Hát iếu ở bắc quang hà giang - những đặc điểm nội dung và nghệ thuật - Pdf 82

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
------- HOÀNG MINH NGUYỆT HÁT IẾU Ở BẮC QUANG HÀ GIANG - NHỮNG ĐẶC
ĐIỂM NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn:
TS. NGUYỄN HẰNG PHƢƠNG
THÁI NGUYÊN - 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn
Hằng Phƣơng là ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo, dìu dắt và giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo giảng dạy

ngƣời Tày ở Bắc Quang - Hà Giang. ................................................................ 12
1.2 Khái quát về Lƣợn .................................................................................... 20
1.2.1 Khái niệm “Lƣợn”: ................................................................................. 20
1.2.2. Khái niệm Hát Iếu .................................................................................. 22
1.2.3. Nguồn gốc của Hát Iếu ........................................................................... 23
1.3. Hát Iếu ở Bắc Quang - Hà Giang. ............................................................. 27
1.3.1. Hát Iếu trong đời sống văn hoá của ngƣời Tày ở Bắc Quang - Hà Giang. ..... 27
1.3.2. Khảo sát, phân loại ................................................................................. 28
1.3.3. Hình thức diễn xƣớng trong Hát Iếu. ...................................................... 33
Tiểu kết. .......................................................................................................... 46
Chương 2. Nội dung cơ bản của hát Iếu ở Bắc Quang - Hà Giang .............. 47
2.1. Hát Iếu là những lời bày tỏ tình yêu trong buổi đầu gặp gỡ. ...................... 47

2
2.1.1. Hát Iếu là những lời tỏ tình thiết tha, chân thành, nồng thắm. ................ 47
2.1.2. Hát Iếu là những lời giao ƣớc, kết duyên tình cảm sâu nặng. .................. 53
2.1.3. Hát Iếu là những lời chia tay xót xa, day dứt giữa những ngƣời yêu nhau. . 58
2.2. Hát Iếu là những lời bày tỏ cách ứng xử trong tình yêu, ca ngợi cuộc sống. .... 62
2.2.1. Hát Iếu là những lời trách móc bạn tình nhẹ nhàng, thâm thuý. .............. 62
2.2.2. Hát Iếu là những lời đối đáp nhanh trí, thông minh và dí dỏm. ............... 65
2.2.3. Hát Iếu là những lời ca ngợi cuộc sống, thiên nhiên gần gũi giàu đẹp......... 70
2.3. Hát Iếu là những lời ca ngợi Đảng, Bác và cuộc sống mới. ....................... 74
2.3.1. Hát Iếu là những lời ca ngợi, bày tỏ niềm vui từ khi có Đảng và Bác Hồ.... 75
2.3.2. Hát Iếu là những lời ca ngợi cuộc sống hòa bình, xây dựng chủ nghĩa
xã hội. .............................................................................................................. 80
Tiểu kết ........................................................................................................... 84
Chương 3. Những đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu của hát Iếu ở Bắc Quang
- Hà Giang ...................................................................................................... 86
3.1. Thể thơ trong Hát Iếu. ............................................................................... 86
3.1.1. Thể thơ tự do .......................................................................................... 86

Thực tế từ trƣớc tới nay, Hát Iếu của ngƣời Tày Bắc Quang đã đƣợc một
số ngƣời sƣu tầm và dịch với số lƣợng còn rất hạn chế, chƣa có sự quan tâm,
nghiên cứu, tìm hiểu một cách khoa học về mặt giá trị nội dung và nghệ thuật.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành điền dã và sƣu tầm
những bài Hát Iếu lƣu truyền trong dân gian với số lƣợng đáng kể.
1.2. Về phương diện thực tiễn
Hát Iếu là một loại hình dân ca độc đáo của ngƣời Tày ở Bắc Quang - Hà
Giang trong sinh hoạt văn hoá, văn nghệ quần chúng, gắn bó sâu sắc với đời
sống của làng quê nơi đây từ xƣa tới nay. Nghiên cứu những nét cơ bản về giá
trị nội dung và nghệ thuật của Hát Iếu trong đời sống văn hoá dân gian của
ngƣời Tày ở địa phƣơng Bắc Quang - Hà Giang sẽ góp phần khẳng định, gìn
giữ, bảo lƣu và phát huy nét đẹp truyền thống vốn có của dân tộc Tày ở Bắc

