệu quả là giải
pháp tối ưu mang tính chiến lược và cấp thiết trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên,
thực tế hoạt động kiểm toán nội bộ tại ngân hàng mới được đề cập và áp dụng trong
vài năm gần đây và quá trình thực hiện còn nhiều lúng túng, thiếu kinh nghiệm về cả
̶
Nghiên cứu thực trạng quản lý rủi ro tín dụng của ACB.
4. Phương pháp nghiên cứu
Do tính chất của đề tài dựa vào dữ liệu đã có ở quá khứ của ACB, kết hợp với
sự quan sát những yếu tố, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong từng trường
hợp thực tế, tiến hành phân tích và rút ra giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt
động quản lý rủi ro tín dụng cho ACB.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ sử dụng những phương pháp sau:
Phương pháp tổng hợp, chọn lọc nguồn thông tin từ các tạp chí, sách và tài liệu
̶
chuyên ngành…
̶
Phương pháp thu thập số liệu từ báo cáo tổng kết hoạt động của ngân hàng.
̶
Phương pháp phân tích thống kê và so sánh sự biến động của dãy số qua các
năm.
8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KIỂM
TOÁN NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM
1.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA NHTM
1.1.1. Khái niệm rủi ro
•
giao dịch đó có hoàn thành hay không. Do đó rủi ro tín dụng thể hiện ở khả năng
hay xác suất hoàn thành giao dịch tín dụng đó.
Như vậy, rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó
ngân hàng là chủ nợ, mà khách nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực
hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu
công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bão lãnh, bao thanh
toán của ngân hàng. Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai
hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.
1.1.2.2. Rủi ro thanh khoản
Đây là loại rủi ro xuất hiện khi ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không
chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp
ứng nhu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ ngân hàng nào là đảm bảo
khả năng thanh khoản đầy đủ. Nghĩa là các ngân hàng có sẵn lượng vốn khả dụng
trong tay hoặc có thể tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn vay mượn bên ngoài với chi
phí hợp lý và đúng lúc cần thiết, hoặc có thể nhanh chóng bán bớt một số tài sản ở
mức giá thỏa đáng để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh.
Ngày nay công tác quản trị thanh khoản trở nên quan trọng hơn trước đây rất
nhiều. Bởi vì một ngân hàng có thể bị đóng cửa nếu không đáp ứng đủ nhu cầu
thanh khoản, mặc dù về mặt kỹ thuật, nó vẫn có khả năng trả nợ. Hơn nữa, năng lực
quản trị thanh khoản là thước đo quan trọng về tính hiệu quả tổng thể để đạt được
mục tiêu dài hạn của ngân hàng.
1.1.2.3. Rủi ro tỷ giá hối đoái
Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá theo chiều hướng bất lợi
cho ngân hàng, làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai. Rủi ro tỷ giá có
thể phát sinh trong nhiều hoạt động khác nhau của ngân hàng. Nhưng nhìn chung
bất cứ hoạt động nào mà ngân lưu thu phát sinh bằng một loại đồng tiền trong khi
ngân lưu chi phát sinh bằng một loại đồng tiền khác đều chứa đựng nguy cơ rủi ro
tỷ giá.
bộ, cơ cấu tổ chức của TCTD được thiết lập trên cơ sở phù hợp với quy định pháp
luật hiện hành và được tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử
lý kịp thời các rủi ro và đạt được các mục tiêu mà TCTD đã đặt ra.
11
c) KTNB: là hoạt động kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan
đối với hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ, đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự
tuân thủ các chính sách, thủ tục quy trình đã được thiết lập trong TCTD, thông qua
đó đơn vị thực hiện KTNB đưa ra các kiến nghị, tư vấn nhằm nâng cao hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của các hệ thống, các quy trình, quy định, góp phần đảm bảo
TCTD hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật.
Bộ phận KTNB là đơn vị chuyên trách thực hiện hoạt động KTNB của TCTD.
Công tác KTNB do nhân viên của chính TCTD thực hiện, có thể thực hiện cả ba
phương pháp kiểm toán là kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán
báo cáo tài chính, với thế mạnh là kiểm toán hoạt động. Để có thể hoạt động hữu
hiệu, bộ phận KTNB cần được tổ chức độc lập với bộ phận được kiểm toán.
