Hệ thống các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người tày ở huyện tràng định, tỉnh lạng sơn - Pdf 69

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––

HỨA THỊ LIỄU

HỆ THỐNG CÁC BÀI KHÓC THAN TRONG
NGHI LỄ TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2020


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––

HỨA THỊ LIỄU

HỆ THỐNG CÁC BÀI KHÓC THAN TRONG
NGHI LỄ TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM


thạc sĩ khóa 2018 - 2020, cũng như giúp đỡ tôi các thủ tục cần thiết trong quá
trình học tập và bảo vệ luận văn.
Cảm ơn tất cả bạn bè, người thân đã luôn động viên, khuyến khích tôi
vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Do thời gian có hạn và với năng lực còn nhiều hạn chế nên đề tài không
thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 6 năm 2020.
Tác giả luận văn

Hứa Thị Liễu

ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................... iii
MỞ ĐẦU............................................................................................................ vi
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề.................................................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................
7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................
7
5. Phương phương pháp nghiên cứu..................................................................... 8
6. Đóng góp mới của luận văn.............................................................................. 9
7. Cấu trúc của luận văn .....................................................................................

2.2. Văn hóa ứng xử với người chết của các thành viên trong gia đình............ 38
2.2.1. Tình cảm thủy chung sâu nặng giữa vợ chồng........................................ 38
2.2.2. Tình cảm, lòng biết ơn của con trai, con dâu với cha mẹ........................ 43
2.2.3. Tình cảm, sự biết ơn của con rể đối với cha mẹ vợ................................. 45
2.2.4. Tình cảm, sự biết ơn của con gái dành cho cha mẹ................................. 48
2.2.5. Ngợi ca tình cảm gắn bó, khăng khít của hai bên thông gia ................... 55
2.3. Văn hóa ứng xử với cộng đồng của người Tày qua các bài khóc than
trong tang ma ..................................................................................................... 59
2.3.1. Ứng xử với thầy cúng .............................................................................. 59
2.3.2. Ứng xử với bạn bè, hàng xóm láng giềng ............................................... 61
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 65
Chương 3: CÁC BÀI KHÓC THAN TRONG NGHI LỄ TANG MA
CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN TRÀNG ĐỊNH NHÌN TỪ PHƯƠNG
DIỆN NGHỆ THUẬT ..................................................................................... 66
3.1. Kết cấu ........................................................................................................ 66
3.1.1. Mở - kết bằng lời than khóc .................................................................... 66
3.1.2. Kết cấu trùng điệp.................................................................................... 70
3.2. Hệ thống các từ vựng đặc trưng ................................................................. 77
3.2.1. Các từ ngữ chỉ quan hệ trong gia đình .................................................... 77
3.2.2. Các từ, ngữ chỉ cái chết trong các bài khóc than..................................... 79
3.2.3. Các từ ngữ chỉ thời gian, không gian ...................................................... 80

4


3.3. Giọng điệu .................................................................................................. 84
3.3.1. Giọng điệu xót xa, ngậm ngùi ................................................................. 84
3.3.2. Giọng điệu ân cần, yêu thương................................................................ 87
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 90
KẾT LUẬN....................................................................................................... 92


88

4

Bảng 3.2.3a. Các từ ngữ chỉ thời gian trong các bài khóc than

90

5

Bảng 3.2.3b. Các từ ngữ chỉ không gian trong các bài khóc than

92

Bảng 3.3. 1 Những từ ngữ, hình ảnh có giá trị biểu cảm mạnh
6
7

96

trong các bài
Bảng 3.3.2. Hệ thống các thán từ trong các bài khóc than.

vi

97


1

giáo huấn con cháu mọi thế hệ biết giữ đạo hiếu làm người, nhất là văn hóa ứng
xử khi trong gia đình, làng bản có người mất. Tất cả những điều đó có giá trị
hết sức quan trọng cần thiết được nghiên cứu bằng các công trình nghiên cứu.
1

Luận văn là sản phẩm của đề tài nhà nước mã số: ĐTĐLXH-01/18
Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 (tr 134)
3
Thống kê của UBND huyện Tràng Định năm 2012
2

