NHÀ VĂN DẠ NGÂN VÀ NHỮNG ĐẶC SẮC TRONG SÁNG TÁC
1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Dạ Ngân
1.1. Cuộc đời
Dạ Ngân tên thật là Lê Hồng Nga, bút danh khác là Lê Long Mỹ, Dạ Hương. Bà
sinh ngày 06 tháng 02 năm 1952, quê ở xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang,
quê gốc ở miệt vườn cổ Cao Lãnh sông Tiền nhưng vì ông nội bà thích thi thố văn nghệ
nên đưa gia đình bà xuống Cần Thơ để thỏa chí nghề vườn. Dạ Ngân là phụ nữ miệt vườn
chính cống và bà luôn tự hào về điều đó. Dạ Ngân nguyên là Trưởng Ban văn xuôi, tuần
báo Văn nghệ Hội nhà văn Việt Nam.
Tuổi thơ Dạ Ngân sống cùng gia đình nội, ba đi kháng chiến, sau đó bị tù, án khổ
sai Côn Đảo rồi chết trong xà lim, Dạ Ngân được chăm sóc bởi người cô. Ở vào vùng
hành lang giữa căn cứ kháng chiến tỉnh với căn cứ kháng chiến Khu Chín, gia đình Dạ
Ngân không có sự lựa chọn nào khác cho tất cả chị em gái nhà bà phải đi vào Cứ tham
gia đánh giặc. Lý tưởng đã được đơn giản hoá thành thù nhà rồi sau mới là nghĩa nước.
Ngay từ hồi ở Cứ, lúc Dạ Ngân che đèn lén đọc: "Sông Đông êm đềm", cuốn sách thời
đó bị coi là: “có vấn đề chính trị và đạo đức”, những người lớn tuổi trong toà báo bảo sớm
muộn gì bà cũng viết văn, bà để ngoài tai những lời tiên tri. Dạ Ngân thường xuyên xấu
hổ vì bị phê bình chính thức hoặc không chính thức rằng bà lãng mạn, con người bà đa
sầu đa cảm và có kiểu sinh hoạt tiểu tư sản.
Dạ Ngân có một chuyện tình sâu đậm nhưng trắc trở với nhà văn Nguyễn Quang
Thân, bởi họ đều đã có gia đình, cả hai cộng lại có tất cả năm người con và khủng khiếp
nhất là cái khoảng cách hai nghìn cây số. Năm 1993, sau mười một năm kéo dài mối tình
họ mới có hồi kết và chính thức có một tờ giấy kết hôn.
1.2. Sự nghiệp sáng tác
Năm 1978, Dạ Ngân bắt đầu sáng tác, truyện đầu tay của bà được Tạp chí Văn
Nghệ tỉnh in vào số Tết. Từ bộ phận làm tin, thuộc Sở văn hoá thông tin tỉnh Hậu Giang,
Dạ Ngân được chuyển sang Hội văn nghệ tỉnh sau truyện ngắn ấy. Đầu năm 1982, lần đầu
một truyện ngắn của bà được in trên tuần báo Văn Nghệ của Hội nhà văn. Tháng 4 năm
1982, bà được mời đi dự Trại sáng tác của Hội ở Vũng Tàu. Tại đây, Dạ Ngân có cơ hội
tiếp xúc với những thế hệ nhà văn tên tuổi như: Nguyên Ngọc, Nguyễn Thành Long,
2.1.1. Đề tài gia đình
Dạ Ngân là nhà văn nữ khá thành công trong mảng viết về đề tài gia đình mà ở đó
thân phận người phụ nữ được quan tâm và mọi ngóc ngách trong tâm hồn họ được khai
thác triệt để. Đó có thể là một gia đình hạnh phúc sau khi đã vượt qua những hiểu lầm,
khúc mắc trong cuộc sống để rồi hiểu và yêu thương nhau nhiều hơn trong Ai người Hà
Nội: “Những ngày ấy mới thật là trăng mật. Ông đưa bà lên núi với tổ tiên, đi loanh
quanh khắp vùng và đi lại với đám ruộng ngô rồi cùng ngồi ngất ngây như một đôi trẻ.
