MỤC LỤC
Trang
1
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP
CƠ SỞ
1.1. Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
1.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở
1.3. Kinh nghiệm các địa phương trong nước về xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp cơ sở
7
7
20
31
Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP CƠ
SỞ Ở TỈNH HÀ GIANG
2.1. Thực trạng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của tỉnh Hà Giang hiện nay
2.2. Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở tỉnh
Hà Giang hiện nay
2.3. Đánh giá chung
36
36
47
BHXH
Bảo hiểm y tế
:
BHYT
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
:
CNH, HĐH
Hệ thống chính trị
:
HTCT
Kinh tế thị trường
:
KTTT
Quản lý kinh tế
:
Trang
43
44
44
45
45
46
49
50
52
53
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ là khâu then chốt, trọng yếu của công tác xây dựng hệ thống
chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Cán bộ là
cái gốc của mọi công việc", "công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ
tốt hay kém". Vì thế, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng tới yêu cầu xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức đồng bộ, toàn diện. Trong đó, xây dựng đội
ngũ cán bộ cấp cơ sở được coi là vấn đề mấu chốt, có vai trò rất quan trọng
trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã
hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính
trị, phường, thị trấn là một trong ba vấn đề cơ bản và bức xúc cần tập trung
giải quyết ở cơ sở xã, phường, thị trấn đã xác định: xây dựng đội ngũ cán
tài: "Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở tỉnh Hà Giang trong giai đoạn
hiện nay" làm luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề cán bộ nói chung, cán bộ cấp cơ sở nói riêng là nội dung được
nhiều nhà lãnh đạo, các cấp ủy đảng và các nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu. Trong số các bài viết đã đăng trên các tạp chí, các đề tài, công trình
nghiên cứu, các luận văn, luận án đã công bố, liên quan đến các vấn đề cán
bộ; nhiều công trình, bài viết đã có những đóng góp, những lý giải, những
kiến nghị hết sức sâu sắc, có giá trị thực tiễn cao như:
- Nhóm đề tài về những yêu cầu đối với cán bộ cơ sở: Học viện
Nguyễn Ái Quốc: "Mẫu hình và con đường hình thành người cán bộ lãnh đạo
chính trị chủ chốt cấp cơ sở", 1992; Tiến sĩ Phan Văn Tích (chủ biên): "Xác
định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở (xã, phường,
3
thị trấn)", Nhánh đề tài KT-XH.05-11-06, 1993; Bùi Đình Phong: "Tư tưởng
Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức cách mạng và sự thống nhất giữa đức và
tài", Tạp chí Lý luận chính trị, số 1/2003; Trần Văn Phòng: "Tiêu chuẩn đạo
đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay", Tạp chí Lý luận chính trị,
số 5/2003...
- Nhóm đề tài về nội dung, phương pháp, cách thức xây dựng đội
ngũ CB cấp cơ sở: Hồ Bá Thâm: "Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay", Luận án Tiến sĩ Triết học, 1994; Phó
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Sầm chủ biên: "Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán
bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới", Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Phạm Công Khâm: "Xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xã vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay",
Luận án tiến sĩ Triết học, 2000; Trần Duy Hưng: "Xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt của hệ thống chính trị cấp huyện ở thành phố Hà Nội trong giai
hội học, đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn.
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm cơ sở khoa học, quan điểm và quan niệm về
xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở hiện nay.
- Khảo sát đánh giá đúng thực trạng cả về số lượng và chất lượng đội
ngũ cán bộ cấp cơ sở của tỉnh Hà Giang hiện nay.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu, thiết thực, khả thi
góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở
của tỉnh Hà Giang trong giai đoạn tới.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo
cho các Huyện, Thành uỷ, ủy ban nhân dân huyện, thành phố, các đoàn thể
chính trị của các huyện, thành phố; cho đảng ủy, UBND, các đoàn thể chính
trị cấp xã, phường, thị trấn ở tỉnh Hà Giang trong công tác cán bộ, công tác
xây dựng Đảng và xây dựng HTCT; Luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu
6
tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập về công tác cán bộ,
công tác xây dựng Đảng và xây dựng HTCT cấp xã, phường, thị trấn ở các
Trung tâm bồi dưỡng Chính trị và Trường Chính trị tỉnh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ trong
hệ thống chính trị cấp cơ sở.