1


Hơn hai thập kỉ qua, Việt Nam bước vào giai đoạn mở cửa và hội nhập
quốc tế, văn hóa cổ truyền của người Tày nói chung và phong tục tang ma nói
riêng cũng đã có nhiều thay đổi. Là người dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên ở xã
Đại Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, hơn nữa lại là một nhà giáo, tôi
rất băn khoăn trước tình trạng nhiều giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc mình
đang bị mai một, pha tạp, không được coi trọng đúng mức; thế hệ tr ngày càng
ít người biết đến những giá trị văn hóa truyền thống - trong đó có các bài khóc
than trong nghi lễ tang ma.
Với mong muốn thể hiện tình yêu với dân tộc, với tiếng mẹ đ và nguyện
vọng tha thiết góp một phần sức lực trong việc tìm hiểu nhằm bảo tồn và phát
triển vốn văn hóa của dân tộc Tày, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài Hệ thống các
bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định,
tỉnh Lạng Sơn làm luận văn tốt nghiệp cho mình.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Các nghiên cứu về tang ma của người Tày
Nghi lễ tang ma là một phần quan trọng trong văn hóa của dân tộc Tày.

điểm khác biệt. Vì vậy, những nghiên cứu mang tính chất khái quát như Hoàng
Quyết và Tuấn Dũng cần thiết phải bổ sung các nguồn tư liệu thu thập từ điền
dã ở từng địa phương cụ thể.
Tiếp đến phải kể đến cuốn sách Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam do
tác giả Bế Viết Đẳng chủ biên (1984), Nhà xuất bản Khoa học xã hội[14].Các
tác giả đã dành một phần riêng 14 trang (từ trang 213 - trang 226) cho việc
trình bày những nghi lễ liên quan đến làm ma ở trong nhà cũng như cách thức
mai táng và hình thức để tang của các dân tộc Tày - Nùng (chủ yếu vùng Việt
Bắc). Trong công trình này mặc dù các tác giả đã dành một phần riêng để
nghiên cứu, song chỉ được tiếp cận dưới dạng các thông báo, từ việc điểm qua
về người chết, cách ứng xử với người chết, các lễ thức sau khi chết,… mà chưa
có phân tích nghiên cứu chuyên sâu theo từng dân tộc cụ thể. Do đó, công trình
này cũng chỉ mang tính sơ lược cần được bổ sung.
Luận án Tiến sĩ Lịch sử Tang ma của Người Nùng Phàn Slình ở Thái
Nguyên của Nguyễn Thị Ngân (2011) trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân

3


văn Hà Nội. Tác giả đã phân tích khá cặn kẽ các nghi lễ tang ma của từng đối
tượng. Tang ma của người chết bình thường là quá trình thực hành của 34 nghi
lễ; tang ma của thầy cúng gồm 42 nghi lễ và của người chết không bình thường
có thêm một số nghi lễ để hóa giải sự rủi ro, cùng những ứng xử của gia đình,
dòng họ, cộng đồng trước, trong và sau khi đưa ma đến khi mãn tang. Dù làm
ma cho đối tượng nào cùng đều nhờ thầy Tào cầu cúng, dẫn độ linh hồn người
chết về với tổ tiên ở trên trời. Trên cơ sở những hiểu biết như vậy, tác giả cũng
đã tập trung đánh giá hiện trạng các nghi lễ tang ma trong đời sống tinh thần
của người Nùng, để từ đó đưa ra những kiến nghị đề xuất phát huy những yếu
tố tích cực trong giai đoạn hiện nay. Về cơ bản nghi lễ tang ma của người Nùng
cũng gần giống với nghi lễ tang ma của người Tày, do đó chúng tôi có thể tiếp

