Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo từ 1991 đến 1996
Bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi có
nhiều khó khăn, thách thức mới; thực trạng kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển chậm
và chưa thật ổn định, mất cân đối về nhiều mặt, sản xuất chưa có tích lũy lại phải chịu
sức ép lớn về dân số còn tăng cao khoảng 2,04%. Đời sống nhân dân, nhất là đối
tượng hưởng chính sách xã hội gặp nhiều khó khăn. Lực lượng lao động dôi thừa,
chưa có việc làm ổn định hàng năm khá lớn (hơn 4% dân số). Sự nghiệp văn hóa, giáo
dục còn nhiều mặt chưa ổn định, cần được quan tâm đầu tư phát triển hơn nữa. Đạo
đức, lối sống có nguy cơ bị xói mòn. Các tệ nạn xã hội ngày càng phát triển. Tệ tham
nhũng, tiêu cực, vi phạm dân chủ, làm mất lòng dân đang trở thành những vấn đề nổi
cộm của các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh. Kỷ cương, phép nước chưa được
nghiêm minh. An ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp. “Đảng
bộ đông nhưng chưa mạnh. Số đảng viên trung bình còn nhiều... công tác tổ chức
chậm đổi mới, chưa có quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng, thay thế; chưa có chính sách
thu hút được số chuyên gia giỏi” [20, tr.23].
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do sự tác động bất lợi của tình hình
quốc tế, nhất là sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước
Đông Âu; tình hình chung của cả nước và những khó khăn khách quan của tỉnh.
Nhưng chủ yếu và trực tiếp là do năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng,
quản lý nhà nước của các cấp các ngành chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ
của sự nghiệp đổi mới toàn diện. Vì vậy, quá trình vận dụng, cụ thể hóa đường lối
đổi mới của Đảng vào điều kiện cụ thể của tỉnh và tổ chức thực hiện để đưa Nghị
quyết vào cuộc sống còn những bất cập. Thậm chí, có nơi có lúc, sự yếu kém của
một số tổ chức cơ sở đảng, sự thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ đảng
viên đã làm giảm nhiệt tình cách mạng và lòng tin của quần chúng nhân dân đối
với Đảng ta nói chung và Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nói riêng.
Về chủ quan, tỉnh Quảng Ngãi có nhiều thuận lợi cơ bản. Tuy chưa được hoàn
thiện, nhưng ủửờng lối lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh luôn thể hiện tinh thần và quyết tâm
cao của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân vì sự nghiệp đổi mới đất nước. Những
thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và sự hổ trợ của ngân sách nhà nước. Tăng cường giáo dục chính trị đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật và pháp luật cho học sinh. Xây
dựng trường thành các trung tâm văn hóa có nền nếp kỷ cương, văn minh, lành mạnh.
Chăm sóc sức khỏe học sinh và đời sống của các thầy cô giáo. Coi trọng việc nâng cao
trình độ giáo viên. Chấn chỉnh việc dạy thêm để có chất lượng, ít tốn kém và có thời
gian cho học sinh nghỉ ngơi, tham gia các hoạt động xã hội.
Tăng cường chỉ đạo và đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ; chú
trọng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, gắn với phục vụ thiết
thực các chương trình kinh tế - xã hội của tỉnh; đặc biệt là thực hiện mục tiêu phát
triển nông nghiệp toàn diện, giải quyết việc làm cho người lao động. Tạo điều kiện
tốt hơn nữa cho cán bộ khoa học làm việc có hiệu quả và nâng cao trình độ chuyên
môn. “Coi đây là sự đầu tư cơ bản phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Mục
tiêu hướng mạnh vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”
[10, tr.28].
Quán triệt Nghị quyết trên của Đảng bộ, với quan điểm GD-ĐT phải đi trước
một bước, trong 3 năm (1991-1993), ngành GD-ĐT tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được
một số kết quả rất đáng trân trọng.
