DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA ĐỀ TÀI
Họ và tên
Trương Hồng Phúc
Đơn vị công tác
Lớp SP Ngữ văn K11
Nhiệm vụ được giao
Chủ nhiệm đề tài
Y Tròng Dal Lôngding
Lớp SP Ngữ văn K11
Thành viên
Vũ Thị Tuyết
Lớp SP Ngữ văn K12
Thành viên
H’Bêli Êban
UBND xã Hòa Phú – Thành viên
TP.BMT
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- Phòng Văn hóa và thông tin thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
- Bộ môn Văn học; Bộ môn Ngôn ngữ và Trung tâm Khoa học xã hội –
nhân văn Tây Nguyên, trường Đại học Tây Nguyên.
4.2.3 Tiểu kết........................................................................................................................32
4.3 GIÁ TRỊ CỦA LỜI HÁT KHÓC TRONG TANG LỄ CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THÀNH
PHỐ BUÔN MA THUỘT....................................................................................................33
4.3.1 Giá trị tinh thần...........................................................................................................33
4.3.2 Giá trị giáo dục............................................................................................................35
4.3.4 Tiểu kết........................................................................................................................37
KẾT LUẬN..........................................................................................................................38
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................41
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
2
Tên đề tài: Lời hát khóc của người Việt ở Thành phố Buôn Ma Thuột
Chủ nhiệm đề tài: Trương Hồng Phúc
Tel: 0935852189
Email: [email protected]
Đơn vị chủ trì: Khoa Sư phạm
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:
- Phòng Văn hóa và thông tin thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.
- Bộ môn Văn học; Bộ môn Ngôn ngữ và Trung tâm Khoa học xã hội –
nhân văn Tây Nguyên, trường Đại học Tây Nguyên.
Thời gian thực hiện: 01/2014 – 12/2014
1. Mục tiêu
Sưu tầm lời hát khóc trong tang lễ của người Việt tại thành phố Buôn
Ma Thuột nhằm chỉ ra những đặc điểm về nội dung, giá trị của nó đối với
đời sống tâm linh của người Việt ở thành phố Buôn Ma Thuột.
điểm chính của lời hát khóc về nội dung và giá trị.
SUMMARY
4
Title: “This is regretful crying lyrics in the vietnamese's funeral at
Buon Ma Thuot city”
Coordinator: Truong Hong Phuc
Tel: 0935852189
Email: [email protected]
Affiliation: Faculty of pedagogical
Cooperating Institution(s) and individual(s):
- Culture and information department of Buon Ma Thuot city, Dak Lak
province
- Literature subject, language subject, and Tay Nguyen humanity science society center, Tay Nguyen university.
Timeline: 01/2014 – 12/2014
1. Objectives
Collecting regetful crying lyrics in the vietnamese's funeral at Buon Ma
Thuot city is the way to show its characteristics about content and its value
toward the spiritual life of vietnam people at Buon Ma Thuot city.
2. The main contents
Researchers classified, arranged regetful crying songs with each its
themes. We analysed them to understand the target, characteristics, content,
and values toward the spiritual life of vietnamese at Buon Ma Thuot city.
3. Results
Regretful crying lyrics in the vietnamese's funeral is orginal art of folklore
which is showed in many activities of the funeral. Regretful crying songs is
lễ tang, chúng ta có thể nghe được những lời than khóc của thân nhân người
quá cố hòa lẫn vào những giọt nước mắt đau buồn vì mất đi người thân.
Những lời than trong tiếng khóc ấy là gì? Nó được thể hiện như thế nào? Đây
là một vấn đề mà hầu như chúng ta còn rất mờ nhạt, dù cho việc này vẫn diễn
ra rất phổ biến và dường như đã trở thành phản xạ trong tang lễ của người
Việt.
