Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ HỒNG NGÂN KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI MÔNG Ở HUYỆN BẮC MÊ
TỈNH HÀ GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành : LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số : 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Thị Thu Thủy
Thái Nguyên - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên Lêi cam ®oan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
Lêi c¶m ¬n Tôi xin bày tổ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS. Hà Thị Thu Thuỷ đã tận
tình hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Sư phạm - Đại
học Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa lịch sử và các thầy cô giáo, cán bộ
khoa lịch sử đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành
luận văn.
Tôi xin cảm ơn UBND huyện Bắc Mê, Phòng Văn hoá thông tin
huyện, UBND các xã (Yên Cường, Thượng Tân, Minh Sơn…), các già làng,
trưởng bản đã giúp đỡ tôi trong quá trình đi thực tế ở địa phương.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ động viên của bạn bè đồng
nghiệp trong suốt quá trình làm luận văn.
bảo tồn nó rất cần thiết và hữu ích cho các nhà khoa học trong việc nhận thức
đúng đắn hơn về những nguyên tắc, thói quen trong sản xuất để kết hợp với
kiến thức khoa học một cách có hiệu quả.
Từ những nhận thức trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài ''Kiến thức bản địa
trong sản xuất nông nghiệp của người Mông ở huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang"
với mong muốn tìm hiểu về văn hóa Mông ở quê hƣơng mình và bƣớc đầu tìm
ra những ƣu điểm cũng nhƣ hạn chế trong sản xuất nông nghiệp để giúp ngƣời
Mông nơi đây vƣơn lên xóa đói giảm nghèo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về ngƣời Mông cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên
cứu, trong quá trình làm luận văn tác giả đã tiếp cận các công trình sau:
Công trình Lịch sử người Mèo do F.Savina viết năm 1924 (Trƣơng Thị
Thọ và Đỗ Trọng Quang dịch), đã cho thấy những nét cơ bản về đời sống
kinh tế, văn hóa của ngƣời Mông trong quá trình sinh sống và chống lại các
thế lực bành trƣớng Trung Hoa trong lịch sử.
Công trình ''Các dân tộc ít người ở Việt Nam", xuất bản năm 1978, của
Viện Dân tộc học đã trình bày khái quát về văn hóa các dân tộc ít ngƣời trong
đó dân tộc Mông ở Hà Giang đƣợc đề cập tới nhƣ một điển hình cho dân tộc
Mông nói chung trên cả nƣớc .
Công trình ''Dân tộc Mông ở Việt Nam" của tác giả Cƣ Hoa Vần - Hoàng
Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, năm 1994, đã cho thấy một cách tổng thể về dân
tộc Mông ở Việt Nam từ nguồn gốc lịch sử cho tới tên gọi, đời sống kinh tế, vật
chất, sinh hoạt tinh thần, quan hệ xã hội.
Văn hóa ngƣời Mông ở địa bàn tác giả nghiên cứu đã đƣợc đề cập khá đầy
đủ chi tiết trong các công trình ''Văn hóa truyền thống các dân tộc Hà Giang",
Hùng Đình Quý, Nxb Sở văn hóa - Thông tin Hà Giang, năm 1994; ''Văn hóa
Công trình“Một số tài liệu sưu tầm về người HMông ở Việt Nam” do
Phạm Quang Linh, Hoàng Phƣơng Mai thực hiện đƣợc Viện Dân tộc học xuất
bản năm 2008, đã cơ bản giới thiệu những kinh nghiệm sử dụng đất nông
nghiệp của ngƣời Hmông và hiện trạng sử dụng đất nƣơng rẫy của nhóm
Hmông trắng ở làng Mô Cổng, xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn
La. Là nguồn tƣ liệu quý giá giúp tác giả có cái nhìn tƣơng quan so sánh với
những kiến thức bản địa của ngƣời Mông ở Bắc Mê.
Các công trình trên đây đã cung cấp cho tác giả những hiếu biết cơ bản
về ngƣời Mông và nền văn hóa của họ. Đồng thời gợi mở cho tác giả việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
4
nghiên cứu về những kiến thức bản địa của ngƣời Mông ở một địa phƣơng cụ
thể là huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang.
