Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
==========
HOÀNG NGUYỆT ÁNH
LƯỢN TRỐNG TRONG TANG LỄ CỦA
NGƯỜI TÀY Ở BẮC QUANG – HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
Thái Nguyên - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỤC LỤC
Phần I: Mở đầu……………………………………………………… … 3
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………… 3
2. Lịch sử vấn đề………………………………………………………….4
2.2.1. Kể về tấm gương hiếu nghĩa của Đống Vịnh….…………………… 36
2.2.2. Kể về tấm gương hiếu nghĩa của Mạnh Tông…… … ……. . ……40
2.3. Bày tỏ nỗi buồn thương tiếc của người thân trong gia đình đối với người
đã khuất…………………………………………………………………… 46
2.3.1. Tình nghĩa vợ chồng……………………………………… ……… .46
2.3.2. Tình cảm của con cái đối với cha mẹ………………… … ……….59
Tiểu kết………………………………………………… ……………… 66
Chƣơng 3: Nghệ thuật tiêu biểu trong những bài lƣợn trống của ngƣời
Tày ở Bắc Quang - Hà Giang………………………………………….… .67
3.1. Thể thơ thường dùng trong hát lượn trống…………………………… 67
3.1.1. Thể thơ bốn chữ…………………………………………… …. 68
3.1.2.Thể thơ hỗn hợp…………….………………………………… …… .71
3.2. Thời gian và không gian nghệ thuật trong hát lượn trống………………77
3.2.1. Thời gian nghệ thuật…………………………………………… ……77
3.2.2. Không gian nghệ thuật…………………………………… …….88
3.3. Nhân vật trữ tình trong hát lượn trống 97
3.3.1. Hình tượng nhân vật trữ tình xuất hiện trong vai trò là người thân 98
3.3.2. Hình tượng nhân vật trữ tình xuất hiện trong vai trò là con cháu, họ
hàng và trong vai trò là người diễn xướng 105
Tiểu kết 112
Kết luận 113
Tài liệu tham khảo 117
Phụ lục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
làm đề tài nghiên cứu của mình. Hy vọng công trình nhỏ bé này sẽ góp phần
vào việc gìn giữ và bảo vệ bản sắc văn hóa tinh thần của dân tộc Tày. Đồng
thời mong muốn những nét văn hóa ấy sẽ luôn được phát huy trong đời sống
cộng đồng, trên cơ sở đó góp phần vào sự phát triển về kinh tế và văn hóa, xã
hội ở địa phương mình.
2. Lịch sử vấn đề.
Kế thừa những tín ngưỡng từ xa xưa, dân gian cho rằng chết là do sự
chuyển đổi sang một dạng thức tồn tại khác ở cõi vĩnh hằng. Đặc biệt với ảnh
hưởng của Nho giáo, chữ hiếu được đề cao hết mức và biểu hiện cụ thể thành
những nghi lễ tiết với quan niệm “ sự tử như sự sinh”. Do đó đối với người
chết, người ta cũng làm đầy đủ những thủ tục như đón một con người sinh ra
trên cõi đời này.
Việc tang lễ là một nét sinh hoạt tâm linh văn hóa trong tập tục truyền
thống của cộng đồng, do đó nghiên cứu vấn đề về tang lễ của dân tộc Tày đã
thực sự thu hút được nhiều một số nhà nghiên cứu, có thể kể đến các tác giả
như:
- Năm 2002 trong cuốn “Văn hóa dân gian Tày” của các tác giả Hoàng
Ngọc La, Hoàn Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn đã khái quát, giới thiệu chung về
những bài ca tang lễ. Trong đó các tác giả có đề cập tới loại hình “văn tế, văn
than dùng để ngâm kể trước vong linh người đã khuất. Thể văn dùng thất
ngôn, vần lưng. Nội dung có thể dựa vào những khúc ngâm có sẵn trong sách
vở đã ghi chép lại hoặc tang chủ nhờ người có học soạn lại, có ý nghĩa nhiều
mặt: lẽ tử sinh, đạo hiếu nghĩa, niềm thương tiếc, sự nguyện cầu phù trợ cho
người mai hậu….mà ở mặt nào cũng xúc động, bi thương.” [10, tr.213]
- Cuốn “Văn học dân gian” do Đinh Gia Khánh chủ biên, phần dân ca
có giới thiệu khái quát về nhóm các bài ca tang lễ. Theo tác giả thì bên cạnh
việc bày tỏ tình cảm thương tiếc người đã khuất, các bài ca tang lễ còn thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
thức lễ nghi dùng để than, để kể về công lao, công đức trước vong linh người
đã khuất nhằm tỏ rõ tình cảm thương tiếc, xót thương và trách nhiệm báo hiếu
của con cháu đối với hương hồn của người qua đời. Vì vậy mà nó được ngâm,
kể, hát khi trong nhà có tang lễ. Đây chính là một nét văn hóa mang đậm màu
sắc dân tộc, chứa đựng bên trong là yếu tố tín ngưỡng đã chi phối đời sống
tinh thần của người Tày. Dù đã được nói đến, nhưng loại hình trữ tình dân
gian này vẫn chưa thực sự được khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu có hệ thống.