Biểu 1.4: Kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học (1991-1993)
Năm
Số người ra lớp
xóa mù chữ
Số trẻ em ra lớp
phổ cập
1991
1992
1993
5.747
Hệ thống trường học, lớp học đã được sắp xếp hợp lý hơn: Tách cấp I và cấp
II hình thành bậc tiểu học, định hình các trường cấp II, phát triển mạng lưới trường
PTTH mới (có từ 6-12 lớp). Đầu tư xây dựng trường trọng điểm chất lượng cao
(trường chuyên cấp II, III Lê Khiết) của tỉnh, hình thành hệ thống trường chuyên,
lớp chọn nhằm đào tạo những học sinh giỏi, phát hiện, bồi dưỡng nhân tài cho địa
phương và cho đất nước. Củng cố các trường dân tộc nội trú, các trường trung học
chuyên nghiệp, dạy nghề, các Trung tâm kỹ thuật hướng nghiệp dạy nghề, trung
tâm ngoại ngữ, tin học, các cơ sở dạy nghề tư nhân được khuyến khích phát triển...
tạo kiều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia học tập với nhiều loại hình đào tạo
khác nhau. Vì thế hàng năm đã thu hút gần 10.000 học viên, trong đó có khoảng
hơn 7000 học sinh học nghề phổ thông. Các nhóm trẻ gia đình và dân lập... các tr ường này cũng được tạo điều kiện phát triển thuận lợi hơn.
Để hình thành được đội ngũ những người thầy vừa có bản lúnh chính trị vững
vàng, vừa có nghiệp vụ chuyên môn giỏi; các thế hệ học sinh, học viên chăm
ngoan, học giỏi vừa phát triển về thể chất luôn được Đảng bộ tỉnh và ngành GDĐT xác định là nhiệm vụ hàng đầu quyết định đến chất lượng dạy và học trong nhà
trường. Chính vì thế, trong những năm qua, nội dung và phương pháp giảng dạy
gắn liền với chương trình cải cách, trong đó đặc biệt chú ý đến giáo dục văn hóa,
giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục thể chất thông qua những hoạt động ngoại
khóa như tìm hiểu truyền thống cách mạng, truyền thống quê hương, đất nước,
truyền thống anh bộ đội cụ Hồ, tìm hiểu pháp luật, Hội khỏe Phù Đổng, các hoạt
động văn nghệ, thể dục thể thao... Việc huy động học sinh đúng độ tuổi đi học ở
các lớp đầu cấp đều cao. Tỷ lệ học sinh bỏ học ngày càng giảm. Chất lượng học tập
đại trà trong toàn tỉnh được củng cố. Chất lượng học sinh trường chuyên, lớp chọn
được nâng cao. Học sinh, sinh viên Quảng Ngãi vốn có truyền thống hiếu học. Tuy
vậy, trước những năm 1990, số học sinh thi đỗ đại học và các giải học sinh giỏi
còn thấp. Từ năm học 1990-1991 đến nay, đặc biệt là 3 năm (1993-1995), học sinh
đạt giải học sinh giỏi cấp quốc gia và tỉnh ngày càng nhiều, đạt nhiều giải cao.
Biểu 1.5: Học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia và tỉnh (1993-1995)
1993
Phổ thông tr. học
2
2
0
0
2
2
6
6
2
0
0
0
2
1
0
1
8
0
07
lại cho hợp lý hơn. Từ năm 1993 đảm bảo được số lượng và chất lượng giáo viên để
phục vụ cho yêu cầu phát triển nhanh GD-ĐT của tỉnh. Mặt mạnh cơ bản là: tỷ lệ
chuẩn hóa đội ngũ giáo viên rất cao so với cả nước; các giải pháp thực hiện đồng
bộ trong quá trình bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực về chuyên môn, nghiệp
vụ cho giáo viên ở tất cả các bậc, ngành học đạt hiệu quả cao; đồng thời đảm bảo
tốt các chủ trương do Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra.
