Sự lãnh đạo của đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện hương khê trong giai đoạn hiện nay - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------

TRẦN QUỐC BẢO

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ TRẤN ĐỐI
VỚI CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ Ở HUYỆN HƢƠNG KHÊ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành Chính trị học

Hà Nội – 2013

i


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------

TRẦN QUỐC BẢO

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ XÃ, THỊ TRẤN ĐỐI VỚI
CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ Ở HUYỆN HƢƠNG KHÊ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01


7. Kết cấu của luận văn ......................................................................................8
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Đảng lãnh đạo Nhà nƣớc;
chính quyền cơ sở .............................................................................................9
1.1. Khái niệm lãnh đạo, Đảng lãnh đạo và cơ sở lý luận về
Đảng lãnh đạo Nhà nước ...................................................................................9
1.1.1. Khái niệm lãnh đạo, Đảng lãnh đạo ........................................................... 9
1.1.2. Quan điểm Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản
Việt Nam về Đảng lãnh đạo Nhà nƣớc ...............................................................11
1.2. Về sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ........23
1.2.1. Vị trí, vai trò của Đảng bộ trong hệ thống chính trị ở địa phƣơng .....23
1.2.2. Chính quyền địa phƣơng............................................................................27
1.2.3. Nội dung và phƣơng thức lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn
đối với chính quyền cơ sở .....................................................................................30
Chƣơng 2: Đặc điểm và thực trạng sự lãnh đạo của
Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Hƣơng Khê
từ năm 2000 đến nay ......................................................................................34
2.1. Tình hình huyện miền núi Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh ..............................34
2.1.1. Điều kiện kinh tế-xã hội huyện Hương Khê ..........................................34
2.1.2. Khái quát về cấp uỷ và chính quyền các xã, thị trấn ở huyện
Hương Khê - Hà Tĩnh hiện nay .......................................................................35
iv


2.2. Những thành tựu Đảng bộ xã, thị trấn đối lãnh đa ̣o chiń h quyề n cơ sở.. .37
2.2.1. Về nội dung lãnh đạo .............................................................................37
2.2.2. Về phương thức lãnh đạo .....................................................................45
2.2.3. Thực hiện mô hình điể m Bí thư đồng thời là Chủ tịch ..........................50
2.3. Những hạn chế sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn
đối với chính quyền cơ sở ................................................................................52
2.3.1. Về nội dung lãnh đạo .............................................................................52

Hội đồng nhân dân

LLSX:

Lƣ̣c lƣơ ̣ng sản xuấ t

UBKT:

Ủy ban kiểm tra

UBND:

Ủy ban nhân dân

vi


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam
là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng lãnh đạo hệ thống
chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy”[19,tr.56]. Trong lịch sử vẻ
vang của mình, Đảng luôn giữ vai trò lãnh đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng và
xã hội Việt Nam.
Kể từ ngày thành lập Đảng đến nay, với lý tưởng và mục tiêu cao đẹp,
bằng trí tuệ, tài năng và phẩm chất chính trị của mình, Đảng cộng sản Việt Nam
đã lãnh đạo toàn dân tộc Việt Nam giành được nhiều thắng lợi. Đó là, thắng lợi
của cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; là chiến thắng oanh liệt
của các cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược, hoàn thành cách mạng dân

động sát với tình hình đặc điểm của địa phương, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ
đạo, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực: chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị
ở địa phương. Trong lĩnh vực xây dựng và phát triển chính quyền, các Đảng
bộ đã từng bước nhận thức đúng vị trí, vai trò, quyền hạn của mình trong
quan hệ đối với chính quyền; xác định những nhiệm vụ chính trị ngắn hạn và
dài hạn để định hướng hoạt động; có những chủ trương, biện pháp cụ thể,
củng cố bộ máy tổ chức, bố trí cán bộ có năng lực công tác chính quyền;
thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật và thiết lập các
quan hệ công tác ngày càng hợp lý hơn.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, vẫn còn những hạn chế trong quá
trình thực hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở.
Nhiều khâu trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ đối với chính quyền còn
trong tình trạng chồng chéo, lấn sân nhau, thiếu phân định rõ ràng; Báo cáo
chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2005 - 2010 đã đánh giá về
1

Chính phủ ban hành Nghị định số 27/NĐ-CP, ngày 4/8/2000 nội dung “chuyển 5 xã của Huyện Hương

Khê về Huyện Vũ Quang”.