4
Quang - Hà Giang nói riêng, các dân tộc thiểu số của Việt Nam nói chung trên
con đƣờng tìm về với bản sắc cội nguồn dân tộc.
Xuất phát từ phƣơng diện khoa học, thực tiễn nêu trên chúng tôi tiến
hành tìm hiểu “Hát Iếu của người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang - Những đặc
điểm nội dung và nghệ thuật” trong đề tài luận văn nghiên cứu của mình.
Hoàn thành công trình này còn là nguyện vọng của chúng tôi, ngƣời con của
tộc ngƣời Tày mong muốn đƣợc khám phá, tôn vinh những giá trị văn hoá có
sức sống bền bỉ của dân tộc mình.
2. Lịch sử vấn đề.
2.1. Những công trình sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu về dân ca Tày Nùng.
Nhắc đến những giá trị văn hoá - nghệ thuật của các dân tộc trên đất
nƣớc ta, trƣớc hết phải nói đến những giá trị to lớn của vốn văn học dân gian cổ
truyền của mỗi dân tộc. Trong đó dân tộc Tày đã có những đóng góp cho nền
văn hoá nghệ thuật thêm phong phú, đa dạng, đặc sắc qua các thể loại khác
nhau. Chúng ta có thể kể đến thể loại dân ca nhƣ Hát then, Hát Quan làng,
Lƣợn Cọi, Lƣợn Slƣơng, Lƣợn Nàng ới, Hát Iếu… Qua quá trình lao động sản

trong đó có một số bài viết về đời sống văn hoá, tinh thần, nội dung, hình thức
những giá trị trong bƣớc đầu khảo cứu vốn thơ ca dân gian dân tộc Tày, Nùng.
Đáng chú ý có đoạn viết của Vi Quốc Bảo khẳng định: “Thật khó có thể thống
kê đƣợc hết các thể loại dân ca miền núi vô cùng phong phú và đa dạng. Mỗi
loại dân ca có cái hay, cái đẹp riêng. Hay về làn điệu, đẹp về lời thơ. Song có
một cái chung nhất cho tất cả mọi thể loại dân ca miền núi là tính chất trữ tình
rất đằm thắm, rất độc đáo mà ta có thể dễ dàng tìm thấy trong bất kỳ thể loại
nào”. [57] Ngoài ra trong cuốn sách này còn một số bài viết của tác giả Vi
Hồng nêu lên: “Vài ý nghĩ nhỏ bƣớc đầu về thơ ca dân tộc Tày - Nùng” và “
Thử tìm hiểu về nội dung của Lƣợn”[57. Tr.109, 176].
- Tạp chí dân tộc học số 1- 1976 có bài viết: “Vài suy nghĩ về hát Quan
lang, phong Slƣ, Lƣợn” của nhà văn Vi Hồng. Trong bài viết của mình tác giả