Buôn Ma Thuột là thành phố trung tâm của tỉnh Đăk Lăk, được thành
lập theo nghị định “thành lập thị xã Buôn Ma Thuột (Centre Urbain)” vào
ngày 5/6/1930 của Khâm sứ Trung kỳ. Lúc bấy giờ người Việt (kinh) lên lập
nghiệp tại tỉnh Đăk Lăk còn ít nên người Việt chỉ được tập trung ở thị xã
Buôn Ma Thuột, sinh sống thành một “làng người Kinh ở Buôn Ma Thuột lấy
tên là làng Lạc Giao với 160 dân và 152 685m2 diện tích” [10,21]. Hiện nay,
thành phố Buôn Ma Thuột dân số có gần 340.000 người, gồm 40 dân tộc cùng
sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có 55.590 người (chiếm 16,36%
dân số toàn Thành phố), còn lại là người Kinh (Việt).
Thành phố Buôn Ma Thuột đã trở thành nơi quy tụ của người Việt ở
khắp nơi trên cả nước. Có thể nói rằng đây là nơi quần cư, hội tụ của của cả
người Việt ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Đây là cơ hội để văn hóa
các vùng miền đất Việt được giao lưu, hội nhập lẫn nhau, tạo nên nét đặc sắc
tự nhiên về văn hóa người Việt ở thành phố cao nguyên đầy nắng và gió này.
Vấn đề sinh hoạt văn hóa tang lễ của người Việt ở thành phố Buôn Ma
Thuột không nằm ngoài sự giao lưu, tiếp biến văn hóa ấy. Cách thức tổ chức
tang ma theo văn hóa vùng miền tồn tại rất rõ nét; nhìn vào tang lễ của một tư
gia chúng ta có thể nhận biết ngay được đó là người Việt ở vùng miền nào;
điều này được thể hiện rõ nét thông qua lời hát khóc trong tang lễ.
Để có một cái nhìn tổng thể về vấn đề đáng quan tâm này, từ góc độ
văn hóa tâm linh, phong tục tập quán của người Việt và đặc điểm của người
7
ý. Phạm vi đề cập của những tác giả trên chủ yếu là tang lễ của người Việt ở
các tỉnh phía Bắc chứ chưa có tác giả nào nghiên cứu về tang lễ của người
Việt nói chung và lời hát khóc nói riêng tại địa bàn thành phố Buôn Ma
Thuột.
Việc thực hiện đề tài “Lời hát khóc trong tang lễ của người Việt ở thành
phố Buôn Ma Thuột” không chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết mà còn có ý
nghĩa về mặt thực tiễn.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu “lời hát khóc trong tang lễ của
người Việt”
Phạm vi: thông qua khảo sát, sưu tầm các bài hát khóc từ những nghệ nhân
hát khóc ở thành phố Buôn Ma Thuột.
9
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: sử dụng các tài liệu có liên quan làm
cơ sở cho đề tài.
Phương pháp điều tra, điền dã: được thực hiện thông qua một số tang
lễ, các đoàn kèn giải và một số nghệ nhân hát khóc trên địa bàn thành phố
Buôn Ma Thuột.
Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân loại nhằm sắp xếp, phân loại tư
liệu thu được theo từng nội dung, từng chủ đề.
Phương pháp phân tích được sử dụng để nhận diện đặc điểm về nội
dung, vai trò và giá trị của lời hát khóc trong tang lễ của người Việt ở
thành phố Buôn Ma Thuột.
Phương pháp chuyên gia được thể hiện thông qua hội thảo, seminar cấp
bộ môn để tham khảo ý kiến của các nhà khoa học về kết quả nghiên cứu
cháu khóc ông bà, anh chị em khóc nhau… Dân gian có câu “sống đèn dầu,
chết kèn trống” là nghĩa như vậy. Xét về một khía cạnh nào đó, đây là một
việc làm có văn hóa, một hình thức để tưởng niệm” [7,236]
Hay trong công trình “Việt Nam phong tục”, học giả Phan Kế Bính
cũng đã nhận định: “Thổi kèn giải: Trong những đêm ma còn quàn ở nhà, có
nhà mỗi tối mời phường bát âm gảy đàn thổi sáo và có phường tang nhạc
thổi kèn đánh trống. Con cháu, mỗi người thổi một câu khóc ông bà cha mẹ,
rồi thưởng tiền cho bọn ấy. Nhà nào không có kèn giải thì không vui” [2,32]
Như vậy, từ những nhận định này của các nhà nghiên cứu chúng tôi đưa
ra khái niệm hát khóc trong tang lễ của người Việt là: “Hát khóc chính là một
hình thức khóc, trong đó có đan xen giữa lời ai oán, kể lể bi thiết cùng với âm
thanh não nùng của dàn nhạc bát âm để làm bật lên sự thương tiếc, bi ai của
người còn sống đối với người đã chết”.