Chương 2: Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở tỉnh Hà Giang.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu xây dựng và phát triển
đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ở tỉnh Hà Giang.
8
Thứ hai, hệ thống chính trị ở cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ
biên chế được hưởng lương, sinh hoạt phí thấp nhất.
Theo các quy định hiện hành thì hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường,
thị trấn được biên chế và hưởng lương không quá 25 người. Các mối quan hệ
ở đây không phải là không phức tạp. Tính phức tạp ở đây được tác động bởi
các yếu tố gia tộc, dòng họ, tôn giáo, văn hoá, truyền thống…
Thứ ba, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp có đội ngũ cán bộ biến động
nhất, ít chuyên nghiệp nhất, trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị và
chuyên môn thấp nhất.
Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở biến động nhất là vì do cơ
chế họ không được biên chế cố định mà chủ yếu lệ thuộc vào lá phiếu bầu
chọn trong các cuộc bầu cử nên thời gian này làm cán bộ, thời gian sau làm
dân thường. Tâm lý không ổn định, chi phối lớn đến từng người ở từng thời
kỳ khác nhau. Dẫn đến việc họ ít được chuyên môn hoá, ít được đào tạo cơ
bản và họ cũng còn nặng tâm lý ngại học tập lý luận và chuyên môn nghiệp
vụ theo xu hướng tâm lý “quan nhất thời, dân vạn đại”. Phần lớn những người
được đào tạo cơ bản cả về lý luận và chuyên môn nghiệp vụ thì họ tìm cách
thoát ly khỏi xã, phường, thị trấn để lại hệ thống chính trị ở cơ sở với đội ngũ
cán bộ nổi bật đặc điểm này.
Thứ tư, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp trực tiếp nhất chịu sự chi phối
của nhân dân.
Mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước quán triệt, triển khai
đến dân đều qua cấp cơ sở. Vì vậy, nó là cấp gần dân nhất và thể hiện tính
nhân dân một cách rõ ràng, trực tiếp nhất. Song đây là cấp đầu tiên đối mặt
với những yêu cầu bức xúc của dân chúng với những mâu thuẫn, thậm chí cả
những xung đột nảy sinh trong đời sống dân cư.
Thứ năm, hệ thống chính trị ở cơ sở nhất là ở cơ sở nông thôn là cấp mà
thôn, có hưởng lương và phụ cấp sinh hoạt phí từ nguồn ngân sách nhà nước,
10
mỗi năm chi khoảng 2.400 tỷ đồng. 50% đảng viên và hơn 20% số tổ chức cơ
sở Đảng trong tổng số 2 triệu 60 vạn đảng viên của Đảng là đảng viên nông
dân và tổ chức Đảng ở nông thôn [49, tr.313-314].
Do đó, HTCT ở cơ sở, đặc biệt ở nông thôn có một vị trí và vai trò rất
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đối với việc đảm bảo và giữ
vững ổn định chính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Để giữ vững ổn định chính trị - xã hội phải đặc biệt chú trọng và chăm lo
sự ổn định và phát triển ở cơ sở, nhất là nông thôn. Rõ ràng, nếu để sự yếu
kém của HTCT ở cơ sở nông thôn xảy ra thì hệ quả tất yếu dẫn đến mất ổn
định chính trị - xã hội. Thực tế vừa qua ở nước ta cho thấy sự cần thiết, bức
xúc của việc củng cố, xây dựng và phát triển cơ sở đã đến lúc đặt ra phải có
giải pháp kiện toàn để tạo sự chuyển biến tích cực của HTCT ở cơ sở nông
thôn. Kinh nghiệm lịch sử và bài học của ông cha ta về việc an dân, trị quốc,
cũng như kinh nghiệm đấu tranh cách mạng qua các thời kỳ do Đảng lãnh đạo
đã cho thấy: việc giữ dân, giành dân có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự bền
vững của chế độ. Chính quyền trong lòng dân, cơ sở xã hội của chế độ là lòng
dân, là sức mạnh đồng thuận xã hội của dân chúng từ cơ sở. Do vậy để ổn
định chính trị và phát triển xã hội, nhất thiết phải sớm khắc phục những yếu
kém của HTCT ở cơ sở, phải xây dựng HTCT ở cơ sở trở thành HTCT thực
sự của dân, do dân và vì dân. Có một HTCT được lòng dân, được dân tin, dân
yêu mến, dân giúp đỡ, dân ủng hộ và dân bảo vệ từ cơ sở thì ổn định chính trị
sẽ được đảm bảo, mục tiêu của đổi mới sẽ được thực hiện thắng lợi.