6
có giới thiệu những nội dung tổ chức, hình thức lề lối cơ bản, khái quát về loại
hình dân ca phổ biến của dân tộc Tày, Nùng. [18]. Tuy nhiên, tác giả mới giới
thiệu khái quát về các loại dân ca Tày, Nùng.
- Cuốn Sli Lƣợn dân ca trữ tình Tày - Nùng cũng của tác giả Vi Hồng in
năm 1979 có giới thiệu về đời sống văn hóa, tinh thần của hai dân tộc Tày,
Nùng qua làn điệu dân ca Sli, Lƣợn cùng với đề tài, nội dung tƣ tƣởng, ý nghĩa
thẩm mỹ cũng nhƣ cung cách xây dựng hình tƣợng của Sli, Lƣợn. Tác giả nhấn
mạnh:“Các lớp đề tài của sli, lƣợn và mỗi một hình tƣợng của mỗi lớp đề tài
đều bắt nguồn từ những quan niệm xa xƣa của dân tộc Tày Nùng, đồng thời nó
phát triển một cách gắn bó với dân tộc, với xã hội với từng con ngƣời Tày,
Nùng. Vì thế các lớp đề tài , mỗi hình tƣợng, hình ảnh của sli, lƣợn đều rất gần
gũi gắn bó với đời sống tình cảm, với tâm hồn ngƣời Tày ngƣời
Nùng”.[19.Tr.59]. Cuốn sách đã có những gợi ý cho tác giả đề tài tìm hiểu về
Hát Iếu ở Bắc Quang - Hà Giang.
- Năm 1983, trong giáo trình “Văn học dân gian các dân tộc ít ngƣời ở
Việt Nam”, tác giả Võ Quang Nhơn đã khái quát những đặc điểm xã hội - văn

khoa học có giá trị to lớn cho việc nghiên cứu đề tài trên.
2.2. Tình hình sưu tầm, nghiên cứu Hát Iếu ở huyện Bắc Quang tỉnh
Hà Giang.
Đối với dân tộc Tày ở Bắc Quang Hát Iếu là một loại hình sinh hoạt văn
hoá tập thể, ngƣời Tày vốn có truyền thống văn hoá tốt đẹp đƣợc kết tinh trong
đời sống lao động, sản xuất, trong giao tiếp và ứng xử. Vì vậy mà Hát Iếu đƣợc
lƣu truyền ở nhiều bản làng của ngƣời Tày, trở thành nét sinh hoạt độc đáo
riêng của ngƣời Tày nơi đây. Dù đã đƣợc biết đến, nhƣng Hát Iếu của dân tộc
Tày ở Bắc Quang vẫn còn là mảnh đất nguyên sơ chƣa đƣợc nhiều ngƣời quan
tâm nghiên cứu.
Hiện nay, tƣ liệu Hát Iếu chủ yếu là bản sƣu tầm và dịch của ông Hoàng
Văn Chữ, một ngƣời Tày ở Bắc Quang chƣa đƣợc in thành sách. Và hai tập thơ

8
Tày “Chồm bióoc Mạ” và “ Ra mắt bố mẹ” của Hoàng Thị Cấp sƣu tầm và
dịch.[4,5]. Do vậy, việc tìm hiểu về Hát Iếu ở địa phƣơng Bắc Quang nói riêng,
dân ca của các dân tộc nói chung là việc làm thiết thực trong đời sống hiện nay,
góp phần bảo tồn gìn giữ và phát huy nền văn học văn nghệ vô cùng quý giá
của cả dân tộc.
3. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên Cứu “Hát Iếu của ngƣời Tày ở Bắc Quang - Hà Giang - những
đặc điểm nội dung và nghệ thuật”, Qua đó nhận diện, phân tích, so sánh để thấy
đƣợc nét độc đáo, giàu bản sắc văn hoá Tày ở một địa phƣơng cụ thể.
- Bƣớc đầu cố gắng lí giải cội nguồn của nét văn hoá dân ca Iếu trên cơ
sở tổng quan văn hoá của dân tộc Tày ở Bắc Quang - Hà Giang.
- Đề xuất những giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp
vốn có của Hát Iếu.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát, thống kê, phân tích, lý giải lời Hát Iếu và một số vấn đề có
liên quan đến giá trị nội dung, nghệ thuật của Hát Iếu.