2


những hạn chế, khuyết điểm “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ở một số tổ
chức cơ sở Đảng còn hạn chế. Kiến thức, kinh nghiệm lãnh đạo quản lý, năng
lực chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện của cán bộ trong bộ máy chính
quyền còn nhiều hạn chế, nhưng các cấp uỷ Đảng chưa có giải pháp kịp thời,
hữu hiệu để khắc phục những vấn đề trên”[1,tr.9]; điều đó đã hạn chế, cản trở
việc giải quyết các công việc, kìm hãm sự phát triển kinh tế- xã hội.

việc sai phạm, chỉ vì lợi ích cục bộ địa phương.
Thứ tư: Sự lãnh đạo của cấp uỷ bị từ chối
Có thể do những động cơ khác nhau hoặc sự xung đột trong phong cách,
tính cách của các nhân vật chủ chốt cấp uỷ và chính quyền, chủ thể lãnh đạo
chính quyền (chủ yếu là Uỷ ban nhân dân) muốn khước từ, bỏ qua sự lãnh đạo
của cấp uỷ.
Trong những vấn đề nêu trên, tình trạng chồng lấn về quyền lực được
biểu hiện dưới dạng lấn sân, bao biện, làm thay và buông lỏng là hiện tượng có
tính phổ biến; nhiều khi khắc phục khuyết điểm này lại rơi vào khuyết điểm kia
một cách không tự giác.
Những điều nêu trên đã hạn chế không nhỏ đến vai trò lãnh đạo của
Đảng, và vì thế, ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý của chính quyền các xã, thị
trấn và thành tựu kinh tế - xã hội của địa phương. Trong điều kiện hiện nay,
Việt Nam đang thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
gia nhập ngày càng sâu hơn nền kinh tế quốc tế; công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Để phát huy ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm, yếu kém về sự lãnh
đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cùng cấp ở huyện Hương
Khê, vấn đề rất cần thiết đặt ra là, nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và
tìm ra những giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với
chính quyền cùng cấp. Và bản thân hiện nay đang công tác tại Ban Tuyên giáo Cơ quan Huyện uỷ Hương Khê, nhận thấy rằng, việc nghiên cứu sự lãnh đạo
của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cùng cấp ở huyện Hương Khê, là
một đòi hỏi khách quan, không những có ý nghĩa cho thực tiễn, mà còn có giá
4


trị về mặt lý luận, vừa phục vụ nhiệm vụ chính trị trước mắt, vừa đặt cơ sở cho
việc nghiên cứu khoa học sau này, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Sự lãnh đạo của
Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện Hương Khê trong giai

- Sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Nghệ An trong cao trào cách mạng 1930 -1931,
Trần Văn Hằng (2010), Tạp chí Lịch sử Đảng, số chuyên đề 8 (237) tháng 8.
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng đối với bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân góp phần nâng cao văn hoá dân chủ và văn hoá pháp luật cho
nhân dân ở nước ta hiện nay, Tống Đức Thảo (2011), tạp chí Báo cáo viên số 1.
- Xây dựng và phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng
bào dân tộc thiểu số, Trần Đức Quang (2012), , Tạp chí Cộng sản số 64 tháng 4.
- Bí thư đảng uỷ đồng thời Chủ tịch UBND xã ở Hà Tĩnh từ “Điểm” đến
“Diện”, Thành Châu – Văn Học (2010), Tạp chí Thông Tin Tư Tưởng - Ban
chấp hành Đảng bộ Hà Tĩnh, số 1.
- Xây dựng Nhà nước thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,
Nguyễn Phú Trọng (2011), Tạp chí Cộng sản, số 827.
- Quan điểm của Đảng về phòng, chống suy thoái phẩm chất chính trị,
đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên thời kỳ mới, Đỗ Xuân Tuất (2012), ,
tạp chí Lịch sử Đảng, số 2 (225).
Các công trình trên đây đã đề cập được những chủ đề lớn, ở những góc
độ và mục đích khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học
nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ
sở ở huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay. Luận văn này
cố gắng kế thừa những giá trị quý báu đã có, tiếp tục đi sâu nghiên cứu những
vấn đề cần được làm sáng tỏ trong điều kiện hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích
Phân tích thực trạng về sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn, đối với chính
quyền cơ sở; chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nêu các giải pháp đổi mới, tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cơ sở ở huyện
miền núi Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, qua đó, tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh
đạo của Đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền cùng cấp.
6