Chuyến về, xe đứa cháu kẹp ba lên thị trấn để ông bà theo đôi vé mà con gái đã đặt cho…
Ông nắm lấy tay bà, tay trong tay, ánh mắt rạng ngời, quả quyết” . Đó cũng có thể là
cuộc đời, thân phận người phụ nữ với bi kịch gia đình trong Con chó và vụ li hôn: “Toàn
là chuyện của cảm giác và chi tiết đối với tòa là vặt vãnh, Đoan không có cách nào khác
là giữ nó lại để chỉ đau một mình”. Nhân vật Đoan phải chịu nỗi đau về cả thể xác và tinh
2
thần khi đối mặt với người chồng mà đã từng một thời đầu ấp tay gối. Để rồi những mâu
thuẫn cứ thế chồng chất lên nhau và “tức nước vỡ bờ” dẫn đến hạnh phúc gia đình tan nát.
Khi những tâm hồn không tìm được tiếng nói chung thì những rạn nứt bên trong của mối
quan hệ gia đình càng bộc lộ rõ hơn bao giờ hết: “Đã lâu, giữa anh và chị không còn
cảnh đầu ấp, tay gối, thay vào đó là cuộc chiến tranh lạnh làm đông đặc không khí trong
nhà, tưởng có thể xắn ra được”.
Nhắc đến đề tài gia đình trong các sáng tác của Dạ Ngân thì không thể không kể đến
tiểu thuyết Gia đình bé mọn. Đó là một gia đình từ kết quả của một cuộc hôn nhân không
có tình yêu. Bên cạnh đó là sự vô tâm, hờ hững của người chồng đầy tham vọng đã khiến
người vợ khao khát một hạnh phúc mới nhưng quá trình tìm đến hạnh phúc thật sự cô đã
gặp phải nhiều chỉ trích bởi định kiến xã hội và cuối cùng khi chạm đến hạnh phúc thì
trong tâm trí cô lại day dứt bởi tình mẫu tử thiêng liêng không thể nào chối bỏ. Đây có thể
được coi là một trong những tác phẩm phản ánh một cách sâu sắc và chân thực nhất về bi
kịch gia đình bên cạnh truyện ngắn Con chó và vụ li hôn.
2.1.2. Đề tài người lính
4
nhân vật tôi và người đàn ông tàn tật ( Nhìn từ phía khác ) hay tấm lòng yêu thương bao
la của người mẹ dành cho con trai ( Xương hai nước, giấy hai gang ) hoặc miêu tả không
gian lãng mạn, nên thơ của một vùng quê êm đềm trong buổi hoàng hôn ( Trên mái nhà
người phụ nữ )…Mỗi yếu tố trữ tình trong các tác phẩm chủ yếu góp phần làm “tươi
mát” không gian trong hiện thực không mấy tốt đẹp. Ngoài ra cũng cho ta thấy rằng
những điều tốt đẹp vẫn luôn hiện hữu và nó tồn tại song song với cái xấu.
2.3. Thế giới nhân vật đa dạng
Dưới tác động của những đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về cuộc sống, con
người của giai đoạn văn học sau 1975 đã chi phối đến hầu hết các cây bút trẻ. Dạ Ngân,
một cây bút nhạy cảm, tinh tế trong cách nắm bắt và lý giải tâm lý nhân vật cũng chịu
nhiều tác động. Thế giới nhân vật trong những sáng tác của Dạ Ngân phong phú, sinh
động nhưng cũng rất phức tạp. Là nhà văn hướng tới chủ đề nhân tình, thế sự nên trong số
những nhân vật đó, ta có thể bắt gặp hình bóng của một nhà văn nữ với sự từng trải trong
cuộc sống, kể cả những trắc trở, bất hạnh trong tình yêu.