văn hoá của dân tộc Tày. Do đó tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo quan điểm văn
hoá học là cần thiết, song cần phải nghiên cứu theo quan điểm tiếp cận liên ngành,
xem xét đối tƣợng từ nhiều góc độ, ngành khoa học khác nhau.
- Trên bình diện phƣơng pháp cụ thể, chúng tôi sử dụng :
+ Phƣơng pháp tiếp cận hệ thống.
+ Phƣơng pháp khảo sát thống kê.
+ Phƣơng pháp điền dã văn học.
+ Phƣơng pháp phân tích tổng hợp.
+ Phƣơng pháp đối chiếu so sánh.
8. Những đóng góp của luận văn
Nghiên cứu Hát Iếu trong đời sống văn hoá dân gian của ngƣời Tày ở
Bắc Quang - Hà Giang, nhằm giới thiệu một nét văn hoá đặc trƣng vốn có trong
dân gian nhƣng chƣa có nhiều công trình nghiên cứu về nó. Luận văn là công

10
trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về Hát Iếu của ngƣời Tày ở Bắc
Quang - Hà Giang.
Trong quá trình nghiên cứu, qua khảo sát điền dã, tác giả đề tài đã thu
thập đƣợc một số lƣợng đáng kể những bài Hát Iếu còn đang lƣu truyền trong
đời sống dân gian ở Bắc Quang - Hà Giang.
Kết quả khảo sát thực tế trên là cơ sở khoa học để tác giả luận văn bƣớc
đầu đề xuất hƣớng bảo tồn và phát huy giữ gìn nét đẹp, bản sắc văn hoá dân tộc
Tày nói chung, trong đó có dân tộc Tày Bắc Quang.
9. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần nội dung chính, phần kết luận, tài liệu tham
khảo, phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng:
Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận và thực tế- cơ sở tìm hiểu Hát Iếu ở Bắc
Quang - Hà Giang.
Chƣơng 2. Nội dung của Hát Iếu ở Bắc Quang - Hà Giang.
Chƣơng 3. Những đặc điểm nghệ thuật trong Hát Iếu ở Bắc Quang - Hà

Trong lịch sử nƣớc ta thời Lý -Trần là thời kỳ thịnh hành của phật giáo
cả nƣớc, chùa chiền đƣợc tạo dựng khắp nơi, nhất là sau ba lần đại thắng quân
Nguyên Mông của triều Trần, hào khí Đông A vang vọng từ Thăng Long đến

12
các miền biên viễn xa xôi. Ở Hà Giang còn di tích 2 ngôi chùa cổ đó là chùa
Sùng Khánh ở bản Bang xã Đạo Đức huyện Vị Xuyên, chùa Bình Lâm ở xã
Phú Linh, thị xã Hà Giang cũng đƣợc xây dựng vào thời kỳ đó. Đặc biệt trên
tấm bia ở chùa Sùng Khánh dựng năm 1367 có ghi công lao của quan Phủ đạo
ngƣời Tày họ Nguyễn là Nguyễn Thiếp có công lao bảo vệ biên giới phía Bắc,
xây dựng làng xã ổn định phát triển, là nơi tin cậy của triều đình ở vùng biên
viễn xa xôi. [11, Tr.120].
1.1.2. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội và đời sống văn hoá
của người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang.
- Điều kiện tự nhiên:
Bắc Quang là huyện miền núi thấp , nằm ở cửa ngõ phía Đông Nam của
tỉnh Hà Giang trong toạ độ địa lý từ 22 độ 10’ đến 22 độ 36’ vĩ độ Bắc và 104
độ 43’ đến 105 độ 07’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp với huyện Vị Xuyên, Phía
Đông, Đông Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía
Tây, Tây Bắc giáp huyện Hoàng Su Phì. Trung tâm huyện là thị trấnViệt
Quang, cách thị xã Hà Giang khoảng 60km.
Năm 2005, huyện Bắc Quang đƣợc chia tách thành hai huyện Bắc Quang
và Quang Bình, huyện Bắc Quang cũ gồm có 33 xã. Do việc phân chia lại địa
ranh, địa giới hiện nay Bắc Quang còn 21 đơn vị hành chính cấp xã: Tân Lập,
Tân Thành, Tân Quang, Việt Vinh, Đồng Yên, Vĩnh Phúc,Vĩnh Hảo, Hùng An,
Tiên Kiều, Việt Hồng, Quang Minh, Kim Ngọc, Vô Điếm, Bằng Hành, Hữu
Sản, Liên Hiệp, Đức Xuân, Thƣợng Bình, Đông Tâm, Đồng Tiến, Đông Thành
và hai thị trấn Việt Quang, Vĩnh Tuy. Năm 2005 dân số trung bình của huyện
Bắc Quang có 105.828 ngƣời, chiếm khoảng 16% dân số toàn tỉnh. Cƣ dân Tày
ở đây sống hiền hoà, đoàn kết với các dân tộc khác nhƣ Kinh, Dao, Mông,