3. Đối tƣợng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tƣợng
Sống trên vùng núi cao, cƣ trú và canh tác chủ yếu trên núi đá, đòi hỏi
ngƣời Mông phải có một hệ thống kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp.
Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống này trong sản xuất nông nghiệp của
ngƣời Mông ở Bắc Mê.
3.2 Mục đích
Bắc Mê là một huyện miền núi nghèo, có nhiều dân tộc anh em sinh sống.
Trong đó ngƣời Mông chiếm một thành phần đông đảo trong tổng số dân cƣ ở
đây. Việc nghiên cứu những kiến thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp không
những bảo tồn nền văn hóa đặc sắc của đồng bào Mông mà còn giúp cho nhà
khoa học hợp tác với đồng bào ở đây trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi, vƣơn lên xóa đói giảm nghèo.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và về ngƣời Mông ở Bắc Mê
nảy sinh kinh nghiệm, những diễn biến và phát triển kinh nghiệm trong sản
xuất trên cơ sở đó loại trừ những kinh nghiệm mang tính chất gia đình để tìm
ra những kinh nghiệm chung trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Mông
sinh sống trong địa bàn huyện Bắc Mê.
- Phƣơng pháp điền dã dân tộc học: Phƣơng pháp này thực hiện các công
việc nhƣ quan sát, phỏng vấn, ghi chép, chụp ảnh, khai thác các nguồn tƣ liệu
thống kê lập phiếu điều tra... giúp cho tác giả có số liệu chân thực nhất phục
vụ cho đề tài.
Ngoài các phƣơng pháp trên tác giả còn sử dụng các phƣơng pháp nhƣ phân
tích, so sánh, tổng hợp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
6
5. Đóng góp của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu về kiến thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp
từ trong truyền thống và hiện tại, đề tài tìm hiểu những nét đặc trƣng trong
sản xuất nông nghiệp của ngƣời Mông ở Bắc Mê.
Đề tài thực hiện thành công có thể giúp ích cho việc cộng tác giữa các
cán bộ khuyến nông và các nhà khoa học trong việc ứng dụng công nghệ mới
vào sản xuất nông nghiệp của ngƣời Mông ở huyện Bắc Mê.
6. Cấu trúc của đề tài
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận đƣợc xây dựng thành 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Khái quát về huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang
Chƣơng 2: Kiến thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời
Mông ở huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang trong truyền thống
Chƣơng 3: Những biến đổi của kiến thức bản địa trong sản xuất nông
nghiệp của ngƣời Mông ở Bắc Mê tỉnh Hà Giang hiện nay
0
0
’
0
’’
– 105
0
3
’
0
’’
độ kinh đông độ cao trung
bình so với mặt biển là 1400m, huyện Bắc Mê có giới hạn địa lý là phía Bắc
giáp với huyện Yên Minh, phía Đông giáp với huyện Bảo Lạc (tỉnh Cao
Bằng), phía Tây giáp huyện Vị Xuyên, phía Nam giáp huyện Na Hang (Tỉnh
Tuyên Quang) [19].
Diện tích tự nhiên của huyện là 844,3 km
2
, chiếm 10,57 % diện tích toàn
tỉnh, Bắc Mê là một trong những huyện miền núi vùng sâu vùng xa của tỉnh
Hà Giang có địa hình rất phức tạp, hiểm yếu; nhiều núi cao vực sâu, rừng già,
những dải đồi nối tiếp nhau, xen kẽ những cánh đồng lúa nƣớc, soi, bãi hẹp
chạy dọc hai bờ sông suối. Đặc biệt phía Nam của huyện có nhiều núi cao từ
1400 đến 1600 mét, có đỉnh cao tới 1.775 mét. Về cấu tạo địa chất có thể chia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
8
thành hai dạng địa hình: vùng núi đất và vùng núi đá. Vùng núi cao gồm các
xã Minh Sơn, Giáp Trung, Yên Phong, Yên Phú, Yên Cƣờng, Phiêng Luông,
nhẹ hơn, thƣờng cát pha, thịt nhẹ). Phản ứng đất ít chua; Hàm lƣợng cation
kiềm đạt mức trung bình, độ no Bazơ nhỏ hơn 50%; Chất hữu cơ và đạm khá;
Lân ở mức trung bình và nghèo; Kaki tổng số khá, song Kali trao đổi thấp.