2.3.1. Kiểu nhân vật gặp nhiều bất hạnh trong tình yêu, hôn nhân và gia đình.
Người phụ nữ trong Con chó và vụ li hôn (Đoan) lại phải chịu những đau khổ, bất
hạnh trong cuộc sống vợ chồng với người chồng thô kệch, cứng nhắc, thậm chí có phần
tàn nhẫn. Đoan có thể chấp nhận anh chồng kĩ tính, có sở thích chùi xe đạp cả ngày không
biết chán, không kết giao nhiều bạn chỉ vì sợ tốn kém. Nhưng việc đối xử thô bạo, tàn
nhẫn với một con chó chỉ vì ghen tỵ lại là nỗi đau và bất hạnh đối với Đoan. Bi kịch được
đẩy lên đỉnh điểm khi người chồng giết thịt con chó Mực và ném đàn con của nó xuống
sông. Đoan đã phải lựa chọn một sự thật mà không một người phụ nữ nào mong muốn, đó
là li hôn. Li hôn với một lý do tế nhị mà người ngoài chẳng thể nào hiểu nổi - li hôn vì
một con chó.
Không chỉ phản ánh sự lỡ dở, bất hạnh trong tình yêu và hôn nhân ở ngừời phụ nữ,
Dạ Ngân còn khai thác cả ở những người đàn ông, Hôm ấy trời đẹp lắm chính là một
trong số đó. Một người thanh niên yêu một cô gái tên Tím, tình yêu say đắm chia lìa bởi
chiếc xe nhưng lại sợ mình bị thương, tàn tật, trở thành gánh nặng cho con cái nên bà
cũng lại tìm một cách khác. Người mẹ đã chở che cho con cái khi bé thơ, cho đến lúc về
già chợt nhận ra mình như một gánh nặng gia đình của chúng. Song, người mẹ với bản
chất đôn hậu không bao giờ tính toán thiệt hơn với những đứa con, lúc nào cũng bao bọc,
che chở và tha thứ cho những đứa con tội lỗi của mình.
2.3.3. Kiểu nhân vật người trí thức trong thời hậu chiến
Nhân vật người tri thức trong sáng tác của Dạ Ngân được khai thác ở nhiều góc độ.
Đó là người trí thức với niềm trân trọng những gì là hay, là đẹp. Trong Chuyện người
bay, kể về anh biên tập viên đã phát hiện ra một bản thảo rất tuyệt và đưa vội cho ông
giám đốc mà chưa kịp lưu lại tên hay bản nào. Bản thảo “Phải rời tàu” của một người
“nét chữ đàn ông đứng tuổi chân phương rành mạch, càng đọc càng thấy ngỡ ngàng bởi
sự chính xác của cảm xúc với từng cái dấu chấm, dấu phẩy". Người biên tập gọi đó là “tài
năng”. Thế nhưng tập bản thảo của con người tài năng ấy đă bị tên giám đốc có bệnh “yêu
ghế” vùi dập cho vào sọt rác với thói vô trách nhiêm của hắn. Anh biên tập cảm thấy mình
như nợ một món nợ ân tình
Hay trong Xương hai nước, giấy hai gang, ta lại bắt gặp hình ảnh của một người
tri thức với những yêu cầu khắt khe về hàm răng trong cái thời mà người ta không còn
6
những lo toan về cái đói, cái nghèo như cha mẹ thời bao cấp. Bởi anh có hàm răng mà có
người gọi nó giống như linh cẩu. Có thể nói đó là một anh mang tiếng trí thức nhưng
không hiểu được lí lẽ, anh không biết nghĩ đến những khổ cực mà mẹ anh cùng cả gia
đình phải gắn gượng, gồng mình trong cái thời mà xương ăn hết thịt lại đổ vào nấu nước
hầm lần hai để làm một nồi canh ngọt, giấy vệ sinh chỉ hai gang là đủ. Mà chỉ biết trách
người mẹ của mình mặc dù với người mẹ: "Sự thật, chưa bao giờ mẹ dám mơ con đi xa
như hôm nay để rồi luôn bị chất vấn vì sao hàm răng của con không mỹ mãn. Mỗi lần nói
chuyện răng miệng là vị trí mẹ con mình bị hoán đổi. Mẹ ngồi ghế bị cáo còn con là quan
tòa. Mẹ bị dồn đuổi, chỉ trích, chất vấn và buộc tội. Như thể mẹ lơ đểnh, như thể mẹ chây
lười, như thể mẹ dốt nát. Tệ hơn, như thể mẹ không xứng đáng".
cả vợ và con: "sắp tới trong nhà có chồng của con, từ rày ba má đừng chó mèo với nhau
nữa, nhục con lắm nghen".