4.1.2 Mục đích hát khóc
Thứ nhất, hát khóc là cách để bày tỏ sự thương tiếc của người còn lại
đối với người ra đi. Để vơi bớt nỗi đau buồn, thông qua hát khóc con người có
11
dịp thể hiện cảm xúc của mình với người ra đi, gia đình, dòng họ và cộng
đồng; điều này có thể thấy rõ trong đoạn khóc sau:
“Công cha nghĩa mẹ phù lao
Trong công đức ấy biết bao nhiêu là
Than ôi (vai người mất) vội về già
Từ nay khuất bóng đường xa bụi trần
Con nay thương nhớ muôn phần
Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau
Nhớ ơn chín chữ cao sâu
Nghĩa (vai người mất) con để trên đầu hôm nay
Suối vàng (vai người mất) hỡi có hay
cảnh của một gia đình nông thôn, chuyên việc đồng áng, nhà đông con, nhưng
chỉ một mình cha lo việc kiếm tiền. Người cha này không quản nại mưa nắng
gió sương, khổ cực để nuôi con.
Thứ ba, hát khóc là cách để thể hiện ước mơ, khát vọng và triết lí sống
của dân gian. Con người không hề bế tắc, tuyệt vọng mà luôn mong muốn
người chết được thoát sanh về một cõi yên vui, được luân hồi trở lại làm
người. Khi quan sát các hoạt động trong tang lễ, cũng như trong hát khóc
chúng ta hiểu được quan niệm sinh tử của dân gian. Ví như bài khóc sau đây
cho người nghe cảm nhận được ước muốn của người ở lại:
“Xót thay con khóc mẹ cha
Nay đà yên nghỉ giấc an nghìn trùng
Hỡi ơi, tâm trí não nùng
Mông lung thiết nghĩ hướng về mẹ cha
Một là ước mẹ hóa sanh
Hai là con ước được thân làm người
Ước thứ ba nguyện cha cười thanh thoát
Để hồn kia giải thoát kiếp hồi luân
Con nguyện ước cho cha mẹ tiền kiếp
Được hậu sanh cũng chàng thiếp ngàn năm” [4,12]
Đó là lời nguyện ước của người con mong muốn cho thân sinh phụ mẫu
của mình được vãng sanh về miền cực lạc và cầu cho cha mẹ được hóa kiếp
13
làm người, mãi mãi bên nhau theo quan niệm luân hồi của dân gian người
Việt.
Như vậy, hát khóc chính là phương tiện để con người thể hiện những
ước mơ, khát vọng của mình về sự bất tử, không hề có sự chia ly, xa cách.
Điều này được thể hiện rõ ràng nhất qua hát khóc và các nghi lễ thực hiện cho
người quá cố trong tang lễ. Đây chính là sản phẩm được sáng tạo ra từ quan
trước khi di quan) dành cho người chồng hoặc ngược lại:
“Tôi dẫn hai chữ ái ân
Vợ chồng là nghĩa thiên xuân thọ trường
Bỗng đâu bóng đã xế tà
Những lời châu ngọc khéo ra vô tình
Hoặc là nghiệp chướng tiền sinh
Mà đâu đến nỗi bạc tình tại ai
Vì đâu phụ bạc đơn sai
Mà nàng (chàng) lỡ bước sang ngang cách lòng” [4,23]
Trong không gian tại tư gia của tang lễ người ta thường thể hiện những
lời khóc mang tính chất níu giữ vì không muốn rời xa người thân của mình.