Với một nước phổ biến là nông nghiệp, nông thôn và nông dân thì cần
phải lưu ý tới một triết lý được rút ra từ thực tiễn là: “Nông thôn là biển,
thành thị là thuyền, biển lặng - thuyền yên”. Phát triển toàn diện và chăm lo
chính trị như vậy sẽ thấy rõ được mối quan hệ máu thịt giữa hệ thống chính trị
với dân và giữa dân với hệ thống chính trị: Đảng của dân tộc, của nhân dân;
nhà nước của dân, do dân; các tổ chức chính trị- xã hội của dân và tất cả đều
12
vì dân. Như vậy, hệ thống chính trị của chúng ta đang xây dựng về thực chất
là của dân, do dân và vì dân. Từ cách tiếp cận như thế chúng ta sẽ thấy rõ vị trí,
vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn- một cấp (cấp cơ sở) của hệ
thống chính trị duy nhất thống nhất gần dân nhất, trực tiếp vì dân nhất. Vì vậy,
mọi hoạt động của các chủ thể quyền lực trong HTCT cơ sở nông thôn là nhằm
bảo đảm thực hành dân chủ, phản ánh ý chí nguyện vọng của nhân dân tại cơ sở.
Do vậy, mọi cơ chế, quy chế thực hiện dân chủ và hoạt động của HTCT cơ sở
nông thôn phải được dân biết, dân bàn, dân tham gia, dân kiểm tra. Những căn
cứ lý luận như vậy sẽ là công cụ nhận thức quan trọng để luận văn khảo sát hệ
thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Giang dưới dây.
1.1.2. Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
1.1.2.1. Quan niệm và đặc điểm đội ngũ cán bộ cấp cơ sở
* Quan niệm về cán bộ
Từ cán bộ xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta từ thời kỳ chống thực
dân Pháp (dưới sự lãnh đạo của Đảng). Cho đến nay, từ cán bộ đã được dùng
với rất nhiều nghĩa khác nhau:
- Trong tổ chức đảng và đoàn thể, từ cán bộ được dùng với hai nghĩa:
một là, để chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở
đến Trung ương (cán bộ lãnh đạo); hai là, những người làm công tác chuyên
trách có hưởng lương trong các tổ chức đảng và đoàn thể.
- Trong hệ thống nhà nước, từ cán bộ được hiểu cơ bản là trùng với từ
công chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước thuộc ngành
hành chính, tư pháp, kinh tế, văn hoá và xã hội. Đồng thời, cán bộ cũng được
hiểu là những người có chức vụ chỉ huy, phụ trách, lãnh đạo (trưởng, phó
Từ sự phân tích trên đây, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có thể quan niệm như sau:
Đó là những người đứng đầu quan trọng nhất trong hệ thống bộ máy đảng,
chính quyền, lực lượng vũ trang, mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã,
có tác dụng chính, chi phối việc chấp hành chủ trương, nghị quyết của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước thông qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trên địa bàn nông thôn mà họ phụ trách [31, tr.34].
14
Theo quan niệm trên, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở hiện nay bao gồm: Bí thư
và Phó Bí thư Đảng uỷ xã; Chủ tịch và phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã;
Chủ tịch và phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã; Trưởng công an xã; Chỉ huy
trưởng Ban chỉ huy quân sự xã; Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã; Bí thư Đoàn
Thanh niên xã; Chủ tịch Hội nông dân xã; Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ xã;
Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã.