Hiện nay mới chỉ có bản sưu tầm và dịch của bà Hoàng Thị Cấp, một
người Tày Ở Hà Giang chưa được in thành sách. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn
xem thành quả của của những người nghiên cứu đi trước là những ý kiến gợi
mở quý báu giúp chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích nghiên cứu.
- Tìm hiểu những bài lượn trống trong tang lễ của người Tày ở huyện Bắc
Quang, Hà Giang nhằm hiểu được bản sắc văn hóa của tộc người Tày về tâm
tư tình cảm, đạo lý, đạo hiếu mà người sống dành cho người đã mất.
- Hiểu thêm quan niệm của người Tày về cõi sống và cõi chết, cách ứng xử
của người Tày trong tang lễ.
- Góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của hát lượn trống
trong đời sống đương đại.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài.
- Sưu tầm một số bài lượn trống trong tang lễ của người Tày trong toàn
huyện. Phân tích khái quát, nghiên cứu tổng hợp những bài lượn trống trong
tang lễ của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang.
- Nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật của những bài lượn trống trong
tang lễ của người Tày ở Bắc Quang – Hà Giang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
5. Đối tƣợng nghiên cứu:
9. Bố cục của luận văn: Ngoài phần mở đầu, phần nội dung chính, phần kết
luận, tài liệu tham khảo. phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tế trong việc tìm hiểu lượn trống của người
Tày ở Bắc Quang - Hà Giang.
Chƣơng 2. Nội dung cơ bản của những bài lượn trống trong tang lễ của người
Tày ở Bắc Quang - Hà Giang.
Chƣơng 3. Nghệ thuật tiêu biểu của những bài lượn trống trong tang lễ của
người Tày ở Bắc Quang – Hà Giang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA VIỆC TÌM HIỂU
LƢỢN TRỐNG TRONG TANG LỄ NGƢỜI TÀY Ở BẮC
QUANG – HÀ GIANG
1.1. Tổng quan về tộc ngƣời Tày ở Bắc Quang - Hà Giang.
1.1.1. Vài nét về cộng đồng người Tày ở Hà Giang.
Trong đại gia đình Việt Nam, dân tộc Tày là cư dân bản địa và lâu đời
tộc thống nhất. Tuy nhiên ở các vùng khác nhau, thậm chí ở cùng một huyện,
họ cũng có nét địa phương rõ rệt trong sinh hoạt và tiếng nói, nhất là cách
phát âm, từ vựng cũng rất khác nhau. Chẳng hạn như người Tày ở huyện Bắc
Quang, về tiếng nói có thể chia làm 3 vùng khác nhau: vùng Trọng Con, vùng
Xuân Giang - Yên Bình, vùng Gia Tự - Nguyễn Thái Học. Ngoài ra tiếng Tày
ở vùng Bắc Quang cũng có sự khác biệt với tiếng Tày ở huyện Vị Xuyên, Tày
Đăm ở huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần…
1.1.2. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội và đời sống văn hóa.