Ngoài ra hát khóc còn được thể hiện ở trước linh vị và di ảnh nơi đặt bàn thờ
ở nhà của người mất sau khi đã an táng xong. Đây là khi những người bà con
ở xa về không kịp đám tang thì sẽ bày tỏ sự mất mát người thân ngay trước
trang thờ; đó có thể là lời thương tiếc của người chị đối với người em xấu số:
“Em ơi em, em đi đâu mà chị tìm chẳng thấy, khắp căn nhà quạnh
vắng đìu hiu, chị cứ ngỡ được gặp em cười nói, mà giờ đây chỉ thấy tấm
tranh này”. [4,27]
Địa điểm hát khóc thứ hai đó chính là ở khu mộ địa: người hát khóc sẽ
thể hiện những ý nguyện tốt đẹp sống ở thác về, mong cho người đã mất được
mồ yên mả đẹp mà thảnh thơi về bên kia thế giới:
“Bác ơi, số phận đã đành, nói sao cho hết nỗi lòng cháu con. Xưa ở
nhà cao che mưa che gió, nhưng lẽ đời thân tứ đại phải lìa, thế cho nên mời
bác về nhà mới mà yên nghỉ ở bên kia thế giới. Con cháu nguyện cho ngôi mả
khang trang để cho bác được an vui chín suối” [4,37].
Thường khi khóc, người còn sống có thể đứng trước, bên cạnh hay dưới
chân mộ phần của người mới mất liền cất lời than cho những người anh em,
15
16
Ôi! Thương ôi!
Người thế ấy, mà sao phận thế ấy, bỗng đâu số trời xui khiến.
Cõi âm dương, đôi ngả đã xa vời;
Vận đến đây, hay là mệnh đến đây, thắm đã nấm đất vun vùi.
Đường từ hiếu, trăm năm không gặp gỡ
Mắt trông thấy, đào sâu lấp kín, tủi nỗi lòng, chín khúc ngổn ngang;
Tai vẳng nghe, trống giục, chiêng hồi, đầy nước mắt hai hàng lã chã
Nay đã phân kim lập hướng, cầy được thỏa yên;
Gọi rằng bát nước nén hương, kính trần bái tạ” [4,3]
Đây là lời khóc được diễn xướng trong lễ thành phục (tức là nghi lễ để
tang hay còn gọi là phát tang), thể hiện sự thương xót, buồn tủi của người con
dành cho cha mẹ, hướng mong dâng lên bát nước, nén hương cho hai đấng
sinh thành; tuy đau đớn nhưng vẫn nguyện hướng cho hương linh mẹ cha
được yên ổn bên kia thế giới.
Nếu lúc mới lâm chung hay khi còn ở tư gia mỗi lời khóc cất lên là nỗi
đau thương, xót xa vô hạn của sự chia li, đau khổ thì khi hạ huyệt xong lời hát
khóc sẽ được thể hiện nhằm mục đích tỏ ý mong cầu mọi sự tốt đẹp ở thế giới
bên kia đối với người thân của mình, đó còn là lời nhắn gửi những điều cầu
chúc cho linh hồn ấy sẽ sớm được đầu thai kiếp khác hay được về cõi Niết
bàn (về miền cực lạc).
Tương tự như các nghi thức cúng tế cho người chết, hát khóc chỉ được
thể hiện đúng thời gian, địa điểm thì mới phát huy được vai trò và ý nghĩa của
nó. Được thực hiện như vậy mới phù hợp với tâm lý, đời sống tâm linh và tín
ngưỡng dân gian trong văn hóa lễ tang của người Việt.
4.1.3.2 Đối tượng của hát khóc
Đối tượng của hát khóc được chia làm 2 nhóm như sau:
Đối tượng thứ nhất là: người thân của người quá cố (gia đình, họ hàng,
lời hát khóc trong tang lễ của người Việt; qua đó người đọc có thể xác định
được khái niệm và những đặc điểm chính về loại hình nghệ thuật dân gian này
ở phương diện mục đích hát khóc và các đặc trưng của hát khóc như: không
gian, thời gian, đối tượng, chức năng… của lời hát khóc trong tang lễ của
người Việt để thấy được vai trò, vị trí của nó đối với đời sống tâm linh hiện
nay.