Những nhân vật trong sáng tác của Dạ Ngân rất phong phú, mỗi câu chuyện đều có
những kiểu nhân vật khác nhau, trên đây là những kiểu nhân vật tiêu biểu nhất.
2.4. Đặc điểm ngôn ngữ trong sáng tác của Dạ Ngân
2.4.1. Ngôn ngữ trong các sáng tác của Dạ Ngân mang đậm chất “nữ tính”
Ngôn ngữ trong sáng tác của Dạ Ngân có khi nhẹ nhàng, trầm lắng; khi lại chan
chứa yêu thương. Người đọc dễ dàng nhận ra, bên cạnh những hiện thực bề bộn, éo le của
cuộc sống đời thường được phản ánh trong các tác phẩm là chất văn bình dị, nhẹ nhàng,
không kém phần sâu sắc của một nhà văn nữ. Đặc điểm đầu tiên biểu hiện cho ngôn ngữ
mang sắc thái “nữ tính” trong truyện ngắn Dạ Ngân là loại ngôn ngữ mang tính trực cảm
của người phụ nữ. Viết về những người mẹ giàu tình yêu thương, đức hi sinh trong gia
đình Dạ Ngân đã sử dụng ngôn ngữ mang đầy tình mẫu tử. Người mẹ trong truyện ngắn
Xương hai nước, giấy hai gang dù luôn bị người con trai nơi xa gọi điện trách móc sáng,
trưa, chiều, tối về việc đánh răng cho đứa cháu trai nhưng không vì thế mà hờn giận, ghét
bỏ con. Khi nhớ lại hình ảnh của cậu con trai khi còn thơ trẻ, người mẹ vẫn tràn ngập yêu
thương, trìu mến: “Mẹ vừa thương con vừa nhớ lâu nụ cười của con khi ấy. Nó thông báo
với mẹ những phẩm chất mà mẹ mong chờ. Con hồn nhiên, rất ngoan, dễ dạy và biết
thích nghi hoàn cảnh”.
Ngôn ngữ trong truyện ngắn Dạ Ngân mang đậm chất “nữ tính” và cái trực cảm mà
có lẽ chỉ thấy ở những người đàn bà. Tác giả không sử dụng nhiều cái kết bất ngờ, thậm
chí lần theo mạch cốt truyện người đọc cũng có thể dự cảm được điều gì sẽ xảy ra với
nhân vật nhưng tác phẩm không vì thế mà mất đi tính hấp dẫn. Sự sâu lắng, bình dị nhưng
không kém phần sắc sảo trong ngòi bút Dạ Ngân đã chinh phục được nhiều độc giả.
2.4.2. Ngôn ngữ đời thường, dung dị nhưng phong phú và sống động
Dạ Ngân đã sử dụng những ngôn ngữ đời thường dung dị nhưng vô cùng phong
phú, sống động. Trước hết đó là việc đưa vào trong tác phẩm những lời ăn, tiếng nói hàng
ngày, dung nạp nhiều khẩu ngữ như: “Ái chà, cái quá khứ ấy như đã áp sát lưng nàng”,
“Mầy ở đâu ra, hử, cái con này, mầy ở đâu ra, hử” (Nàng ở đâu ra), “Làm cái nghề gì
, người đọc cũng cảm nhận được chất trữ tình đằm thắm trong mỗi trang văn miêu tả con
người và thiên nhiên nhẹ nhàng, sâu lắng. Trong truyện Trên mái nhà người phụ nữ,
những ngôn từ miêu tả được nhà văn sử dụng rất nhuần nhuyễn, đậm chất trữ tình mang
lại hiệu quả cao trong việc khắc họa vẻ đẹp nên thơ của một vùng quê thanh bình, yên ả
trong ánh hoàng hôn: “Hoàng hôn vãi xuống giữa dòng một dải lụa ửng tím. Vài cánh cò
chểnh mảng trên không trung nghi ngút màu lam, màu trắng nuột nà trở thành điểm sáng
riêng tư lãng mạn trên trời chiều. Tiếng bần rụng thảng thốt trong biền lá, từ đó vọng ra
tiếng chim bìm bịp trên mặt sông như tiếng vỗ khắc khoải trên mặt trống”. Dạ Ngân sử
dụng ngôn từ mang dấu ấn cảm xúc cá nhân, đậm chất trữ tình, vì thế chúng mang nét
phong cách riêng, trầm lắng và giàu cảm xúc, chứ không mang thái độ khách quan, lạnh
lùng như nhiều nhà văn khác.