6. Đóng góp của luận văn
+ Hệ thống hoá, phân tích các khái niệm lãnh đạo, đảng lãnh đạo nhà
nước; vị trí, vai trò và cơ cấu tổ chức của cấp uỷ, chính quyền cơ sở; phản ánh
và phân tích thực trạng sự lãnh đạo của đảng bộ xã, thị trấn đối với chính quyền
cơ sở;
+ Góp phần luận giải rõ thêm lý luận về sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, thị
trấn đối với chính quyền cơ sở;
+ Nêu quan điểm mới về nội dung, mô hình lãnh đạo toàn diện, xây dựng
uy tín lãnh đạo, khắc phục tập trung quyền lực tuyệt đối và dự báo các xu
hướng lớn cần tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị ở địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm 03 chương, 08 tiết.

8


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢNG LÃNH ĐẠO NHÀ NƢỚC
VÀ CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ
1.1. Khái niệm lãnh đạo, Đảng lãnh đạo và cơ sở lý luận về Đảng
lãnh đạo Nhà nƣớc
1.1.1. Khái niệm lãnh đạo, Đảng lãnh đạo
Trong các quan hệ xã hội, thì quan hệ lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo là
một trong những quan hệ chính yếu trong lịch sử phát triển của xã hội loài
người. Cho nên, vấn đề lãnh đạo và quản lý đã trở thành đối tượng nghiên
cứu và bàn luận của các nhà tư tưởng, các nhà chính trị. Ở Việt Nam, mãi tới
những năm gần đây, mới xuất hiện những đầu sách, chuyên luận bàn về lãnh

niệm đảng lãnh đạo. Đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về đảng nói
chung và Đảng cộng sản Việt Nam nói riêng, đã lý giải nhiều về đảng lãnh đạo.
Sự tương đồng cao về khái niệm đảng lãnh đạo thể hiện ở chỗ: tính định hướng
chính trị, tổ chức lực lượng, thuyết phục, truyền bá các quan điểm tư tưởng
nhằm lôi kéo các tầng lớp khác trong xã hội đi theo và thực hiện những mục
tiêu chính trị của đảng. Còn khi nói Đảng cộng sản lãnh đạo là nói Đảng đưa ra
những định hướng về quan điểm, nguyên tắc xây dựng đất nước theo mục tiêu
của CNXH; lựa chọn các nội dung chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và vận
động thuyết phục, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hiện cho bằng được các
mục tiêu ấy.
Một số tác giả còn phân tích khái niệm “Đảng cầm quyền” để phân biệt
với khái niệm “Đảng lãnh đạo”. Theo các nhà chính trị học, nhà tư tưởng ở
phương tây, thì thuật ngữ “Đảng cầm quyền”, “Đảng chấp chính”, “Đảng nắm
chính quyền” đã được dùng từ lâu ở các nước phương tây để chỉ rõ vai trò, vị
thế và trách nhiệm của Đảng khi đã có chính quyền; phân biệt Đảng nắm chính
quyền với những Đảng không nắm chính quyền, chưa dành được chính quyền
hoặc vị trí đối lập. Dù diễn đạt ngôn từ hay chỉ ra các đặc điểm khác nhau trong
chi tiết, nhưng hầu hết các ý kiến đều thể hiện quan điểm chung đó là: Đảng
cầm quyền có nghĩa là Đảng lãnh đạo chính quyền, chi phối chính quyền, làm
10