18
Quan trọng hơn, người đọc có thể nhận thấy nét văn hóa đặc trưng của
người Việt trên cao nguyên Ban Mê, đó không phải là văn hóa của một vùng
miền nào mang đến, cũng không hoàn toàn bị pha trộn để trở thành nét văn
hóa riêng của vùng đất này. Bên trong nét đẹp văn hóa của người Việt ở thành
phố Buôn Ma Thuột luôn tồn tại song song hai yếu tố: chung và riêng; chung
là do sự giao lưu, tiếp biến văn hóa của người Việt ở các vùng miền mang lại
và riêng chính bởi sự gìn giữ nét đẹp văn hóa của con người mỗi vùng miền.
Vấn đề này được thể hiện trong rất nhiều các lĩnh vực văn hóa của đời sống,
đặc biệt là trong tang lễ.
4.2 ĐẶC ĐIỂM VỀ NỘI DUNG CỦA LỜI HÁT KHÓC TRONG TANG LỄ
CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
4.2.1 Phân loại
Qua quá trình thu thập và khảo sát, chúng tôi thu được 150 bài hát khóc từ
12 nghệ nhân khác nhau trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên
trong quá trình xử lí và phân loại tư liệu, chúng tôi chỉ ghi nhận 90 bài do có
sự trùng lặp bài hát khóc giữa các nghệ nhân. Dựa trên nội dung và thời điểm
hát khóc, chúng tôi phân thành 2 loại như sau:
19
tế, có như vậy mới hợp lẽ” [6,9].
20
4.2.1.2 Lời hát khóc theo vai
Ngoài những bài hát khóc được dùng trong nghi lễ cúng tế thì vào những
thời gian còn lại của lễ tang dành cho việc phúng viếng và khóc than người
chết. Người thân trong gia đình, họ hàng, anh em, hàng xóm muốn khóc than
cho người chết bằng lời khóc của mình hay mướn nghệ nhân của đoàn kèn
giải đều được. Nhưng quan trọng là phải làm nổi bật rõ mối quan hệ của
người hát khóc với người mất, có như vậy mới thể hiện được tình cảm và sự
đau xót.
Lời hát khóc tự nhiên
Qua khảo sát thực tế, các nghệ nhân hát khóc đều cho biết rằng, lời khóc tự
nhiên chính là nỗi lòng, là tâm tư của người còn sống dành cho người mất.
Khóc như thế nào phụ thuộc vào cảm xúc tự nhiên của người còn sống, chứ
không phải là khóc theo lời của những bài hát khóc được viết sẵn. Tuy nhiên,
chúng tôi cũng ghi nhận được một số lời hát khóc tự nhiên ở các bài: Con
khóc cha mẹ 6, con khóc mẹ, vắng mẹ, đời cha…
Phân tích bài khóc “đời cha”:
“Cha đà yên nghỉ bên bờ đê, gốc nhãn.
Bỏ đàn con thơ, cui cút tháng ngày.
Mới hôm qua còn thấy cha bệ vệ, oai phong,
Dang tay lớn che chở đàn con nhỏ.
Việc đồng ruộng cha giành làm lớn, để mẹ con ở nhà với đám con.
Mới năm ngoái trời còn hạn, khô héo,
Một mình cha toan ghánh nước đưa phân.
Con thơ dại nhìn cha gầy than khóc, đói bát cơm tinh, cỗ thịt ngon lành.
Ôi cha ơi!
(Số người con) miệng ăn nheo nhóc, thân cha lăn, góc bể chân trời.
Ví như trong bài khóc “con khóc cha 1”, ta nhận thấy: từ ngữ được trau
chuốt, những câu văn có vần có nhịp rất rõ ràng làm tăng tính biểu cảm cho
người nghe: “Trăm năm là một cuộc đời. Cha nay rời bỏ cửa nhà ra đi. Bây
giờ mưa gió một khi. Chúng con chưa chút đền gì trúc mai…” [4,13].