Mặc dù ngƣời Tày giao tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ hệ Tày - Thái, nhóm ngôn
ngữ rất gần với Tiếng Việt về hệ thống ngữ pháp và âm thanh. Song chỉ những
từ ngữ về thiên nhiên, về sự vật hiện tƣợng trong sinh hoạt giao tiếp mới là của

14
ngƣời Tày, còn đa số là vay mƣợn của Tiếng Việt, tiếng Hán hoặc từ Hán Việt.
Về chữ viết của ngƣời Tày trong thời kỳ cổ đại không có nên lịch sử thành văn
của dân tộc rất ít ỏi và gần nhƣ không có, Bƣớc sang giai đoạn trung đại mới
xuất hiện chữ Nôm Tày, chữ Nôm Tày là thứ chữ phỏng theo chữ Hán của
ngƣời Trung Quốc mà đặt ra. Theo nhiều nhà nghiên cứu, nhìn từ góc độ văn
tự, thứ chữ này cũng có một vài nét khác với chữ Nôm Việt. Học giả Nguyễn
Văn Huyên là ngƣời đầu tiên có công nghiên cứu về kiểu chữ Nôm Tày và sau
này đƣợc học giả Đào Duy Anh tiếp tục nghiên cứu và khẳng định ý kiến của
Nguyễn Văn Huyên: “Chữ Nôm Tày do ảnh hƣởng chữ Nôm Việt mà ra và có
cấu tạo nhƣ chữ Nôm Việt” [49: 210-220]
Chữ Nôm Việt xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII đến XV sang đến cuối
thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII khi Mạc Kính Cung chuyển vƣơng triều lên Cao
Bằng đã để lại dấu tích về chữ Nôm Tày. Do đó có thể khẳng định chữ Nôm
của ngƣời Tày ra đời không muộn hơn so với chữ Nôm Việt thế kỷ XVI.
Bƣớc sang giai đoạn hiện đại, việc sử dụng chữ Nôm gặp nhiều khó khăn
do vốn từ tiếng Tày còn nghèo nàn trong các ngành hoạt động hành chính cũng
nhƣ khoa học. Năm 1954, một lớp trí thức Tày đã tự sáng tạo ra chữ La tinh
Tày nhƣng cũng không đƣợc phổ biến nhiều. Đến năm 1960, Đảng và Nhà
nƣớc ta mới có chủ chƣơng quan tâm xây dựng hệ thống chữ viết cho dân tộc
Tày theo lối chữ Quốc Ngữ bằng chữ cái Latinh. Trong cuốn Một vƣờn hoa
nhiều hƣơng sắc, nhà thơ Tày Nông Quốc Chấn đã nhận định: “Chữ Tày có vai
trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng phát triển nền văn hoá nghệ
thuật xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta…”
Trong những vùng sinh sống tập trung, dân cƣ Tày sử dụng song ngữ và
chữ viết Tày - Việt đã trở thành nét đặc thù phổ biến trong đời sống ngôn ngữ.

sinh… Sự tập trung dân cƣ đông đúc đã tạo điều kiện cho việc giao lƣu văn hoá
phát triển, các chàng trai, cô gái cùng làng, khác bản có thể Hát Iếu đối đáp với
nhau, tìm hiểu nên vợ thành chồng.