trong nghi lễ tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định góp phần bổ sung và
phát triển nguồn tư liệu trên là rất cần thiết.
2.2. Một số nghiên cứu về khóc than trong tang ma của các tộc người thiểu
số
Việc tang lễ là một nét sinh hoạt tâm linh văn hóa trong tập tục truyền
thống của cộng đồng, do đó nghiên cứu vấn đề về tang lễ của dân tộc Tày nói
chung và các bài khóc tang nói riêng đã thực sự thu hút được nhiều một số nhà
nghiên cứu, có thể kể đến các tác giả như:
Cuốn Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh chủ biên, phần dân
ca có giới thiệu khái quát về nhóm các bài ca tang lễ. Theo tác giả thì bên cạnh
việc bày tỏ tình cảm thương tiếc người đã khuất, các bài ca tang lễ còn thể hiện
quan niệm về sự hình thành thế giới, hay về sự ra đời của con người…những
bài hát đó không làm chức năng cầu khẩn như những bài nghi lễ nông nghiệp
mà thực sự thuộc về tôn giáo và tín ngưỡng dân gian có chức năng tiễn đưa linh
hồn người chết về thế giới bên kia. [26, tr.312]
Năm 1999, trong cuốn Việc tang lễ cổ truyền của người Tày tác giả
Hoàng Tuấn Nam [39] có bài nghiên cứu khá chi tiết về việc tang lễ cổ truyền
của người Tày nhưng mới chỉ dừng lại ở phạm vi huyện Hòa An Cao
Bằng.Trong cuốn Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng (2009) của Nguyễn Thị Yên
có giới thiệu khá chi tiết về tang lễ cũng như trình tự các thủ tục tiến hành tang
lễ, thành phần tham gia vào tang lễ cổ truyền của người Tày ở Cao Bằng. Đặc
biệt, tác giả còn nhắc đến lối hát thợ và giới thiệu sơ lược về hình thức diễn
xướng của nhóm thợ trong
5


đám tang của người Tày.Thông thường thì nhóm thợ sẽ sử dụng 3 quyển sách
chính vào nội dung hát trong tang lễ xoay quanh vấn đề đạo hiếu. Tuy vậy tác
giả cũng mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái quát chung chứ chưa đi sâu vào
phân tích, lý giải nội dung của hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh này. [70,

thực nhất về hệ thống các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở
huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Tìm hiểu các yếu tố về nội dung và nghệ thuật trong khóc than tang ma
của người Tày, tìm ra được nét độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Tày
ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học bảo tồn và phát huy một
hình thức diễn xướng nghệ thuật dân gian độc đáo, nhân văn của người Tày ở
huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến
đề tài.
- Thu thập tư liệu, khảo sát, tổng hợp tư liệu, văn bản hóa, phiên âm, đối
dịch (dịch từ, dịch nghĩa, dịch văn học), hệ thống hóa các bài khóc than trong
tang ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Khảo sát, thống kê, đánh giá về thực trạng sử dụng các bài khóc than
trong đời sống của người dân ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Chỉ ra giá trị nội dung và nghệ thuật của các bài khóc than trong tang ma
của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu các phương diện nội
dung và nghệ thuật trong hệ thống các bài khóc than tang ma truyền thống của
người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Phạm vi nghiên cứu:
- Tư liệu nghiên cứu chính là hệ thống bài khóc than trong nghi lễ tang
ma của người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn do chúng tôi tự sưu tầm
và văn
7


bản hóa. Ngoài ra, chúng tôi tham khảo thêm một số văn bản chép tay (chưa


- Phương pháp phân tích văn bản
Đây là phương pháp nhằm phân tích, lí giải những đặc điểm về phương
diện nội dung và hình thức nghệ thuật của các bài khóc than trong tang ma của
người Tày ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Đề tài cũng chú trọng đến việc
sử dụng các thủ pháp thống kê, phân loại, phiên âm, đối dịch, phân tích ngữ
nghĩa nhằm xử lí các bài hát khóc than về mặt tư liệu. Bằng các thủ pháp phân
tích kết hợp giải thích, chứng minh…, đề tài sẽ làm rõ đặc điểm của các bài
khóc than trên hai phương diện chính là nội dung và hình thức.
- Phương pháp liên ngành
Đây là cách thức tổ chức, tiến hành nghiên cứu có sử dụng quan điểm, tri
thức và phương pháp nghiên cứu của một nhóm chuyên gia thuộc nhiều ngành
khác nhau để giải quyết vấn đề một cách toàn diện, khách quan và hiệu quả
nhất. Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tham khảo, sử dụng tri thức
của nhiều ngành khác nhau như: Lịch sử, Địa Lý, Văn học, Văn hóa, Triết học,
Tôn giáo học.
- Phương pháp tổng hợp, so sánh cũng được chúng tôi sử dụng để có thể chọn
lọc, đối chiếu nguồn tài liệu nhằm rút ra các nhận định, các điểm riêng và
chung về phương diện nội dung và nghệ thuật góp phần hoàn thành mục tiêu
nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra.
- Ngoài ra chúng tôi cũng đã tiến hành thu thập hệ thống hóa và xử lý các nguồn
tư liệu đã có từ các sách, báo, tạp chí, kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án
nghiên cứu ở trong nước, các báo cáo của cơ quan trung ương và địa phương có
liên quan đến đề tài.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Ý nghĩa lý luận:
Luận văn là công trình sưu tầm và nghiên cứu tổng thể, có hệ thống đầu
tiên về hệ thống các bài khóc than trong tang ma của cộng đồng người Tày tại
huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.