Nhìn chung đất thích hợp với sinh trƣởng và phát triển của cây lúa cao và ổn
định. Với nhóm đất này ta có thể tận dụng hết diện tích đất bằng cách tập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
9
trung đầu thâm canh trên đất phù sa, kết hợp với các biện pháp thuỷ lợi, phân
bón chế độ mùa vụ, giống cây trồng để đạt hiệu quả cao. Tăng cƣờng bón lân
trên các đất phù sa glây, phù sa có tầng loang lổ kết hợp với bón vôi để cải tạo
độ chua của đất. Các vùng đất phù sa ven sông cần đƣợc đƣa vào sử dụng
trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Đối với đất phù sa ngòi suối có
địa hình khá bằng, khai thác nguồn nƣớc suối sẵn có để trồng các cây lƣơng
thực ngắn ngày nhƣ lúa, ngô và các loại đậu, đỗ.
Nhóm đất xám có diện tích 73.277,0 ha, chiếm 86,73% tổng diện tích tự
nhiên, với loại đất chính trên đá Ganite. Phân bố ở các xã trong huyện, tầng
đất thƣờng mỏng, nhiều đá lẫn, kết vón; phản ứng đất chua; nghèo chất hữu
cơ, đạm và các chất dinh dƣỡng khác. Trong loại đất này, diện tích đất có độ
dốc dƣới 5
0
, có khả năng phát triển nông nghiệp và cây công nghiệp chiếm
khoảng 26% nên cần khai thác đa vào sản xuất nông nghiệp.
Nhóm đất vàng có diện tích 486 ha, chiếm 0,55% diện tích tự nhiên, gồm
các loại: đất có màu vàng chủ đạo, tầng dày thay đổi theo mức độ địa hình,
chủ yếu là đất có tầng dày, độ dốc lớn, địa hình đồi núi cao, chia cắt mạnh.
Phân bố chủ yếu ở các xã Phiêng Luông, Yên Phong và Yên Phú, đất có
thành phần cơ giới nặng, phản ứng của đất ít chua hoặc chua, hàm lƣợng mùn
và đạm tổng hợp từ khá đến giàu, lân tổng số giàu, lân dễ tiêu thấp.
thổ nhƣỡng, rừng Bắc Mê có nhiều loại gỗ quý nhƣ Đinh, Trò, Nghiến, Lát
hoa, Pơmu, Trai Lý...
1.2 Nguồn gốc ngƣờ i Mông ở Bắc Mê
1.2.1 Tên gọi tộc ngƣi
Nguồn gốc lịch sử và tên gọi tộc ngƣời Mông cho tới nay vẫn tồn tại
nhiều ý kiến khác nhau. Ngƣời Trung Quốc gọi ngƣời Mông là Miêu Tử hay
Miêu Dân. Tìm hiểu về nguồn gốc tên gọi, nhiều học giả suy đoán rằng đây là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
11
tên do ngƣời Hán đặt. Bởi vì xét chữ Miêu Trung Quốc ngƣời ta thấy trên là
bộ thảo dƣới là chữ điền, có nghĩa là mầm mạ tốt. Từ đó các nhà nghiên cứu
cho rằng Miêu chắc chắn là một dân tộc biết làm ruộng từ rất sớm và sau này
Miêu đã trở thành tên gọi của tộc ngƣời đó. Miêu là dân tộc thích sống tự do,
đoàn kết và có tinh thần dũng cảm, luôn chống lại các chính sách bành trƣớng
thu phục của các tộc ngƣời lớn hơn vì vậy, trong sử sách Trung Quốc, Miêu
đƣợc nhiều lần nhắc tới nhƣ một dân tộc man di, mọi rợ đầy khinh miệt.Trong
truyền thuyết dân tộc Hán có nhắc đến ngƣời Miêu từ thời Hoàng Đế (thiên
niên kỉ thứ ba trƣớc công nguyên) và nói đến cuộc chiến tranh giữa hoàng đế
và Suy Vƣu (Theo các học giả Savina, Ngô Trạch Lâm, Trần Quốc Quân,
Lâm Tâm thì Suy Vƣu là ngƣời Mông), sang thời Nghiêu (-2357 - 2258),
Thuấn (- 2255 - 2208), thƣ tịch cổ nhiều lần nhắc đến ngƣời Miêu và những
cuộc xung đột giữa Hoa tộc và Miêu tộc.