Tuy nhiên, do kiểm toán viên nội bộ là nhân viên của TCTD nên kết quả KTNB
chỉ có giá trị đối với TCTD và thường không đạt sự tin cậy của NHNN hoặc các đối
tác khác (nếu có).
d) Phương pháp kiểm toán:
Kiểm toán hoạt động: là tiến trình kiểm tra và đánh giá về sự hữu hiệu và tính
•
hiệu quả của một hoạt động để đề xuất phương án cải tiến. Ở đây sự hữu hiệu là
mức độ hoàn thành nhiệm vụ hay mục tiêu, còn tính hiệu quả là sự so sánh giữa
kết quả đạt được và nguồn lực đã sử dụng.
Đối tượng của loại hình này rất đa dạng, có thể bao gồm:
Đối tượng của loại này có thể bao gồm:
-
Kiểm tra tính tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính kế toán, chế độ
quản lý nhà nước và tình hình chấp hành các chính sách, nghị quyết, quyết
định hay quy chế của HĐQT, Ban giám đốc.
-
Kiểm tra tính tuân thủ các quy định về nguyên tắc, quy trình nghiệp vụ, thủ
tục quản lý của toàn bộ cũng như của từng khâu công việc của từng bộ phận
trong hệ thống Kiểm soát nội bộ.
-
Kiểm tra sự chấp hành các nguyên tắc, các chính sách, các chuẩn mực kế toán
từ khâu lập chứng từ, vận dụng hệ thống tài khoản, ghi sổ kế toán, tổng hợp
thông tin và trình bày báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị đến lưu trữ
tài liệu kế toán. Chuẩn mực dùng để đánh giá là những văn bản liên quan như:
Luật thuế, các văn bản pháp quy, các nội quy, các hợp đồng…
•
Kiểm toán báo cáo tài chính: là sự kiểm tra và trình bày ý kiến nhận xét về báo
cáo tài chính của một đơn vị. Do báo cáo tài chính bắt buộc phải lập theo các
chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, nên chuẩn mực và chế độ kế
toán được sử dụng làm thước đo trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Kiểm toán báo cáo tài chính thường được thực hiện bởi các kiểm toán viên độc
lập, và kết quả kiểm toán để phục vụ cho đơn vị, Nhà nước và bên thứ ba, trong đó
Tính độc lập: bộ phận KTNB độc lập với các đơn vị, các bộ phận điều hành,
tác nghiệp của TCTD; hoạt động KTNB độc lập với các hoạt động điều hành,
tác nghiệp của TCTD.
-
Tính khách quan: bộ phận KTNB, kiểm toán viên nội bộ phải đảm bảo tính
khách quan, trung thực, công bằng, không định kiến khi thực hiện nhiệm vụ
KTNB.
-
Tính chuyên nghiệp: kiểm toán viên nội bộ phải là người có kiến thức, trình
độ và kỹ năng KTNB cần thiết, không kiêm nhiệm các cương vị, các công
việc chuyên môn khác của TCTD.
Phạm vi KTNB:
•
-
Kiểm toán tất cả các hoạt động, các quy trình nghiệp vụ và các đơn vị, bộ
phận của TCTD.
-
Kiểm toán đặc biệt và tư vấn theo yêu cầu của HĐQT, Ban Kiểm soát.
1.2.3. Nội dung hoạt động của KTNB
Nội dung chính của hoạt động KTNB là kiểm tra, đánh giá tính đầy đủ, hiệu lực
và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Tùy theo quy mô, mức độ rủi
•
Cơ chế, quy định, quy trình quản trị, điều hành, tác nghiệp của TCTD.
•
Đánh giá tính kinh tế và hiệu quả các các hoạt động, tính kinh tế và hiệu quả của
việc sử dụng các nguồn lực, qua đó xác định mức độ phù hợp giữa kết quả hoạt
động đạt được và mục tiêu hoạt động đề ra.
•
Các biện pháp đảm bảo an toàn tài sản.
•
Thực hiện các nội dung khác có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của KTNB,
theo yêu cầu của HĐQT và Ban Kiểm Soát.
1.2.4. Phương pháp thực hiện KTNB
•
Phương pháp thực hiện KTNB là phương pháp kiểm toán "định hướng theo rủi
ro", ưu tiên tập trung nguồn lực để kiểm toán các đơn vị, bộ phận, quy trình
được đánh giá có mức độ rủi ro cao.