huyện Tràng Định nhìn từ phương diện nội
dung.


Chương 3: Các bài khóc than trong nghi lễ tang ma của người Tày ở
huyện Tràng Định nhìn từ phương diện nghệ
thuật.


NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số đặc điểm tự nhiên, đời sống văn hóa xã hội huyện Tràng Định
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Tràng Định là một huyện vùng cao biên giới, nằm ở phía Bắc của tỉnh
Lạng Sơn, ở 22012’33’’ đến 22018’30’’ vĩ tuyến Bắc và 106027’33’’ đến
106030’00’’ kinh độ Đông; có tổng diện tích tự nhiên là 999,62 km; trong đó
diện tích đất rừng có 91,145 ha chiếm 94% tổng diện tích tự nhiên. Thị trấn
Thất Khê cách thị xã Lạng Sơn 70 km theo quốc lộ 4A. Phía Bắc giáp huyện
Thạch An - Cao Bằng, phía Tây giáp Na Rì - Bắc Kạn, phía Nam và Tây Nam
giáp hai huyện Bình Gia và Văn Lãng - Lạng Sơn, phía Đông và Đông Bắc
giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa, gồm 4 xã biên giới với tổng
chiều dài đường biên giới là 53 km. Vị trí địa lí đó đã tạo điều kiện thuận lợi
cho Tràng Định giao lưu kinh tế, văn hoá- xã hội với các vùng khác, tỉnh khác
đặc biệt là với cả quốc gia láng giềng Trung Quốc. Do vậy, từ xưa thị trấn Thất
Khê - Tràng Định đã nổi tiếng là một châu, huyện phát triển sầm uất.
Địa hình huyện Tràng Định chia làm hai khu vực tương đối phức tạp,
gồm vùng đồi núi có độ cao trung bình 450 - 500 m, độ dốc lớn trên 25% chiếm
tới 96% tổng diện tích đất rừng và vùng cánh đồng Thất Khê. Tuy địa hình
phức tạp nhưng Tràng Định có một phong cảnh thiên nhiên hữu tình tươi đẹp.
Những ngọn núi nối tiếp nhau chạy vòng quanh ôm lấy cánh đồng Thất Khê

hạ thịnh hành gió Đông Nam, Nam và Tây Nam, nhiều giông và nhiều mưa, có
năm chịu ảnh hưởng của bão.
Nhìn chung, Tràng Định là một huyện vùng cao biên giới có nhiều tiềm
năng: đất đai, tài nguyên rừng, động thực vật phong phú, tiềm năng du lịch và
dịch vụ… Đồng thời, có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội.
Tự nhiên chính là tiền đề vật chất để con người sinh sống, là môi trường để con