Trong Kinh thi của Khổng Tử cũng chép đến Tam Miêu và giải thích
rằng do ngƣời ta căn cứ vào màu sắc quần áo mà gọi gồm Hồng Miêu, Thanh
Miêu, Bạch Miêu tức là Miêu Hồng, Miêu Xanh và Miêu Trắng.
Mạc Tử có ghi lại, trong cuộc chiến tranh giữa Hạ Vũ và Tam Miêu (Hạ -
2205 – 1766), tƣớng Miêu bị trúng tên, quân Miêu tan chạy, Tam Miêu suy
vong. Trải qua các triều đại Thƣơng, Ân, Chu, Tần, Hán, Tam Quốc … thƣ tịch
cuộc điều tra về mặt nhân chủng học. Theo các nhà Nhân chủng học, thì việc
hình thành nhân chủng gắn liền với môi trƣờng địa lí tự nhiên xung quanh.
Trong một cuộc điều tra nghiên cứu về nhân chủng học trong những năm
1934 – 1938 do giáo sƣ N.R. Morơde tổ chức ở hai tỉnh Tứ Xuyên và Quý
Châu thuộc miền Tây Trung Quốc, các nhà khoa đã tìm ra bằng chứng khẳng
định nguồn gốc Mônggôlốit của ngƣời Mông. Tiếp đó, các nhà khảo cổ học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
13
đã nghiên cứu bộ hiện vật Nam Kinh - Động Đình đã đi đến kết luận là các bộ
lạc Mông xuất hiện ở đây vào thiên niên kỉ thứ III TCN.
Đây là những chứng cứ khoa học để khẳng định nguồn gốc phƣơng Đông
ngƣời Mông. Ở Việt Nam, mặc dầu chƣa có tài liệu nhân chủng nào nghiên
cứu về ngƣời Mông, nhƣng qua các tài liệu lịch sử chúng ta biết ngƣời Mông
ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc. Do đó ngƣời Mông ở Việt Nam
cũng thuộc loại hình nhân chủng Mônggôlốit.
Từ khi di cƣ đến Việt Nam ngƣời Mông đã trở thành một thành phần trong
54 dân tộc ở Việt Nam. Dân tộc Mông có một truyền thống văn hoá độc đáo, có
bề dày lịch sử hàng nghìn năm trƣớc đây và trên 300 năm sau khi từ Trung Quốc
sang định cƣ ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam. Về tên gọi tộc
ngƣời thì có nhiều cách gọi khác nhau, ngƣời Kinh ở miền Bắc gọi ngƣời Mông
là Mèo, lý giải điều này xuất phát từ ngƣời Hán gọi ngƣời Mông là Miêu phát
âm gần nhƣ là Mèo. Do vậy, trong thời gian dài trƣớc đây các sách báo phổ biến
dùng danh từ Mèo nhƣ một tộc danh chính thức. Ở miền Trung phát âm theo
tiếng địa phƣơng còn gọi là Mẹo.
Danh từ này ngẫu nhiên trùng với tên con Mèo của ngƣời Việt… Vì vậy
phần lớn ngƣời Mông không thích nên đề nghị Chính phủ cho đƣợc gọi theo
cách bà con tự gọi mình là ngƣời Mông (Hmôngz). Từ Mông phát âm theo
đúng tiếng Mông là một từ âm mũi (Hmôngz). Trong khi đó, hệ thống âm phụ
văn đƣợc thêu bằng chỉ đỏ ở nửa dƣới của váy.
Mông đú cƣ trú ở các huyện Trạm Tấu (Yên Bái), Phong Thổ, Tủa Chùa
(Lai Châu) và một số sống rải rác ở Lào Cai, Hoà Bình, Sơn La. Phụ nữ nhóm
này mặc váy màu đen.