Người khóc (nghệ nhân) mượn vai người con trong gia đình để than khóc
về sự ra đi đầy đau thương, mất mát của cha mình; trong lời khóc ấy chúng ta
22
nhận thấy rất rõ sự khác biệt đối với lời hát khóc tự nhiên: một bên là những
lời than kể hết sức mộc mạc, giản dị, lời khóc theo ý nghĩ; còn một bên là
những câu khóc như thơ văn. Có như vậy mới tạo nên cảm xúc cho người
khóc giống hệt như vai gốc mà mình đang mượn
Như vậy, lời hát khóc theo vai tự nhiên hay của các nghệ nhân đều làm nổi
bật vấn đề tình cảm, vai vế của người còn sống đối với người đã khuất; tuy
nhiên ở loại thể này thì có thể hát khóc bất cứ lúc nào có nhu cầu chứ không
như những bài khóc trong nghi lễ.
4.2.2 Đặc điểm về nội dung
4.2.2.1 Mối quan hệ của người còn sống đối với người chết
Hát khóc trong tang lễ là một phần của phong tục tập quán người Việt
được diễn xướng trong không gian của lễ tang nhằm tưởng nhớ, thể hiện tình
cảm của mình đến những người đã qua đời thông qua những lời khóc kể.
Chính vì thế lời hát khóc nào cũng thể hiện rõ mối quan hệ của người
còn sống đối với người đã khuất. Mỗi lời khóc cất lên là một sự đau thương
đến tột cùng vì mất đi người thân. Thế nhưng bao hàm trong những lời hát
khóc ấy lúc nào cũng hiển hiện lên cách xưng hô của người khóc và người
mất; đồng thời đó là những lời kể về tình cảm thật giữa hai bên.
Bài hát khóc sau cho ta cảm nhận rõ điều ấy:
“Cháu nay còn ở nơi xa
Nghe tin điện báo cháu đứng ngồi không yên
Hôm nay (vai người mất) vội quy tiên
Con thương con nhớ con phiền lòng con
Tưởng rằng (vai người mất) thọ trăm xuân
Ngỡ đâu (vai người mất) vội từ trần ra đi
(Vai người mất) nay gối đất năm sương
Bao giờ con gặp được người cửu nguyên?” [4,10]
Bài khóc chính là lời của tất cả những người con khóc trong tang lễ của
cha (mẹ) mình: “Bây giờ mưa gió một cơn. Chúng con chưa chút đền ơn sinh
thành”. Hát khóc không phải lúc nào cũng chỉ là lời khóc của một thành viên
mà cũng có thể đó là lời của cả tập thể, bài khóc trên đây là một ví dụ. Mối
quan hệ giữa người mất và người còn sống ở đây chính là tất cả những người
con ruột thịt khóc than cho cha (mẹ). Lời khóc ấy không phải của một người
24
mà là tâm nguyện chung của tất cả các con, bởi sự day dứt chưa báo nghĩa
đền ân cha mẹ mà họ đồng thanh xót xa như vậy: “Lẽ thường chưa có một
hai báo đền”.
Qua đây ta nhận thấy, điều bắt buộc trong lời hát khóc là phải thể hiện
được mối quan hệ giữa người sống và người chết. Mối quan hệ này là trong
dòng tộc hay ngoài dòng tộc, thân tình hay xã giao đều hiện lên ở mỗi lời
khóc. Chính vì thế nội dung nổi bật, rõ nét nhất trong lời hát khóc là thể hiện
mối quan hệ của người sống và người chết.
Trong những ví dụ sau cũng tương tự như thế:
“Cha sinh con lớn là trai
Tình cha con sớm phân hai thế này” [4,14]
Qua câu trên ta nhận ngay ra được người khóc chính là con trai trưởng
(trai lớn) đang khóc than cho người cha quá cố của mình.
Còn đây lại là lời khóc của người con thứ:
“Con là trai gọi thứ (thứ tự của người con trai thứ)