•
KTNB phải xác định, phân tích, đánh giá những rủi ro và xây dựng hồ sơ rủi ro
cho từng hoạt động của TCTD. Hồ sơ rủi ro bao gồm toàn bộ các rủi ro tiềm
tại và sự minh bạch về tài chính”.
Quan điểm khác cho rằng cần quản lý tất cả mọi loại rủi ro của ngân hàng một
cách toàn diện: “QLRR là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và
có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất,
mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. QLRR bao gồm các bước: nhận dạng
rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa rủi ro và tài trợ rủi
ro”. Cụ thể các bước của QLRR:
•
Nhận dạng rủi ro: là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động
kinh doanh của ngân hàng, bao gồm các công việc: theo dõi, xem xét, nghiên
cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động của ngân hàng nhằm thống
kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những loại rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn
dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với ngân hàng, trên cơ
sở đó đề xuất những giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp.
•
Để nhận dạng rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi
ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện đối với ngân hàng bằng các phương pháp sau:
lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra, phân tích các báo
cáo tài chính, phương pháp lưu đồ, thanh tra hiện trường, phân tích các hợp
16
đồng, làm việc với các cơ quan Nhà nước, các ban, ngành có liên quan.
•
Phân tích rủi ro: là phải xác định được những nguyên nhân gây ra rủi ro nhằm
giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính, (6) hiệu quả kinh tế, (7) hợp lý
về thời gian, (8) phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng, (9) chuyển đẩy các
loại rủi ro không cho phép.
Căn cứ vào 9 nguyên tắc trên, mỗi ngân hàng xây dựng cho mình một chính
sách quản trị rủi ro riêng biệt, phải xây dựng được một hệ thống phòng chống từ xa,
đưa ra được giải pháp nhằm điều tiết các tác động xấu đến tình hình tài chính của
ngân hàng.
17
1.3.1.2. Chuẩn mực quản lý rủi ro đang được áp dụng
Năm 1988, Ủy Ban Basel về giám sát ngân hàng (The Basel Committee
on Banking Supervision) đã ban hành hệ thống đo lường vốn (The Basel Capital
Accord) gồm 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng (Basel I). Tuy nhiên, sau
một thời gian áp dụng, các nguyên tắc Basel I đã thể hiện một số nhược điểm. Cụ
thể là chỉ cung cấp một thước đo duy nhất về rủi ro vốn cho các ngân hàng đang
hoạt động trên quy mô quốc tế thông qua chỉ tiêu vốn tự có trên tài sản có điều
chỉnh theo rủi ro (CAR 8%) mà không xem xét đến tính chất rủi ro khác nhau của
những ngân hàng, của các khoản cho vay và của nhiều yếu tố khác. Đồng thời việc
áp dụng Basel I cũng chưa thể giúp các nước ngăn chặn khủng hoảng tài chính tiền
tệ.
Ủy ban Basel đã ban hành khung đo lường rủi ro (Basel II) vào tháng 01 năm
2001 và có hiệu lực vào cuối năm 2006, thay thế hiệp ước Basel I. Basel II gồm một
loạt các chuẩn mực giám sát nhằm hoàn thiện các kỹ thuật quản trị rủi ro và được
cấu trúc theo 3 cấp độ: (i) yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểu đối với rủi ro tín dụng và rủi ro
hoạt động, (ii) đưa ra các hướng dẫn liên quan đến quá trình giám sát, (iii) yêu cầu
các ngân hàng cung cấp thông tin cơ bản liên quan đến vốn, rủi ro để đảm bảo
khuyến khích các nguyên tắc của thị trường.
Hiệp ước Basel II nhấn mạnh đến phương pháp kiểm soát, đánh giá nội bộ
cơ sở đó sẽ tăng cường năng lực hoạt động và giảm thiểu rủi ro của các ngân hàng.
Hiện tại hệ thống NHTM Việt Nam đang áp dụng theo phương pháp đánh giá rủi ro
tín dụng dựa trên Hiệp ước Basel I, và mới chỉ thực hiện được một phần Basel I.
Hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN đang đặt mục tiêu sẽ vận dụng đầy đủ các
quy tắc giám sát của Basel I trước năm 2010. Do đó, các NHTM Việt Nam cần phải
một thời gian tương đối dài để có thể vận dụng những phương pháp đo lường rủi ro
của Basel II vào hoạt động giám sát rủi ro.