Quan điểm đúng đắn và sự chỉ đạo sát thực, cụ thể của Đảng bộ tỉnh nhằm
thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng và Nghị quyết của Tỉnh ủy
về GD-ĐT, đã thực sự tạo nên những bước chuyển biến mới về mặt nhận thức của
toàn xã hội đối với vị trí, vai trò của GD-ĐT. Từ đó đã huy động được mọi nguồn
lực tập trung cho phát triển sự nghiệp GD-ĐT. Kết quả sau 3 năm thực hiện (19941996), nhiều chỉ tiêu của ngành đề ra thực hiện kết quả như sau:
- Sắp xếp, từng bước hoàn thiện hệ thống trường lớp phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tách khỏi bậc tiểu học với PTCS, hệ thống trường tiểu học được xây dựng
và phân bổ rộng khắp các xã, phường trong toàn tỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho
học sinh đến trường. Hệ thống trường PTCS xã và liên xã được hình thành, phù
hợp với những điều kiện dạy và học ở từng địa bàn. Hệ thống trường trung học
chuyên nghiệp, dạy nghề tiếp tục được củng cố và mở rộng, đáp ứng được nhu cầu
học tập, đào tạo cho các tầng lớp nhân dân. Đến năm 1996, toàn tỉnh có 159 trường
mầm non, 224 trường tiểu học, 108 trường THCS, 30 trường PTTH, 06 trường
trung học chuyên nghiệp - dạy nghề, 05 trung tâm GDTX, 05 trường dân tộc nội
trú, 01 trung tâm xúc tiến việc làm của Sở Lao động - Thương binh - xã hội tỉnh và
các Trung tâm dạy ngoại ngữ, tin học khác.
- Tăng nhanh số lượng học sinh, sinh viên ở các cấp học, ngành học, đạt và
vượt chỉ tiêu kế hoạch.
Giáo dục mầm non và phổ thông đã hạn chế được sự giảm sút, tỷ lệ trẻ em và
học sinh đến trường, đến lớp tương đối ổn định; các trường trung học chuyên
nghiệp - dạy nghề đào tạo đắc lực, góp phần cho sự ra đời và trưởng thành của đội
chất lượng giáo dục có những bước chuyển biến tích cực.
Ngành mầm non đã có những cải tiến về nội dung, chương trình và phương
pháp nuôi dạy trẻ nên chất lượng nuôi- chăm sóc- giáo dục trẻ có tiến bộ rõ rệt,
nhất là công tác chống suy dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, nên số cháu đạt "Bé
khoẻ", "Bé ngoan" chiếm tỷ lệ 81% tổng số cháu đi học. Ngành học phổ thông đã
thực hiện chương trình 12 năm cải cách giáo dục, chất lượng văn hóa của học sinh
được duy trì, củng cố và có bước tiến bộ hơn trước, nhất là các trường chuyên, lớp
chọn và trường PTTH phân ban. Ngành giáo dục chuyên nghiệp - dạy nghề đã chú
ý đầu tư CSVC, cải tiến chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy; tổ chức,
sắp sếp lại quá trình đào tạo để thực hiện 5 chương trình mục tiêu của Bộ Giáo dục
và Đào tạo đề ra... nên chất lượng đào tạo khá, cơ cấu ngành nghề đào tạo được bố
trí hợp lý, bước đầu được xã hội chấp nhận. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng,
đạo đức cho học sinh bước đầu được chú ý, như tập trung vào việc xây dựng tinh
thần thái độ học tập, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức, trách nhiệm xây dựng quê
hương đất nước. Tính chung trong toàn tỉnh, năm 1995, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp
khá cao: Tiểu học đạt 98,31%; Trung học cơ sở đạt 90,12%; Phổ thông trung học
đạt 92,34%... tỷ lệ hạnh kiểm tốt - khá là 90,20% [57, tr.24-25]. Đặc biệt trong 4
năm từ 1992-1996, trường chuyên Lê Khiết có 138 học sinh giỏi cấp tỉnh (toàn tỉnh
có 648 học sinh giỏi cấp tỉnh) và 23 học sinh đạt giỏi quốc gia (toàn tỉnh có 62 học
sinh đạt giỏi quốc gia), trong đó có em Nguyễn Hữu Hội đạt giải toán Olympic
quốc tế, có 398 học sinh trúng tuyển Đại học và có nhiều em đậu thủ khoa. Giáo
dục chuyên nghiệp - dạy nghề có nhiều chuyển biến tốt, tổng số học sinh, sinh viên
tăng gấp 2 lần so với năm 1990, hiện nay có 7.232 học sinh được nhận học bổng,
chiếm tỷ lệ 54,8% (so với tổng số hàng năm) [58, tr. 5].
- Đội ngũ giáo viên tiếp tục được xây dựng và tăng cường về số lượng và
chất lượng.
Thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên theo
chu kỳ 1992-1996 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở GD-ĐT Quảng Ngãi đã liên kết
1995- 1996
Cộng
Cấp I
10
07
17
23
20
77
Cấp II
17
27
36
26
22
128
Cấp III
0
0
06
11
12
29
Tổng số
27
34
theo xu hướng ngày càng tốt, nhưng thực tế nguồn ngân sách này chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển GD-ĐT tại địa phương. Vẫn còn một số vấn đề đã và đang
đặt ra là: Còn nhiều bất hợp lý trong chủ trương chung: học phí của sinh viên cao
đẳng, đại học quá cao, trong khi mức học bổng lại quá thấp, chưa có ý nghĩa
khuyến khích học tập; kinh phí chương trình mục tiêu còn qua nhiều khâu trung
gian nên triển khai thực hiện kế hoạch chậm; chính sách đối với cán bộ, giáo viên
công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn còn nhiều bất cập; ngân sách
chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm CSVC, phương tiện dạy và học chưa bảo
đảm được yêu cầu phát triển mạnh mẽ GD-ĐT của tỉnh như mong muốn: Chưa
chấm dứt được lớp học ca 3, phòng thực hành, thí nghiệm, thư viện vừa thiếu vừa
lạc hậu (01/29 phòng thí nghiệm đạt chuẩn...); tốc độ xây mới tuy nhanh từ 142
phòng học 1993 tăng lên 243 phòng học năm 1995, nhưng chưa thể bù đắp cho
tình trạng hư hỏng (chủ yếu do thiên tai và quá hạn sử dụng). Vì thế, hiệu quả đóng
góp cho yêu cầu nâng cao chất lượng dạy- học từ phía CSVC kyừ thuaọt của địa
phương vẫn còn nhiều hạn chế, cần được quan tâm đầu tư nhiều hơn [58, tr.11].
- Công tác xã hội hóa giáo dục từng bước được thực hiện tốt.
Chấp hành Chỉ thị của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và công đoàn
ngành đã có Công văn số 09 hướng dẫn Đại hội giáo dục các cấp. Và thực hiện
cuộc vận động “Kỷ cương-Tình thương- Trách nhiệm”. Từ đây cuộc vận động xã
hội hóa giáo dục đã đi vào chiều sâu nhận thức và trách nhiệm của từng xã,
phường, cơ quan, xí nghiệp, các đoàn thể, ban, ngành. Phong trào toàn dân chăm lo
xây dựng, phát triển sự nghiệp GD-ĐT được duy trì và phát huy tác dụng tích cực:
- YÙ thức trách nhiệm của toàn xã hội được nâng cao.
- Công tác dân chủ hóa nhà trường phát triển tốt.
- Đóng góp xây dựng cơ sở trường, lớp phát triển mạnh mẽ ở mọi bậc học,
ngành học: đưa trẻ em cấp I đến trường đạt 98%; công tác xóa mù chữ-phổ cập
giáo dục tiểu học tiến triển tốt đạt 73%; nhiều địa phương, ban ngành, cơ quan, xí
nghiệp, đoàn thể đã có học bổng, quỹ hỗ trợ tài năng trẻ. Tổng số tiền quỹ khuyến học
người lớn, khuyến khích mọi người đi học để nâng cao dân trí. Phấn đấu toàn tỉnh
đạt chuẩn xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học trước năm 1998. Đến năm 2000, tất
cả các xã, phường thị xã Quảng Ngãi và các thị trấn đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục
cấp II. Phát triển mạnh giáo dục miền núi, hải đảo và vùng khó khăn. Đến năm 2000,
tất cả cán bộ từ huyện đến tỉnh đều phải có trình độ văn hóa PTTH hoặc BTVH trung
học trở lên và biết sử dụng một ngoại ngữ thông dụng.
Hai là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng người giỏi, cung cấp cán bộ cho một
số ngành mũi nhọn, tạo điều kiện cho học sinh có năng khiếu được tiếp tục học lên,
nắm bắt được tiến bộ của KH-CN phục vụ các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh.
Ba là, chú trọng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
nội dung nhân văn và bản sắc văn hóa dân tộc. Không ngừng nâng cao chất lượng
và hiệu quả GD-ĐT, kết hợp tốt học với hành, học tập gắn liền với lao động sản
xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội. Đẩy mạnh
giáo dục pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất, dân số, môi trường, tin học và
ngoại ngữ,...