1.1.2.1. Sơ lược về điều kiện tự nhiên.
Nằm ở vị trí cửa ngõ phía Đông Nam của tỉnh Hà Giang, Bắc Quang là
huyện có địa hình thấp hơn so với các huyện bạn trong toàn tỉnh. Nằm trong
tọa độ địa lý từ 22
o
10’ đến 22
o
36’ độ vĩ Bắc và 104
o
43’ đến 105
o
07’ độ kinh
Đông, phía Bắc của huyện Bắc Quang giáp với Vị Xuyên, phía Đông, Đông
Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Tây, Tây Bắc
giáp huyện Hoàng Su Phì, trung tâm huyện là thị trấn Việt Quang cách thị xã
Hà Giang khoảng 60 km.
Địa vực cư trú của người Tày ở Bắc Quang rất thuận lợi cho việc phát
triển nông, lâm nghiệp toàn diện và là vùng cung cấp nguyên, vật liệu cho sự
phát triển công nghiệp chế biến khai thác khoáng sản của tỉnh nhà. Thiên
nhiên đã rất ưu ái tạo cho vùng này những bãi bồi phù sa màu mỡ dọc theo hệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Dân tộc Tày sống từng thôn, bản có từ ba đến năm gia đình lớn, có làng
đông tới hàng chục nóc nhà quy tụ với nhau thành làng lớn. Nhiều gia đình rất
đông, có tới bốn đến năm thế hệ song sống phổ biến vẫn là hai đến ba thế hệ
trong cùng một mái nhà.
Hầu hết các gia đình người Tày đều được xây dựng theo thể chế và tục
lệ hôn nhân một vợ một chồng, mang tính chất phụ hệ. Nếu đi sâu vào tìm
hiểu mối quan hệ gia đình của người Tày ta có thể thấy, ở đó bao trùm một
tinh thần tương thân tương ái, bình đẳng dân chủ nội bộ khá sâu sắc giữa
chồng và vợ, giữa nam và nữ. Vì người Tày trân trọng, yêu quý người đàn bà,
người mẹ, người vợ, và con gá.
Từ những đặc điểm trên phải chăng những hình thức sinh hoạt văn hoá, văn
nghệ, văn hóa tín ngưỡng trong đó có hát Lượn trống… ra đời nhằm đáp ứng
nhu cầu giải toả những khát vọng tâm linh và tinh thần của họ.
+ Về đời sống văn hóa:
Cư dân người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang từ lâu vốn đã có một nền
văn hóa đa dạng và phát triển khá sớm cả về văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh
thần mang những nét rất độc đáo, phong phú riêng. Mặc dù người Tày giao
tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ hệ Tày - Thái, nhóm ngôn ngữ rất gần với Tiếng
Việt về hệ thống ngữ pháp và âm thanh. Tuy nhiên chỉ những từ ngữ về thiên
nhiên, về sự vật hiện tượng trong sinh hoạt giao tiếp mới là của người Tày,
còn đa số là vay mượn của Tiếng Việt, tiếng Hán hoặc từ Hán Việt.
Ngoài ra, về chữ viết của người Tày trong thời kỳ cổ đại do không có nên lịch
sử thành văn của dân tộc rất ít ỏi và gần như không có. Bước sang giai đoạn
trung đại mới xuất hiện chữ Nôm Tày, chữ Nôm Tày là thứ chữ phỏng theo
chữ Hán của người Trung Quốc mà đặt ra. Theo nhiều nhà nghiên cứu, nhìn
từ góc độ văn tự, thứ chữ này cũng có một vài nét khác với chữ Nôm Việt.