cho mọi hoạt động của chính quyền thể hiện và thực hiện tư tưởng, đường lối
của Đảng đó, phù hợp với lập trường và phục vụ cho lợi ích của giai cấp, tầng
lớp mà Đảng đó đại diện. Xét về bản chất, Đảng cầm quyền tức là Đảng lãnh
đạo trong điều kiện có chính quyền. Đảng cầm quyền là Đảng đã chi phối, dẫn
dắt chính quyền, sử dụng quyền lực nhà nước trên thực tế để thực hiện mục tiêu
chính trị của Đảng.
1.1.2. Quan điểm Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
sản Việt Nam về đảng lãnh đạo nhà nƣớc

quyền, phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân
tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản
hiểu”[14,tr.623-624].
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác về Đảng, Lênin đã chỉ ra, chỉ
có một Đảng chân chính mới bảo đảm duy nhất cho thắng lợi của chủ nghĩa xã
hội. Đảng cộng sản tác động đến mọi quá trình xã hội, trước hết là thông qua hệ
thống chính trị của chủ nghĩa xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng là ở chỗ nó
lãnh đạo nhà nước, các tổ chức xã hội, thông qua các tổ chức này, lãnh đạo toàn
bộ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lênin chỉ ra rằng: “Trong nước cộng
hoà chúng ta, không có một vấn đề chính trị hay tổ chức quan trọng nào do một
cơ quan Nhà nước giải quyết mà lại không có chỉ thị của Ban chấp hành trung
ương Đảng”[43,tr.38]. Tuy nhiên, sau khi lãnh đạo chính quyền, Lênin cũng đã
phát hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước có dấu hiệu không cụ thể,
chồng chéo. Lênin đã yêu cầu: cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những
nhiệm vụ của Đảng (và của Ban chấp hành Trung ương của nó) với nhiệm vụ
chính quyền Xô Viết và các cơ quan Xô-Viết, còn về Đảng thì dành quyền lãnh
đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không
can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt
như hiện nay.
Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn dành
sự quan tâm đến việc xây dựng tổ chức Đảng. Người xác định: “Trước hết phải
có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên
lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững, cách mạng
mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới
12


chạy”[26,tr.267-268]. Người đã tập trung xây dựng và rèn luyện những người
ưu tú từ các giai cấp, tầng lớp lao động để hình thành một Đảng cách mạng
chân chính. Người cũng yêu cầu Chính phủ (suy rộng ra là cơ quan nhà nước

mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Vấn đề này được thể
hiện qua các giai đoạn lịch sử như sau:
Giai đoạn 1945 - 1946:
Từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam (tháng 10 -1930 đổi tên Đảng
cộng sản Đông Dương) đã chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng để đi
tới chủ nghĩa cộng sản. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành
thắng lợi cuộc cách mạng Tháng tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà ngày 2-9-1945, đã tạo ra thế và lực mới cho cách mạng Việt
Nam. Tuy vậy, do hoàn cảnh lịch sử cụ thể yêu cầu về lãnh đạo và quản lý khác
nhau nên quan hệ giữa Nhà nước và Đảng cũng có sự khác nhau. Từ khi Nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, lãnh đạo và quản lý vốn có cùng một
nguồn gốc - đều được bắt nguồn từ sứ mệnh lịch sử của Đảng và do Đảng lãnh
đạo. Khi chưa có chính quyền, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đứng lên giành
chính quyền. Khi đã có chính quyền, Đảng trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo
Nhà nước. Nhưng tại thời điểm này, các thế lực thù địch trong và ngoài nước
cấu kết với nhau tìm mọi cách xoá bỏ một nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng
hoà vừa mới được lập nên, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
Trong hoàn cảnh khó khăn đó, Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh xác định phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, để
lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn và để có thời giờ cũng cố dần lực lượng
của chính quyền nhân dân, cũng cố Mặt trận dân tộc thống nhất. Đảng phải
quyết đoán mau chóng, phải dùng phương pháp là, tuyên bố giải tán Đảng,
mà thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật, để lãnh đạo kín đáo và hiệu
quả hơn. Có thể nói sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước giai đoạn này là
sự lãnh đạo hợp pháp nhưng không công khai. Hợp pháp vì sự tồn tại của
Đảng được Hiến pháp quy định. Không công khai là vì trong điều kiện một
chính quyền gồm nhiều thế lực đối lập, đối kháng thì không công khai sẽ
hiệu quả hơn.
14