3. Tác phẩm tiêu biểu: Tiểu thuyết “Gia đình bé mọn”
9
Cuốn tiểu thuyết Gia đình bé mọn với 295 trang viết của nhà văn Dạ Ngân là một
trong những tác phẩm làm nên sự thành công trong sự nghiệp cầm bút của bà. Tác phẩm
đã đạt được giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội năm 2005. Đây là tác phẩm làm nên sự
độc đáo trong phong cách sáng tác, đồng thời thể hiện cách nhìn của nhà văn về con
người, về cuộc đời. Không chỉ đề cập đến vấn đề gia đình mà tác phẩm còn nêu ra những
vấn đề mang tầm rộng lớn hơn về cuộc sống sau những năm chiến tranh đã đi qua.
3.1. Tóm tắt tác phẩm:
Tiểu thuyết xoay quanh cuộc đời của một nữ nhà văn miền Nam tên là Lê Thị Mỹ
Tiệp, sống có ước mơ, có đam mê . Ba cô là một liệt sĩ Côn Đảo và Tiệp được ví như một
"ngôi sao" của dòng tộc. Cô khát khao một mái ấm với những tình cảm thiết tha, nhưng
thực tế lại không có được niềm hạnh phúc gia đình trọn vẹn. Một cuộc sống hôn nhân
không có tình yêu với Tuyên, là cán bộ tuyên huấn, một người chồng lạnh nhạt với vợ, hờ
hững với con. Tuyên bị cám dỗ bởi những danh vọng và tiền tài, suốt một đời chạy theo
những đòi hỏi của uy quyền mà quên đi nghĩa vụ của một người chồng, người cha đúng
bốn bức tường gương mà nếu soi vào thì nàng phải lập tức quên tuổi trẻ và khát vọng của
mình để đi nhớ rằng không thể so sánh nỗi bất hạnh nào với nỗi bất hạnh của những
người góa bụa”. Và Tuyên chồng của Tiệp người vốn:“nói chuyện thời sự hoặc đứng lớp
cho cán bộ cơ sở với giáo trình tủ “Thế nào là nếp sống mới con người mới”” lại là
những người có những quan niệm cứng nhắc, cổ hủ và áp đặt.
Thông qua nhân vật Mỹ Tiệp mà nhà văn Dạ Ngân đã thể hiện đó là một người phụ
nữ biết đấu tranh cho một tình yêu đích thực, vượt qua mọi rào cản khắc nghiệp của định
kiến, của những lời dèm pha để từng bước tiến đến hạnh phúc thật sự. Bên trong người
phụ nữ ấy có những quyết liệt, đam mê và còn có những ham muốn:“nàng bốc cháy từ
gót chân lên tới đỉnh đầu và thực sự không biết mình đang bồng bểnh ở đâu, chính danh
hay không chính danh, tà dâm hay không tà dâm, chỉ thấy mình đúng là mình trong tưởng
tượng, thỏa mãn một cách hài hòa sâu sắc”.
Đồng thời tác phẩm còn bộc lộ bản chất của một thời bao cấp với những điều khốn
khó trong cuộc sống. Những thói đời xấu xa, ích kỷ, ham chuộng hư vinh và thói giả
nhân, giả nghĩa. Quan hệ giữa người với người ngày càng trở nên lạnh lùng, sòng phẳng
đến tàn nhẫn. Cuộc sống vật chất ngày càng được cải thiện nhưng tâm hồn và nhân cách
cũng càng ngày càng bị xói mòn, chai sạn. Đời sống gia đình cũng trở nên nhạt nhẽo bởi
sự vô tâm của Tuyên: “Chồng nàng ít khi giỡn với con, chưa bao giờ anh ta tung Vĩnh
Tuyên lên hay để nó trên vai như những người đàn ông sung sướng với con trai, trong khi
đó anh thích chăm sóc với lũ heo vì nó đem lại niềm vui thực tế”.