Học giả Nguyễn Văn Huyên là người đầu tiên có công nghiên cứu về kiểu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
25 đến 30 nhà, bản lớn có tới 60, 70 nhà, thậm chí có tới 100 nhà, có bản chỉ
có người Tày, có bản sống xen kẽ với các dân tộc khác. Nhà cửa của người
Tày ở đây thường dựng theo thế đất, đằng sau dựa vào đồi núi, phía trước
thường nhìn ra cánh đồng, sông suối, bên cạnh nhà có máng nước, ao cá,
hướng nhà thường căn cứ vào tuổi gia chủ…Nhà ở của họ phổ biến nhất là
nhà sàn, lợp lá cọ, nhà có điều kiện thì làm nhà gỗ tất cả xà, cửa…đều làm
bằng gỗ tứ thiết được bào nhẵn, ghép mộng cầu kỳ, kiến trúc trạm trổ đẹp
mắt, nhiều hoa văn. Nhà nghèo thì làm gỗ kê đá, lợp lá cọ, phên vách bằng
nứa đan… nhà thường chia làm 3 - 5 - 7 gian, có khi còn làm bếp riêng liền
với nhà chính từ 2 đến 3 gian. Xung quanh nhà được lắp cửa sổ bằng ván
hoặc tre nứa, mở thông thoáng nhìn ra phía trước, đằng sau nhà… Nhà sàn
của người Tày là loại nhà tổng hợp, gian giữa thường để bàn thờ tổ tiên, bếp
lửa, gian đầu nhà chỗ cầu thang lên thường là nơi tiếp khách, các gian phía
trong là chỗ ngủ của các thành viên trong gia đình, có bếp nấu ăn và cũng là
nơi tiếp khách của nữ giới, có gác để thóc ngô cùng các đồ dùng khác. Bên
cạnh nhà có chuồng chăn nuôi, ngày xưa nhiều nhà còn sử dụng ngay gầm sàn
để chuồng gia súc, công cụ sản xuất rất mất vệ sinh… nhưng ngày nay cùng
với sự phát triển của kinh tế xã hội đời sống văn minh hơn, chuồng lợn, chuồng
trâu, bò… đã được xây dựng riêng cách xa nhà để đảm vệ sinh phòng bệnh.
Trang phục của người Tày cũng rất độc đáo và khác biệt so với các dân
tộc khác. Y phục truyền thống của nam, nữ Tày ở đây chủ yếu mặc quần áo
vải chàm, cùng một kiểu: áo dài 5 thân, quần lá toạ. Đàn ông quấn khăn hay
chít khăn kiểu chữ nhân. áo nữ dài tới bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách phải, cài
5 khuy, thắt lưng bằng vải lanh hay đũi màu xanh, đỏ dài khoảng hai sải tay,
đặc biệt họ thường tự tay mình dệt thêm những dải dây nhỏ, dài có nhiều hoạ
tiết đẹp để trang trí cho áo thêm đẹp. Chị em phụ nữ thường đeo vòng cổ,
vòng tay và mang xà tích bằng bạc hoặc vàng, đầu đội nón cọ tự làm…Họ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
xuyên cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau rất đoàn kết hòa thuận. Cư dân ở đây
thường có tục “Tối vằn lèng” (Đổi công) để giúp nhau làm những việc cần
đông người như cấy, gặt hái, đám cưới…hay tục “Kết tồng” ( kết bạn) cùng
tuổi, cùng năm sinh tháng đẻ, không phân biệt dân tộc miễn là hợp nhau, khi
đã kết bạn tồng thì mọi công việc lớn nhỏ trong hai gia đình đều có nhau. Tình
bạn này rất được coi trọng dù đó là “Tồng” của con cái, vợ chồng hay ông bà…
Ngày nay những tục lệ này vẫn được giữ gìn và phát huy trong cộng đồng cư
dân ở đây. Sau những ngày làm việc vất vả, nặng nhọc thì những ngày ôn lại
truyền thống ông cha mình gắn liền với phong tục là các lễ nghi như trong đám
cưới, tang lễ… Trong tang lễ thì gồm nhiều bước, nhiều nghi thức và nhiều bài
ca được hát lên khi hành lễ, bởi người Tày ở đây có quan niệm riêng về cái
chết, về đạo hiếu của người thân dành cho người đã khuất.
Gia đình của người Tày ở Bắc Quang cũng giống như cư dân Tày ở
một số nơi khác rất đông, có tới 4 - 5 thế hệ (cụ kị, ông bà, cha mẹ, con cái,
cháu chắt) nhiều đời cùng chung sống trong một mái nhà, song sống phổ biến
nhất vẫn là 2-3 thế hệ sống cùng nhau. Trong gia đình người Tày ở đây đều
được xây dựng theo thể chế và tục lệ hôn nhân một vợ, một chồng, còn mang
tính tách biệt nghiêm ngặt. Một biểu hiện nữa của tính chất phụ hệ trong các
gia đình của người Tày là cách đặt tên và lấy họ cho con. Cũng giống như
người Kinh ở chỗ, sinh con ra đều lấy theo dòng họ và dân tộc của người cha.