quả quản lý, điều hành của Nhà nước phụ thuộc trực tiếp vào hiệu lực, hiệu quả
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng. Trong thời kỳ này vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng
các chức năng lãnh đạo và quản lý trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước.
Giai đoạn 1975 -1986:
Trong giai đoạn này, cơ chế tập trung và bao cấp tồn tại trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, trong đó có mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. Sự
lẫn lộn về chức năng và nhiệm vụ, sự chống chéo về tổ chức và hoạt động của
Đảng và Nhà nước ngày càng lớn. Trách nhiệm của tổ chức Đảng, của cấp uỷ
Đảng trong quan hệ với Nhà nước thiếu rõ ràng và cụ thể. Tình trạng này làm
suy yếu cả sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Cơ chế lãnh đạo
tập trung, bao cấp tất yếu sinh ra cơ chế quản lý tập trung. Đảng trực tiếp làm
công việc của Nhà nước, không phân biệt rõ đâu là trách nhiệm của các cơ quan
Nhà nước, đâu là trách nhiệm của các tổ chức cơ sở Đảng. Quan hệ giữa Đảng
và Nhà nước như vậy đã ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển đất nước
những năm trước đổi mới.
Giai đoạn 1986 đến nay:
Ở giai đoạn này, sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng đối với Nhà nước được đổi
mới qua các kỳ đại hội, chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý
Nhà nước ngày càng phân định rõ hơn, điều này được thể hiện cụ thể như sau:
Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã quyết định định hướng đổi mới kinh tế
- xã hội của đất nước, trong đó có nội dung quan trọng là đổi mới nội dung và
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; xác định rõ hơn chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước trong điều kiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế

và cơ chế

quản lý. Đó là các nhiệm vụ: Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng
thành pháp luật, chính sách cụ thể; xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội và cụ

pháp luật được tôn trọng, quyền làm chủ của nhân dân được phát
huy”[15,tr.56]. Đảng lãnh đạo Nhà nước chứ không làm thay Nhà nước. Cần
phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và
Nhà nước. Nhà nước thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng.
Thực hiện quan điểm chỉ đạo đó, ngày 15 tháng 4 năm 1992, Quốc hội
khoá VIII đã thông qua Hiến pháp sữa đổi, quy định những vấn đề cơ bản nhất
17


về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính
phủ, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương VIII (1/1995), khoá VII, chủ trương
tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính. “Tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội
bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ
nghĩa”[16,tr.78]. Nghị quyết Trung ương 3 (6/1997), khoá VIII, đã khẳng định
những thành tựu quan trọng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và
những đổi mới về nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy
trách nhiệm, tính chủ động của các cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên, trước thực
tế là tổ chức bộ máy nhà nước còn nặng nề và chưa thực sự trong sạch, vững
mạnh; sự lãnh đạo của Đảng chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới tổ
chức, hoạt động của Nhà nước, nghị quyết đã đề ra yêu cầu là cần nắm vững
và thực hiện tốt 3 nội dung trọng yếu về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước là:
- Lãnh đạo các cơ quan nhà nước kịp thời thể chế hoá đường lối của
Đảng thành pháp luật.
- Tăng cường quản lý cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước; xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh, thực sự vừa là người
lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

các đoàn thể nhân dân. Phải xây dựng hệ thống các quy chế về sự lãnh đạo
của Đảng ở các ngành, các cấp. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
và pháp luật, không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống
chính trị”[18,tr.67].
Hội nghị Trung ương 5, khoá X khẳng định: Phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị là cách thức, phương pháp Đảng
tác động lên hoạt động của hệ thống đó nhằm đạt mục tiêu đề ra. Trong điều
kiện ở nước ta một đảng duy nhất cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam,
phương thức lãnh đạo của Đảng tác động trực tiếp đến hoạt động của tất cả các
tổ chức trong hệ thống chính trị. Phương thức lãnh đạo tốt, sẽ tạo động lực cho
19


Trích đoạn Nhóm giải pháp đổi mới nội dung lãnh đạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status