1.3.2. QLRRTD và tầm quan trọng của QLRRTD trong hoạt động NHTM
1.3.2.1. Sự cần thiết của QLRRTD
Khái niệm: QLRRTD là những biện pháp, cách thức mà ngân hàng trang bị
cho mình nhằm làm sao vừa tăng trưởng tín dụng để thu được lợi nhuận mong
muốn, vừa kiềm chế rủi ro ở mức độ mà ngân hàng có khả năng chịu đựng được.
QLRRTD luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các NHTM ngay cả đối với
19
những nền kinh tế phát triển ổn định và là điều kiện vô cùng cần thiết cho sự thành
công lâu dài của ngân hàng với những lý do sau:
a) Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, tiềm
ẩn nhiều rủi ro
Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật kinh tế đặc thù như quy luật giá trị,
quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh... ngày càng phát huy tác dụng. Đặc biệt
trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, những rủi ro trong sản xuất, kinh doanh
của nền kinh tế thị trường trực tiếp hay gián tiếp tác động đến hiệu quả kinh doanh
của các NHTM.
Các NHTM đứng giữa người có vốn và người cần vốn, thực hiện chức năng
huy động vốn và cho vay. Đây cũng là lĩnh vực hoạt động kinh doanh chủ yếu của
bất kỳ một ngân hàng nào. Trong hoạt động tín dụng, cho dù hệ số an toàn vốn có
đạt tới 8% (theo tiêu chuẩn quốc tế) thì so với tài sản có, vốn liếng của bản thân
được coi là hoạt động trung tâm của mọi ngân hàng.
1.3.2.2. Những nội dung cơ bản của QLRRTD tại các NHTM
a) Xác định mục tiêu của QLRR
Mục tiêu của QLRR là để tối đa hóa thu nhập trên cơ sở giữ mức độ rủi ro
hoặc tổn thất tín dụng ở mức ngân hàng cho là hợp lý, được kiểm soát và trong
phạm vi nguồn lực tài chính của ngân hàng.
Để thực hiện mục tiêu QLRRTD, việc quan trọng đầu tiên cần làm là: Ban
quản trị rủi ro của ngân hàng phải xác định hạn mức rủi ro cho từng giao dịch viên,
từng sản phẩm, từng bộ phận cụ thể. Những chỉ tiêu này là những tiêu chuẩn để đo
lường sự hoàn thành nhiệm vụ của các bộ phận nghiệp vụ cũng như đo lường sự
thành công của chương trình và tạo nền tảng cho các hoạt động QLRRTD.
b) Đánh giá rủi ro tín dụng
Là tất cả những hoạt động liên quan đến việc nhận diện, phân tích và đo lường
rủi ro tín dụng. Việc đánh giá rủi ro phải xác định được những rủi ro liên quan đến
các sản phẩm, dịch vụ hay các hoạt động liên quan đến việc cấp tín dụng của ngân
hàng.