Việc con cái lấy theo dòng họ ông - cha cũng chính là cách xác lập huyết
thống, tông tộc, giống nòi. Đi liền với thể chế này là những quy định về quyền
và nghĩa vụ của người con trai (kế thừa tài sản và chịu trách nhiệm cúng giỗ
cha mẹ khi mất). Còn đối với con gái không được hưởng gia sản, trừ khi bố
mẹ cho làm của hồi môn và phụ thuộc vào người chồng của mình. Tuy vậy,
người Tày không chuyên quyền độc đoán, gia trưởng mà những việc lớn
chồng đều tham khảo ý kiến của vợ, người vợ có vai trò quan trọng hỗ trợ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
gió hoà, cuộc sống ấm no, mùa màng bội thu, hạnh phúc. Ngày nay lễ hội
Lồng tồng vẫn được lưu giữ, phát huy và bảo tồn.
Văn học nghệ thuật và tri thức dân gian của người Tày rất phong phú
như kho tàng truyện thần thoại, cổ tích: Quả bầu, Pú luông – Gia cải, Nàng
Kháy,…còn lại các truyện phần lớn xuất hiện trong xã hội có giai cấp, mâu
thuẫn, xung đột, đấu tranh xã hội gay gắt như các truyện Thạch Sanh, Tống
Lăn, Hán xuân - Lưu Đài, Phạm Tứ - Ngọc Hoa, Quảng Chân - Ngọc
Nương… Ngoài ra còn có nhiều truyện cười, ca dao, tục ngữ, thành ngữ…
Đặc biệt người Tày ở Bắc Quang - Hà Giang cũng như ở một số nơi khác có
một số loại hình dân ca đáng coi trọng đó là Hát Lượn cọi, Hát Iếu, Hát quan
Làng, Hát lượn trống trong tang lễ,…
Tất cả những điều kiện trên tạo cho cư dân Tày ở Bắc Quang phát triển
một nền kinh tế toàn diện với nền văn hoá nông nghiệp lúa nước đa dạng,
phong phú; sản sinh ra nhiều hình thức sinh hoạt văn học, nghệ thuật giàu bản
sắc được lưu chuyển trong đời sống dân gian.
1.2. Khái quát về dân ca tang lễ và khái niệm lượn trống trong tang lễ.
1.2.1. Khái quát về dân ca tang lễ.
Trong quan niệm của người dân Việt Nam đặc biệt là dân tộc Tày, khi
nói đến sinh hoạt lễ nghi là nói tới một biểu hiện của mối quan hệ giữa con
người với con người, con người với thế giới tự nhiên và mối quan hệ giữa con
người với các thế lực siêu nhiên do chính con người tạo ra, mà ở đó thì mỗi
loại hình sinh hoạt nghi lễ thì lại luôn song hành với các hoạt động là các bài
ca nghi lễ.
Nhắc tới các bài ca nghi lễ hay dân ca nghi lễ đã có nhiều định nghĩa và
nhiều cách hiểu khác nhau. Song đầy đủ và dễ hiểu nhất có lẽ là định nghĩa
của giáo sư Đinh Gia Khánh trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam,
theo giáo sư : “Dân ca là những bài hát, câu hát dân gian trong đó có cả phần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn hay nói cách khác thì đó là việc đề cao
chữ hiếu, đề cao tình cảm gia đình, tình vợ chồng, cha mẹ con cái và anh chị
em - đề cao tình và nghĩa giữa người sống với người đã khuất.
Ngoài ra ta còn thấy rằng, khi đề cập đến việc tang lễ thì các nhà
nghiên cứu đều gắn nó với các tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến người chết.