Theo Nghị định số: 92/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính
Phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, trong 13 chức danh chủ chốt
nêu trên có 11 chức danh thuộc cán bộ chuyên trách cấp xã, riêng 2 chức danh
Trưởng Công an và Chỉ huy trưởng Quân sự thuộc công chức cấp xã nhưng
do có vai trò quan trọng, thường được cơ cấu Thường vụ đảng ủy cơ sở và
thành viên ủy ban nhân dân xã. Do vậy, xét về mặt Đảng thì họ là người giữ
vai trò lãnh đạo chủ chốt.
Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở có những đặc điểm sau:
- Phần lớn trưởng thành từ phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ
sở. Bởi vậy, họ rất am hiểu đặc điểm tình hình chung của cơ sở, luôn có
những ý kiến phản ánh tình hình thực tế về đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
của xã nói chung, để cùng với cấp uỷ, chính quyền địa phương đề ra chương
trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở.
- Hầu hết đội ngũ cán bộ đều xuất thân từ nông dân, với đặc tính siêng
năng, cần cù trong lao động; điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình còn khó
hoá sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về mọi mặt của đời sống
kinh tế - xã hội ở cơ sở. Bởi vì, cơ sở là nơi diễn ra mọi hoạt động và cuộc
sống của dân, nơi chính quyền trong lòng dân, cán bộ cơ sở nói chung và cán
bộ cấp cơ sở nói riêng sống và làm việc hàng ngày cùng với dân, có điều kiện
gần gũi trực tiếp và thường xuyên với dân. Vì lẽ đó, cán bộ cấp cơ sở hơn ai
hết là người hiểu biết rõ nhất tình hình đang diễn ra tại cơ sở, nắm được nhu
cầu, nguyện vọng của dân, những đòi hỏi bức thiết của người dân ở cơ sở
đang đặt ra.
16
- Đội ngũ cán bộ cấp cơ sở giữ vai trò quyết định trong việc quán triệt, tổ
chức thực hiện mọi quyết định của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ cùng cấp và mọi
chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên, cũng như mọi
chương trình, kế hoạch của chính quyền xã. Mắt khâu đầu tiên trong sự lĩnh
hội mọi quyết định nói trên, phải nói đến đội ngũ này và thông qua đội ngũ
này, mọi quyết định của cấp trên và cùng cấp sẽ đến được với người dân. Xuất
phát từ đặc điểm tâm lý của người dân tộc sinh sống tại các địa phương miền
núi là, kinh tế - xã hội phát triển chậm, trình độ dân trí còn thấp, khả năng am
hiểu tiếng phổ thông (tiếng Việt) rất hạn chế, cá biệt có những Bản, làng
người dân tộc H'mông, Dao... không hiểu và không nói được tiếng Kinh. Ở
những nơi đó muốn đưa mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào, ngoài đội ngũ cán bộ này ra, khó
có thể đưa đến một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.
1.1.3. Yêu cầu và tiêu chuẩn đối với đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trong
giai đoạn hiện nay
1.1.3.1. Yêu cầu chung đối với đội ngũ cán bộ cấp cơ sở
- Về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức: Có tinh thần yêu nước sâu
sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có năng lực tổ
chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách
chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của điều lệ của tổ chức đoàn
thể, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Tiêu chuẩn cụ thể:
- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: không quá 60 tuổi đối với
nam, không quá 55 tuổi đối với nữ khi tham gia giữ chức vụ lần đầu.
- Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh: không quá 30 tuổi khi
tham gia giữ chức vụ công tác.
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân: không quá 55 tuổi
đối với nam, không quá 50 tuổi đối với nữ khi tham gia giữ chức vụ lần đầu.
18
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh: không quá 65 tuổi khi tham gia giữ chức vụ.
Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên...
Lý luận chính trị: Có trình độ sơ cấp và tương đương trở lên.
Chuyên môn, nghiệp vụ: đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ lĩnh vực công tác mà cán bộ đang đảm nhiệm tương đương trình độ
trung cấp trở lên.