•
Nhận diện rủi ro tín dụng: Bước đầu tiên để có một chương trình quản trị rủi ro
tín dụng hiệu quả là phải nhận biết và xác định được các loại rủi ro tín dụng mà
TCTD có thể gặp phải thông qua việc phân tích khách hàng, môi trường kinh
21
doanh, đặc thù các sản phẩm, dịch vụ và quy trình nghiệp vụ tín dụng. Một trong
những cách phân tích rủi ro cơ bản là phân tích từ nguyên nhân đến tổn thất theo
“chuỗi rủi ro” với 5 mắt xích như sau: Mối nguy cơ –> Môi trường rủi ro –> Sự
tương tác giữa mối nguy cơ và yếu tố môi trường –> Kết quả trực tiếp –> Hậu
quả lâu dài. Việc phân tích theo chuỗi rủi ro sẽ tạo điều kiện cho các nhà quản trị
c) Kiểm soát rủi ro tín dụng
Là những hoạt động tập trung vào việc né tránh, ngăn chặn, giảm bớt, nếu
không thì cũng là kiểm soát những rủi ro tín dụng. Cần thiết phải có các chốt kiểm
tra nằm trong các quy trình nghiệp vụ (ví dụ: hệ thống kiểm soát nội bộ) để kiềm
chế rủi ro tín dụng trong hạn mức cho phép, đồng thời có biện pháp để theo dõi các
22
trường hợp vượt hạn mức rủi ro đã quy định. Chi phí cho các thủ tục kiểm soát cao
có thể giảm thiểu rủi ro tối đa nhưng hiệu quả lại thấp, ngược lại chi phí cho các thủ
kiểm soát thấp có thể đem lại lợi nhuận cao nhưng rủi ro cũng có thể cao. Ban điều
hành phải tìm ra sự cân bằng tối ưu giữa chi phí cho các thủ tục kiểm soát và lợi ích
đem lại từ các thủ tục đó, từ đó lựa chọn các thủ tục kiểm soát rủi ro phù hợp. Các
phương pháp kiểm soát rủi ro gồm có:
•
Né tránh rủi ro: là né tránh những hoạt động, con người, tài sản làm phát sinh
tổn thất có thể có bởi không thừa nhận nó ngay từ đầu hoặc bởi loại bỏ nguyên
nhân dẫn tới tổn thất đã được thừa nhận. Biện pháp đầu tiên là chủ động né tránh
trước khi rủi ro xảy ra và biện pháp thứ hai là loại bỏ những nguyên nhân gây ra
rủi ro. Tuy nhiên, né tránh rủi ro thông qua việc loại bỏ những nguyên nhân gây
ra rủi ro không hoàn toàn phổ biến như chủ động né tránh trước khi rủi ro xảy ra.
•
Ngăn ngừa tổn thất: tập trung vào việc giảm bớt số lượng tổn thất xảy ra (giảm
tần suất) hay giảm mức thiện hại khi tổn thất xảy ra. Các hoạt động ngăn ngừa
rủi ro tìm cách can thiệp vào ba mắt xích đầu tiên của chuỗi rủi ro là: sự nguy
trong đó:
m là tổng số các khoản cấp tín dụng khác nhau trong danh mục tín dụng
Wj là tỷ trọng của khoản cấp tín dụng j trong tổng dư nợ
Wk là tỷ trọng của khoản cấp tín dụng k trong tổng dư nợ
σj.k là đồng phương sai giữa lợi nhuận của khoản cấp tín dụng j và k.
(Nguồn: GS.TS Lê Văn Tư (2005), Quản trị NHTM)
Việc đa dạng hóa danh mục cho vay của ngân hàng sẽ làm giảm tối đa rủi ro
do các khoản vay có mức độ rủi ro khác nhau theo năng lực, quy mô khách hàng;
theo ngành hàng, theo hình thức sở hữu... Ví dụ: ở Việt Nam, hoạt động của ngành
nông nghiệp có độ bất ổn cao hơn các ngành khác. Doanh nghiệp có nguyên liệu
đầu vào nhập khẩu chịu nhiều abiến động và dễ thua lỗ hơn các doanh nghiệp có
nguồn nguyên liệu đâu vào trong nước. Các doanh nghiệp nhỏ thường năng động,
thích ứng nhanh với thay đổi của môi trường kinh doanh hơn các doanh nghiệp có
quy mô lớn.
Các dự án cho vay dài hạn có nhiều rủi ro hơn các món vay ngắn hạn, cho vay
ngoại tệ sẽ gánh thêm rủi ro tỷ giá bên cạnh rủi ro tín dụng nếu trạng thái ngoại tệ
của ngân hàng không cân đối. Các khoản vay lớn hơn có chi phí quản lý rẻ hơn
nhưng rủi ro hơn các khoản vay nhỏ. Chính vì thế, các ngân hàng phải đa dạng hóa
danh mục cho vay của mình, không nên cho vay một, hai ngành hàng hoặc một vài
doanh nghiệp lớn. Việc đa dạng hóa cũng phải thực hiện đối với các thành phần
kinh tế, loại sản phẩm, thời hạn cho vay và phải phù hợp với cơ cấu nguồn vốn của
ngân hàng.
d) Tài trợ rủi ro tín dụng
Những hoạt động tài trợ rủi ro tín dụng cung cấp những phương thiện đền bù
24
tổn thất xảy ra, gây quỹ cho những chương trình khác để giảm bớt bất trắc và rủi ro,
hay để gia tăng những kết quả tích cực. Việc tài trợ cho những tổn thất tín dụng có