Bốn là, đa dạng hóa hình thức, nội dung đào tạo chuyên nghiệp. Mở rộng đào
tạo nghề, phổ cập nghề, đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên cho người lao động
phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Bảo đảm phần lớn học sinh cuối
cấp II, cấp III không có điều kiện học lên đều được học nghề. Tăng nhanh số học
sinh vào học ở bậc cao đẳng, đại học.
Nghị quyết Tỉnh ủy đã đề ra một số biện pháp cơ bản nhằm thực hiện 4 mục tiêu
trên là: Thực hiện tốt hơn nữa công tác XHHGD nhằm nâng cao trách nhiệm của các
cấp ủy đảng và chính quyền các cấp, của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân,
các tổ chức kinh tế - xã hội, mọi gia đình và mọi người đối với sự nghiệp GD-ĐT.
Triển khai thực hiện có hiệu quả việc xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, huy
động tối đa số cháu 5 tuổi vào mẫu giáo và trẻ em trong độ tuổi vào lớp 1, giảm tỷ lệ
học sinh lưu ban, bỏ học ở tiểu học... Trên cơ sở những quy định chung của Nhà nước, Hội đồng nhân dân và UBND tỉnh có những chính sách học bổng và chính sách
động GD-ĐT trong toàn tỉnh.
Tác dụng của công tác XHHGD là rất lớn, là động lực phát triển nền giáo dục
XHCN, là cơ sở để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
- Hoạt động kiểm tra, thanh tra giáo dục cũng được chú trọng ở các cấp học,
ngành học.
Xác định đúng vai trò, chức năng của công tác kiểm tra, thanh tra, đến năm
1995, UBND tỉnh đã bổ nhiệm 83 thanh tra giáo dục cấp tỉnh và 160 thanh tra cấp
huyện. Hầu hết các thanh tra viên đều là giáo viên dạy giỏi, cán bộ quản lý có kinh
nghiệm. Hàng năm, Sở GD-ĐT chỉ đạo tập trung thanh tra chuyên môn, thanh tra
quản lý trên các lĩnh vực: thực hiện Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học; quản lý chỉ
đạo hành chính và chuyên môn; quản lý và đào tạo tại các trường trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề; quản lý và sử dụng ngân sách; thi tuyển sinh, thi tốt nghiệp;
dạy thêm ngoài giờ và các trường hợp có đơn thư tố cáo, khiếu nại. Nhờ làm tốt
công tác kiểm tra, thanh tra nhằm phát huy nhân tố tích cực ngăn chặn và xử lý các
sai phạm, góp phần thúc đẩy các cá nhân và tập thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Đây là một công việc cần thiết của các cấp quản lý. Vì vậy, trật tự, kỷ cương của
ngành từng bước được ổn định, môi trường GD-ĐT giữ được lành mạnh, nề nếp
chất lượng dạy và học có chuyển biến tích cực.
- Công tác thi đua khen thưởng phát huy tác dụng tốt.
60 năm trôi qua kể từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, đó cũng là
cái mốc bắt đầu của sự nghiệp GD-ĐT tỉnh Quảng Ngãi. 60 năm là một chặng
đường dài, những gì thầy và trò Quảng Ngãi làm được không phải là nhỏ, đó là
một thành tựu to lớn của sự nghiệp “trăm năm trồng người”, là công sức không của
riêng ai. Những thành tựu ngày hôm nay có được là sự kết tinh của truyền thống
giàu lòng yêu nước, sự đấu tranh kiên cường, lao động cần cù, sáng tạo và hiếu học
của mảnh đất “Địa linh, Nhân kiệt”, cộng với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của
Đảng bộ tỉnh.
Với những tiến bộ vượt bậc và tinh thần vượt khó, hoàn thành xuất sắc nhiệm
đức tốt, ý thức kỷ luật cao, có quyết tâm lớn, cần cù, sáng tạo luôn phấn đấu vì sự
nghiệp đổi mới toàn diện quê hương, đất nước.
Những thành tựu trên của ngành GD-ĐT tỉnh Quảng Ngãi bắt nguồn từ
những nguyên nhân cơ bản sau:
- Đảng bộ và các cấp chính quyền thường xuyên quán triệt sâu sắc và vận
dụng đường lối phát triển GD-ĐT của Đảng, Nhà nước phù hợp với hoàn cảnh cụ
thể của tỉnh. Trong quá trình tổ chức, triển khai thực hiện, Đảng bộ đã tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời bằng những biện pháp, chính sách cụ thể có
tính khả thi, nhằm tập trung và huy động mọi khả năng để ưu tiên cho phát triển
nguồn nhân lực - nhân tố quan trọng nhất dể phát triển kinh tế- xã hội.