Nói đến tôn giáo có nghĩa là chúng ta đã có sự tư duy về hai thế giới: thế giới
hiện thực và thế giới phi hiện thực - một thế giới chứa đựng nhiều điều bí ẩn
nhưng lại tồn tại trong tâm thức của đồng bào Tày và cả đồng bào Nùng. Vì
vậy mà mới có nhận định sau: “Ở nhiều dân tộc chúng ta còn nhận thấy rằng
dân ca tang lễ còn gắn chặt trong khuôn khổ các nghi lễ ma chay theo tập tục
truyền thống của cộng đồng trong đó ít nhiều có tính chất huyền bí của tư duy
vạn vật hữu linh của các tín ngưỡng dân gian nhiều khi che lấp hoặc lấn át các
yếu tố hiện thực, những cảm xúc thẩm mỹ tư duy sáng tạo nghệ thuật. Còn ở
một số dân tộc khác thì dân ca nghi lễ đã có ít nhiều thoát khỏi sự ràng buộc
của tín ngưỡng tôn giáo sơ khai để vươn tới những tình cảm chân thực của
con người. Ở đây dân ca nghi lễ mang phong cách trữ tình đậm đà, nhiều khi
đạt đến mức gây những cảm xúc thẩm mỹ khá sâu sắc của những sáng tạo
nghệ thuật ngôn từ, được thể hiện qua những cách diễn xướng sinh động khác
nhau” [8, tr.687].
Từ những khái quát, nhận định trên, chúng tôi nhận thấy dân ca
tang lễ là hệ thống những lời ca nhằm bày tỏ tình cảm, thái độ, sự trân trọng
của người sống khóc thương người đã chết và qua đó thể hiện được quan
niệm, tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc Việt Nam
1.2.2. Khái niệm lượn trống trong tang lễ.
1.2.2.1. Khái niệm “Lượn”
Khái niệm “Lượn” từ lâu đã trở thành một loại hình dân ca độc đáo của
dân tộc Tày và được biết đến rất nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
những lời khuyên bạn, là lời gọi rủ bạn tình, lời dỗ dành vỗ về bạn bè đồng
bào, đồng loại thân thương. Trong rất nhiều bài lượn những từ “khuyên bạn”,
“khuyên em” rồi những nhóm từ cố định : Rủ bạn, rủ anh, rủ em cùng đi vào
con đường tình nghĩa luôn luôn lặp đi lặp lại.
Theo nghĩa rộng lượn chỉ toàn bộ kho tàng dân ca người Tày, bao gồm
cả Then (lượn then), hát đám cưới (lượn quan làng), phuốc pác (lượn Phuối
pác) và phong slư (lượn phong slư), cọi (lượn cọi)…Theo nghĩa hẹp lượn chỉ
là những điệu hát giao duyên của người Tày. Cả hai cách hiểu trên đều có lí,
song có lẽ phổ biến hơn cả là cách gọi tên lượn theo nghĩa hẹp, tức là bộ phận
hát giao duyên đối đáp của người Tày.[Wikipedia Bách khoa toàn thư mở]
Về bản chất lượn ở các vùng về hình thức đều giống nhau, có khác là
khác ở giai điệu, tiết tấu.
1.2.2.2. Lượn trống trong tang lễ của người Tày.
Từ những khái niệm như đã trình bày ở trên về Lượn, hiểu theo nghĩa
rộng cũng như nghĩa hẹp thì Lượn là một loại hình sinh hoạt phong phú nằm
trong kho tàng dân ca người Tày từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức người dân và
trở thành nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong đời sống tinh thần của
dân tộc Tày nói chung.
Nếu như khái niệm lượn được xem là bộ phận hát giao duyên đối đáp
của người Tày thì khái niệm lượn trống trong tang lễ được hiểu như thế nào?
Hiện nay chưa có một định nghĩa cụ thể nào về khái niệm này và tên gọi của
nó chỉ xuất phát trong địa phương của người Tày ở Bắc Quang Hà Giang từ
lâu nay vẫn truyền nhau, tiếng Tày gọi lượn trống có nghĩa là “lượn tổng”.
Tuy nhiên qua tham khảo nhiều ý kiến của các nghệ nhân ở địa phương cũng
như những người đi trước chúng tôi xin được đưa ra cách hiểu về khái niệm
lượn trống trong tang lễ của người Tày như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23