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân: là cán bộ chuyên trách của
Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ
chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp xã, bảo đảm
phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
xã, phường, thị trấn.
Tiêu chuẩn đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân:
Tuổi đời: Từ 27 tuổi trở lên, tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít
nhất hai nhiệm kỳ.
Học vấn: có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông.
Lý luận chính trị: có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên.
Chuyên môn, nghiệp vụ: có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Đã
qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế,
- Tiêu chuẩn của công chức Chỉ huy trưởng Quân sự
Độ tuổi: không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
Học vấn: tốt nghiệp trung học phổ thông
Lý luận chính trị: sau khi được tuyển dụng phải có trình độ trung cấp lý
luận chính trị trở lên
Chuyên môn, nghiệp vụ: phải đạt trình độ tương đương trung cấp về
quân sự của sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên. Sau khi được tuyển dụng phải
qua bồi dưỡng quản lý nhà nước về quốc phòng cấp xã. Sử dụng thành thạo
trang, thiết bị phục vụ công tác chuyên môn.
Ngoài những tiêu chuẩn cụ thể nêu trên, những cán bộ, công chức cấp xã
công tác tại các nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống phải biết ít nhất
tiếng của một dân tộc thiểu số.
20
1.2. XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP CƠ SỞ
1.2.1. Quan niệm xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở
Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở là toàn bộ hoạt động của chủ thể có
đủ thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý, nhằm làm nên, tạo ra một đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có lập trường chính trị
vững vàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đồng thời còn
bao hàm cả việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở hiện có, để đội
ngũ này thích ứng với cơ chế mới, yêu cầu mới của nhiệm vụ chính trị đang
đặt ra.
Chủ thể xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở bao gồm: Tỉnh uỷ, những
người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp tỉnh; các Huyện uỷ,
Thị uỷ, trong đó trước hết là Ban Thường vụ Huyện uỷ, Thị uỷ, và những
người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp huyện; tổ chức cơ sở
đảng xã, phường, thị trấn
- Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở đồng thời với việc quán triệt và
thực hiện nghiêm túc các mục tiêu, quan điểm trong công tác cán bộ ; Đội ngũ
phải được xây dựng xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của cơ sở; phải
thực sự có chất lượng chứ không phải là sự chắp vá đơn thuần theo cơ cấu,
phải được tính toán, cân nhắc trong quá trình làm quy hoạch, tìm nguồn quy
hoạch, đưa vào quy hoạch, theo dõi giúp đỡ trong quá trình đào tạo, bồi
dưỡng và rèn luyện trong thực tiễn công tác. Trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ này phải đào tạo có bài bản, qua trường lớp, chú ý đào tạo cả
về phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực lãnh đạo, quản lý, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và khả năng thích ứng với cơ chế mới, đáp ứng với
yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của thời kỳ mới.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở gắn với việc nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ. Đội ngũ cán bộ đó phải đáp ứng những tiêu chuẩn chung của
cán bộ, đồng thời có những quy định, những tiêu chuẩn đặc thù phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh ở từng địa phương, đặc biệt là địa phương miền núi.
22
Việc xây dựng đó nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý với tỷ lệ người dân tộc đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị. Nội dung, phương pháp, cách làm phải dân
chủ công khai, phải đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc trong công tác
cán bộ, khắc phục tư duy theo nhiệm kỳ, phải được làm thường xuyên, liên
tục. Đội ngũ cán bộ cấp cơ sở khi được đưa vào quy hoạch phải được đào tạo
toàn diện cả về phẩm chất đạo đức và năng lực, trình độ mọi mặt, cả chuyên
môn nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ, tin học, v.v.. ; có như vậy công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở sẽ không lạc hậu so với thực tiễn đòi hỏi.
1.2.2. Các chủ thể tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở
1.2.2.1. Vai trò, trách nhiệm của các đảng ủy và đảng bộ xã
Là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở, đảng bộ xã, phường, thị trấn, đặc
biệt là cấp ủy, phải làm cho cán bộ, nắm vững nhiệm vụ để từ đó nâng cao