- Sở GD-ĐT đã có nhiều tiến bộ trong việc tích cực, chủ động tham mưu cho
UBND tỉnh đề ra những văn bản pháp quy nhằm thể chế hóa Nghị quyết Trung
ương, Nghị quyết Tỉnh ủy về phát triển GD-ĐT và trong lĩnh vực quản lý ngành.
- Đại bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên tuy còn nhiều khó khăn về đời sống và điều
kiện làm việc, nhất là ở vùng núi xa xôi, hẻo lánh nhưng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao bằng cả lương tâm và trách nhiệm cho sự nghiệp cao cả.
- Cùng với cả nước, nền kinh tế địa phương tiếp tục phát triển. An ninh chính
trị ổn định. Chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm góp phần giảm
bớt hộ đói và từng bước nâng cao đời sống nhân dân lao động. Lòng tin của các
tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo,
ngày càng cao. Truyền thống hiếu học trong cán bộ đảng viên và nhân dân trong
tỉnh được duy trì và phát huy mạnh mẽ.
Bên cạnh những thành tích to lớn đã đạt được, ngành GD-ĐT tỉnh Quảng
Ngãi còn những hạn chế sau:
- Các ngành học, quy mô có tăng nhưng chưa thực sự thích nghi với sự
chuyển biến của xã hội, của nền kinh tế thị trường. Giáo dục mầm non chậm phát
triển, năm 1991 huy động được 28,9% số cháu vào nhà trẻ, năm 1996 đạt 45%
(33.035 cháu). Tình trạng học sinh lưu ban, bỏ học còn nhiều, nhất là học sinh ở
khăn cho công tác lãnh đạo, quản lý của ngành.
Hạn chế trên của ngành GD-ĐT tỉnh Quảng Ngãi baột nguồn từ những
nguyên nhân sau:
- Một số cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng, và một số Ban, Ngành
trong tỉnh chưa được quán triệt đầy đủ, nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và tầm quan
trọng của sự nghiệp GD-ĐT, tạo ra nguồn lực trực tiếp để phát triển kinh tế - xã hội
trong thời kỳ đổi mới đất nước. Do đó, thiếu tập trung lãnh đạo và chỉ đạo, chậm đề ra
các chủ trương, giải pháp hữu hiệu thúc đẩy sự nghiệp GD-ĐT phát triển tại địa
phương, đơn vị và của ngành.
- Ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp GD-ĐT của tỉnh tuy có tăng, năm
sau cao hơn năm trước: năm 1993 là 29.551 tỷ đồng, năm 1994 là 47.116 tỷ đồng
và năm 1996 là 97.874 tỷ đồng, nhưng thực tế chỉ đủ trả lương và các chế độ phụ
cấp theo lương; còn ngân sách dành cho các khoản chi khác rất ít như mua sắm đồ
dùng dạy học, thiết bị thí nghiệm - thực hành, sửa chữa nhỏ... Trong khi các nguồn
lực huy động khác trong nhân dân, trong các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn
tỉnh còn quá ít.
- Vì kinh tế của tỉnh phát triển chậm; thu ngân sách của tỉnh hàng năm quá
thấp, bình quân thu nhập quốc dân trên đầu người là 160 USD/năm, đời sống của
đại bộ phận nhân dân còn quá khó khăn, nhất là nhân dân ở 58/171 xã thuộc vùng
miền núi, hải đảo, lại thường xuyên chịu hậu quả nặng nề thiên tai... nên những
điều kiện bảo đảm cho người dân đi học chưa thật vững chắc, ngân sách địa
phương đầu tư cho GD-ĐT còn nhiều hạn chế, công tác XHHGD gặp khó khăn.
Để sự nghiệp GD-ĐT tiếp tục có những chuyển biến mới trong thời kỳ mới,
Đảng bộ, nhân dân, mà trực tiếp là ngành GD-ĐT tỉnh Quảng Ngãi cần chủ động tích
cực và có những giải pháp khả thi, mạnh mẽ hơn nữa nhằm phát huy những thành tích
đã đạt được và khắc phục nhanh những hạn chế, yếu kém.