người hoạt động đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên. Những đặc điểm tự nhiên là
yếu tố quan trọng quy định tính chất của nền văn hoá và sinh hoạt văn hoá - xã
hội của người dân nơi đây.
1.1.2. Một số đặc điểm về đời sống văn hoá xã hội
1.1.2.1. Đặc điểm đời sống văn hoá xã hội của nhân dân các dân tộc huyện
Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn
Văn hoá Lạng Sơn hay còn gọi là văn hoá xứ Lạng là một tiểu vùng của
văn hoá lớn, đó là “vùng văn hoá Việt Bắc” nước ta. Đặc điểm lớn nhất của
“vùng văn hoá Việt Bắc” là văn hoá lòng chảo, thung lũng, làm ruộng lúa nước
là chủ yếu. Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao, có ảnh hưởng
lớn đến các dân tộc thiểu số trong vùng, là dân tộc Tày, Nùng.
Văn hoá Tràng Định là một bộ phận hữu cơ của tiểu vùng văn hoá xứ
Lạng. Văn hoá các dân tộc ở đây rất phong phú, thể hiện đa dạng văn hoá cấp
độ dưới tiểu vùng (cảnh quan, lãnh thổ) trong văn hoá nhóm ngôn ngữ và tiếng
dân tộc riêng biệt, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.
Tràng Định là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, trong đó có 6 dân tộc có
số dân đông nhất là Tày, Nùng, Dao, Kinh, H’Mông, Hoa và một số dân tộc
khác số dân ít ỏi đến làm ăn sinh sống. Vì vậy sắc thái các nhóm văn hoá ngôn
ngữ ở Tràng Định phong phú, đa dạng như nhóm ngôn ngữ Tày- Thái (Tày và
Nùng), Dao - Mông, Hán (Hoa) và Việt - Mường (Kinh); chỉ vắng mặt nhóm
ngôn ngữ Môn - Khơme, Tạng - Mianma, Ka đai.
Do địa hình phức tạp nên sự phân bố dân cư của các dân tộc theo từng

hàng hoá và là nơi các dân tộc, các vùng giao lưu về văn hoá, kinh nghiệm sản
xuất… Ở các xã vùng cao đều có chợ phiên riêng phục vụ nhu cầu của người
dân, song chợ Thất Khê (trước kia gọi là Cẩu Pung) vẫn là nơi nhộn nhịp nhất,
là trung tâm diễn ra các hoạt động giao lưu giữa các dân tộc trong huyện.


Nói đến Tràng Định không thể không nói đến truyền thống yêu nước và
cách mạng. Từ xa xưa, Tràng Định là lãnh thổ không tách rời của Việt Nam.
Từ khi có Đảng và Bác Hồ, truyền thống cách mạng được hun đúc, tôi luyện
trở thành ngọn lửa thử vàng. Tràng Định có vinh dự lớn được nằm trong cái nôi
của cách mạng Việt Nam, nằm trong chiến khu Cao - Bắc - Lạng, nơi đóng vai
trò quý báu trong nền khởi nghĩa và cách mạng tháng Tám, trong các cuộc
kháng chiến chống Pháp - Mĩ và là mảnh đất vinh dự được Bác Hồ 2 lần đến
thăm hỏi, động viên. Hiện nay, các sinh hoạt văn hoá - xã hội của nhân dân các
dân tộc huyện Tràng Định vẫn luôn gắn liền với chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước.
1.1.1.2. Đặc điểm đời sống văn hoá xã hội của người Tày ở huyện Tràng Định,
tỉnh Lạng Sơn
Tộc người Tày là cư dân bản địa của Tràng Định. Dân tộc Tày là dân tộc
có số dân đông nhất trong huyện, tổng số dân là: 26.257 người chiếm 44,9 %.
Đa số người Tày là dân bản địa và một số ít là người dân di cư khai hoang đến
sinh sống từ lâu đời đã Tày hóa. Người Tày có những họ chính: Nguyễn, Bế,
Hoàng, Nông, Vy, Đinh, Hà, Chu, Ma, Đoàn, Đường, Tô,…vv….
Nhà ở của người Tày ở vùng Tràng Định có hai loại là nhà sàn và nhà
đất, nhà sàn thường 3 gian, cột kê trên đá tảng, vách thưng gỗ, chát bùn rơm
hoặc vách nứa, mái nhà lập bằng ngói âm dương; sàn bằng gỗ ván hoặc giát cây
mai, gầm sàn là nơi nhốt trâu, bò, lợn, gà. Hiện nay nhiều nhà làm cột vuông,
kê đá tảng, sàn và vách thưng đều bằng gỗ ván ghép, chuồng trâu bò được đưa
ra ngoài gầm sàn.
Cũng giống như người Nùng, bộ y phục truyền thống của người Tày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status