16
Trang phục của nam, nữ Tày ở đây chủ yếu mặc quần áo vải chàm, cùng
một kiểu: áo dài 5 thân, quần lá toạ. Đàn ông quấn khăn hay chít khăn kiểu chữ
nhân. áo nữ dài tới bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách phải, cài 5 khuy, thắt lƣng
bằng vải lanh hay đũi màu xanh, đỏ dài khoảng hai sải tay, đặc biệt họ thƣờng
tự tay mình dệt thêm những dải dây nhỏ, dài có nhiều hoạ tiết đẹp để trang trí
cho áo thêm đẹp, tiếng Tày gọi là “Thai Thửa”. Ở một số xã trong huyện phụ
nữ Tày còn mặc áo 5 thân bằng vải khác màu, hoặc áo cánh bằng vải nâu, vải
chàm tự nhuộm. Chị em phụ nữ thƣờng đeo vòng cổ, vòng tay và mang xà tích
bằng bạc hoặc vàng, đầu đội nón cọ tự làm…Họ thƣờng chọn những bộ trang
phục đẹp nhất để diện trong các dịp có lễ hội, đi chợ, các cuộc hát giao duyên.
+ Văn hoá ứng xử:
Trong mối quan hệ xã hội nhìn chung đồng bào Tày ở đây khá phát triển
nhƣng không đồng đều. Ở vùng thấp, dọc các đƣờng giao thông, gần các thị
trấn thị xã trình độ phát triển về các mặt gần bằng các vùng đồng bằng, tuy
nhiên ở những vùng giữa, vùng cao xa xôi hẻo lánh, trình độ phát triển còn
thấp, đặc biệt ở một số vùng còn tồn tại chế độ “Quăng” ( chế độ thổ ty) - Là xã
hội tiền phong kiến ra đời từ rất sớm, tồn tại từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ
XX mới tan dã dần… Kể từ thời Lý đến thời Trần, thời Hậu Lê, các tập đoàn
phong kiến muốn cai quản đƣợc các vùng xa xôi, vùng biên giới đều phải thông
qua các quý tộc, tù trƣởng các dân tộc để nắm giữ chính quyền, đất đai . Nên có
thời kỳ triều đình phong kiến đã phong cho bảy họ lớn ở các vùng miền là
“Thất tộc phiên thần” gồm có họ Nông, Ma, Nguyễn, Hoàng, Hà, Vi, Đinh.
Trong đó Hà Giang có bốn dòng họ là Nông, Nguyễn, Ma, Hoàng, có ngƣời
đƣợc phong tới chức quan Thái bảo, Thái phó, có ngƣời đƣợc phong tƣớc Quận
công. Đến trƣớc Cách Mạng tháng Tám năm 1945, các Quăng vẫn tồn tại và

nơi khác rất đông, có tới 4 - 5 thế hệ (cụ kị, ông bà, cha mẹ, con cái, cháu chắt)
nhiều đời cùng chung sống trong một mái nhà, song sống phổ biến nhất vẫn là
2- 3 thế hệ sống cùng nhau. Trong gia đình ngƣời Tày ở đây đều đƣợc xây