Tiểu thuyết cho ta thấy sức mạnh của một tình yêu chân chính, dù nó là mảnh
ghép từ những tình cảm không trọn vẹn, của những con người chịu nhiều đau khổ, bất
hạnh trong tình yêu như Tiệp và Đính. Dù mạnh mẽ đến đâu đi chăng nữa Tiệp cũng là
một người phụ nữ cần được yêu thương, được chở che bởi một người đàn ông: “Tiệp
nghe thấy bên cạnh mình không phải là mùi của cực nhọc, thiếu thốn mà là mùi của ưu
tư, vật vã, cựa quậy, như cái cây vô danh rất mảnh bị chèn ép dưới một tản đá và nó đã
lách lên, hãnh diện dưới ánh mặt trời. Giá có thể tự do để đi vòng sang bên Đính, dựa
hẳn vào cánh tay tháo vát ấy mà đi, đi mãi.” Tình yêu ấy dường như có thể xóa mờ đi
khoảng cách về không gian và thời gian, những chặng đường hàng nghìn cây số vẫn
không làm hai tâm hồn đang yêu cảm thấy e dè, chán nản. Cứ như thế sau hơn 10 năm,
nạn ăn cắp vặt, rồi cảnh Tiệp phải dùng que diêm để tự xoay sở khi vào nhà vệ sinh công
cộng với bao thứ ô nhiễm. Hệ thống y tế vô cùng kém cỏi và sự gian trá của bậc lương y,
những người phụ nữ đi thử thai thì phải nộp 750ml nước tiểu “Họ bắt mình nộp để nước
tiểu thì bán cho dân trồng rau còn chai thì bán lại cho cơ sở sản xuất rượu lậu!”.
Cách miêu tả tinh tế và chi tiết qua cảm nhận sâu sắc bằng những giác quan của
Tiệp, nhân vật có thể ngửi thấy cái vựa củi đước bốc lên mùi vỏ cây mục thấm nước, mùi
lá cỏ và nước mương của vườn nhà, mùi than bếp lò, mùi chuột gián mốc meo lưu cữu,
hương thơm của bông lựu trắng… Nhìn thấy màu xanh của hàng cây xà cừ, dãy hành lang
vàng dài hun hút, cây mận cụt ngọn bên hông tòa án, khoảng xi măng vắng lặng và cô
quạnh, những rễ già trồi lên làm nứt toạt mấy kẽ bê tông,…
12
Thời gian nghệ thuật ở đây có khi là hiện tại, có khi là quá khứ chúng đan xen lẫn
nhau. Không gian có lúc trở nên nhỏ bé và như làm cho con người trở nên tù túng, bó hẹp
chính mình trước hoàn cảnh. Khi thì là không gian trong hoàn cảnh chiến tranh thông qua
hồi tưởng của nhân vật Mỹ Tiệp, không gian thực tại ở miền Nam nơi mà cô đang sống và
làm việc. Không gian với những khó khăn của thời bao cấp ở miền Bắc. Thời gian và
không gia nghệ thuật được tác giả thể hiện một cách khéo léo, sinh động theo mạch cảm
xúc của nhân vật và góp phần làm cho cốt truyện được hấp dẫn hơn.
Miêu tả hành động và khắc họa nội tâm nhân vật một cách sâu sắc. Dạ Ngân đã để
cho nhân vật của mình đứng trước những hoàn cảnh trớ trêu để nhân vật có thể bộc lộ
những suy nghĩ và trăn trở của bản thân. Phải chăng đó cũng thể hiện cho nhân sinh quan
của tác giả không phải là người buông xuôi theo số phận mặc cho dư luận chà đạp lên sự
sống còn. Mà đó là cách nhìn, cách nghĩ của con người mới, của người phụ nữ can đảm,
biết đấu tranh để tìm lấy hạnh phúc. Song, tình cảm mẫu tử thiêng liêng vẫn không thể
nào bôi xóa được, dẫu cho rằng Tiệp đã chọn cho mình một chân trời khác để bù đắp lại
bao tháng ngày xa vắng người thương: “nàng nghẹt thở bên Đính, không phải vì tâm
trạng của một nàng dâu, một người vợ chính danh mà vì nàng là một người mẹ đã bỏ vãi