18
dựng theo thể chế và tục lệ hôn nhân một vợ, một chồng, mang tính phụ hệ.
Chủ gia đình là ngƣời chồng, điều khiển mọi công việc từ sản xuất đến sinh
hoạt trong gia đình, cộng đồng; vai trò của ngƣời đàn ông trong gia đình rất
đƣợc coi trọng, họ đƣợc tôn trọng hơn so với đàn bà. Tính chất phụ quyền trong
gia đình ngƣời Tày thể hiện rất rõ trong quan hệ giữa các thành viên trong gia
đình nhƣ vợ phải nghe lời chồng, giữa con dâu và các bậc trên có sự cách biệt
nghiêm ngặt nhƣ không đƣợc ngồi ngang hàng, ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu
với bố, anh chồng, không đƣợc tới chỗ ngủ và nơi dành riêng cho bố, chú, bác,
anh chồng. Một biểu hiện nữa của tính chất phụ hệ trong các gia đình của ngƣời
Tày là cách đặt tên và lấy họ cho con. Cũng giống nhƣ ngƣời Kinh ở chỗ, sinh
con ra đều lấy theo dòng họ và dân tộc của ngƣời cha. Việc con cái lấy theo
dòng họ ông - cha cũng chính là cách xác lập huyết thống, tông tộc, giống nòi.
Đi liền với thể chế này là những quy định về quyền và nghĩa vụ của ngƣời con
trai (kế thừa tài sản và chịu trách nhiệm cúng giỗ cha mẹ khi mất). Còn đối với
con gái không đƣợc hƣởng gia sản, trừ khi bố mẹ cho làm của hồi môn và phụ
thuộc vào ngƣời chồng của mình. Tuy vậy, ngƣời Tày không chuyên quyền độc
đoán, gia trƣởng mà những việc lớn chồng đều tham khảo ý kiến của vợ, ngƣời
vợ có vai trò quan trọng hỗ trợ chồng trong sản xuất, quản lý gia đình, tài sản,
nuôi dạy con cái trƣởng thành. Ngƣời Tày rất coi trọng việc giáo dục, dạy dỗ
con cái về đạo đức, nề nếp gia phong, đi đứng ở trong nhà và ngoài xã hội.
Trong vùng của ngƣời Tày ở Bắc Quang và một số huyện khác trong tỉnh
thƣờng có lời răn dạy con cháu bằng thơ gọi là “ bách giáo” ( 100 câu răn dạy)
khuyên bảo con cháu về lối sống đạo đức và các quan hệ xã hội.
+ Văn hoá tinh thần:
Tín ngƣỡng văn hoá của ngƣời Tày mang tính chất phức tạp, do cuộc

xuân - Lƣu Đài, Phạm Tứ - Ngọc Hoa, Đình Quân - Thị Xuân, Quảng Chân -
Ngọc Nƣơng…Ngoài ra còn có nhiều truyện cƣời, ca dao, tục ngữ, thành
ngữ…Đặc biệt ngƣời Tày ở Bắc Quang - Hà Giang cũng nhƣ ở một số nơi khác

20
có một số loại hình dân ca đáng coi trọng đó là Hát Lƣợn cọi, Hát Iếu, Hát quan
Làng, Phong Slƣ…
Tất cả những điều kiện trên tạo cho cƣ dân Tày ở Bắc Quang phát triển
một nền kinh tế toàn diện với nền văn hoá nông nghiệp lúa nƣớc đa dạng,
phong phú; sản sinh ra nhiều hình thức sinh hoạt văn học, nghệ thuật giàu bản
sắc đƣợc lƣu chuyển trong đời sống dân gian.
1.2 Khái quát về lƣợn
1.2.1 Khái niệm “Lượn”:
Lƣợn là một loại hình dân ca độc đáo của dân tộc Tày. Bằng nhiều cách
tiếp cận, công tác sƣu tầm nghiên cứu “Lƣợn” nói chung đã và đang mở ra
những triển vọng mới đóng góp cho việc giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa
dân gian của dân ca Tày. Cho đến nay nhiều ngƣời vẫn chƣa định nghĩa đƣợc
rõ ràng về loại hình nghệ thuật này. Tuy nhiên qua quá trình khảo sát, nghiên
cứu của một số ngƣời đi trƣớc, chúng tôi tập hợp lại những ý kiến nhƣ sau:
- Vi Hồng trong: Sli Lƣợn dân ca trữ tình Tày – Nùng, có đƣa ra một số
ý kiến sau:
Ý kiến của các cụ nho học:
+ Lượn là do từ “luân” và giải thích “luân” nguyên nghĩa là cái bánh xe
đang lăn. “Làm lƣợn” thì phải có bên lƣợn đi bên lƣợn lại, quay đi quay lại…
không khác gì cái bánh xe lăn hết vòng này laị đến vòng khác. Nghĩa là đối đáp
không dứt.
+ Lượn là do từ chữ “luyến” mà ra. luyến có nghĩ là móc vào nhau.
Cũng nhƣ ngƣời ta “ làm lƣợn” với nhau thì câu nị phải “móc” (ăn nhập) vào
câu kia và cả hai bên cũng đều muốn gắn bó với nhau. Tác giả cho rằng việc
tìm nguồn gốc từ lƣợn từ một nguồn gốc Hán là không thoả đáng, đành rằng

thƣởng thức.
- Các bài Lƣợn cọi (hát giao duyên): Là những bài hát đối đáp giao
duyên giữa nam nữ thanh niên, chứa đựng nội dung trữ tình trong sáng, lạc

22
quan, yêu đời; là loại dân ca phong phú và phát triển hơn cả trong đời sống tinh
thần của dân tộc Tày - Nùng, là nghệ thuật diễn xƣớng dân gian mang tính nghệ
thuật cao.
- Theo nghĩa rộng lƣợn chỉ toàn bộ kho tàng dân ca ngƣời Tày, bao gồm
cả Then ( lƣợn then), hát đám cƣới ( lƣợn quan làng), phuốc pác ( lƣợn Phuối
pác) và phong slƣ (lƣợn phong slƣ), cọi ( lƣợn cọi)…Theo nghĩa hẹp lƣợn chỉ
là những điệu hát giao duyên của ngƣời Tày. Cả hai cách hiểu trên đều có lí,
song có lẽ phổ biến hơn cả là cách gọi tên lƣợn theo nghĩa hẹp, tức là bộ phận
hát giao duyên đối đáp của ngƣời Tày.[Wikipedia Bách khoa toàn thƣ mở]
Về bản chất lƣợn ở các vùng về hình thức đều giống nhau, có khác là
khác ở giai điệu, tiết tấu. Cũng nhƣ tên gọi của Lƣợn Cọi, ở Bắc Quang - Hà
Giang gọi là Hát Iếu, ở Lục Yên - Yên Bái gọi là Khắp Cọi...
1.2.2. Khái niệm Hát Iếu
Đến nay chƣa có một khái niệm nào về Hát Iếu của dân tộc Tày ở Bắc
Quang - Hà Giang cũng nhƣ ở một số nơi khác.
Hát Iếu là thể loại hát dân ca chỉ dành riêng cho ngƣời chƣa vợ, chƣa
chồng. Tuy nhiên, trong thực tế do sức hấp dẫn của loại hình dân ca này nên
những ngƣời có vợ, có chồng, thậm chí là những ngƣời lớn tuổi đều có thể hát
nhƣng phải đƣợc sự ủng hộ, đồng tình của mọi ngƣời thì mới đƣợc hát. Tiếng
hát giao duyên trai gái trong Hát Iếu là vốn văn học cổ, là mạch nguồn văn hóa
đáng quý của dân tộc Tày Bắc Quang. Do vậy, trong đời sống tinh thần của
đồng bào Tày nơi đây, Hát Iếu không chỉ là một hình thức sinh hoạt văn hóa
mà còn thực hiện chức năng trao đổi tình cảm lứa đôi và biểu hiện nét đẹp
phong tục tập quán mang nội dung trữ tình đằm thắm, mƣợt mà.
Qua quá trình tiếp xúc, tìm hiểu chúng tôi tạm thời đƣa ra cách hiểu về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status