Mông súa cƣ trú tập trung ở các xã Sính Phình (huyện Tủa Chùa, tỉnh Lai
Châu), một số nhỏ ở xã Lùng Phình (huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai). Nhóm này
phụ nữ chủ yếu mặc váy và áo chủ yếu bằng vải bông, kiểu váy hơi khác so
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
15
với các nhóm Mông khác. Họ là những ngƣời thiên di vào nƣớc ta muộn hơn
so với các nhóm Mông khác [42].
Về mặt ngôn ngữ, giữa các nhóm Mông có sự khác nhau đôi chút. Sự
khác nhau giữa tiếng nói của Mông trắng, Mông hoa và Mông đen chủ yếu là
âm thanh nặng nhẹ. Do vậy, trên thực tế các nhóm Mông vẫn dùng ngôn ngữ
của mình làm phƣơng tiện giao tiếp bình thƣờng.
1.2.2 Địa bàn cƣ trú
Ngƣời Mông khác với nhiều dân tộc khác thƣờng sống ở trên núi cao, địa
thế hiểm trở, giao thông khó khăn. Lý giải về điều này truyền thuyết “Chử
Lầu” của dân tộc Mông có ghi lại câu truyện nhƣ sau: Trong thời kì trời đất
còn hỗn mang mờ mịt, Chử Lầu đã sai ông Chày, bà Chày làm ra bầu trời,
mặt đất. Tạo ra loài ngƣời và vạn vật, loài ngƣời sinh sôi, rồi trải qua nạn lụt
lớn, chỉ còn hai anh em ruột, họ phải lấy nhau rồi sinh ra con đàn cháu đống.
Nhƣng loài ngƣời thƣờng gây chuyện đánh nhau để tranh giành đất tốt hay
xấu. Chử Lầu đã nghĩ cách chia đất cho họ. Ông đã mở ra cuộc thi, ngƣời ở
các nơi tập trung hết vào một chỗ. Đúng đêm khuya Chử Lầu cho đánh một
hồi trống. Ngƣời nghe tiếng trống chạy, chạy cho đến lúc mặt trời lên thì dừng
lại. Ai đến đâu thì là chỗ tụ cƣ của giống mình đến đó. Hồi trống vừa dứt thì
ông tổ của ngƣời Mông đã băng qua đƣợc mấy trái núi. Đúng lúc mặt trời loé
đoạn ngƣời Hmông di cƣ đông nhất. Họ vào theo hai hƣớng chính. Một hƣớng
tiếp tục tràn vào cao nguyên Đồng Văn rồi di cƣ sang Bảo Lạc (Cao Bằng), Bắc
Mê, Xín Mần, Hoàng Su Phì (Hà Giang)… Một hƣớng vào Xi Ma Cai và
Mƣờng Khƣơng rồi xuống Văn Bàn (Lào Cai), Mù Căng Chải, Trạm Tấu (Yên
Bái), sang Sa Pa (Lào Cai), Phong Thổ, Sìn Hồ, Điện Biên (Lai Châu).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
17
Giai đoạn thứ ba cách đây chừng 150 năm (khoảng 6 – 7 đời ngƣời),
ngƣời Hmông tiếp tục vào Việt Nam theo các đƣờng Phong Thổ (Lai Châu),
Xi Ma Cai và Mƣờng Khƣơng (Lào Cai). Từ đây họ đi sâu vào vùng Tây Bắc,
đến Tủa Chùa, Tuần Giáo (Lai Châu), Thuận Châu, Sông Mã (Sơn La). Một
bộ phận từ Mù Cang Chải sang Bắc Yên, Phù Yên rồi xuống vùng núi Mộc
Châu (Sơn La) và điểm dừng cuối cùng là vùng núi Tây Thanh Hoá. Cũng
trong thời gian này, một nhóm Hmông ở Xiêng Khoảng (Lào) đã tràn vào
vùng núi Thanh Hoá - Nghệ An và cƣ trú tập trung tại huyện Kỳ Sơn tỉnh
Nghệ An. [20]
Nhƣ vậy, ngƣời Mông bắt đầu sinh sống ở Bắc Mê cách đây khoảng 200
năm. Trong khoảng thời gian dài đó, ngƣời Mông từ Trung Quốc, Đồng Văn,
Mèo Vạc, Cao Bằng tiếp tục di cƣ đến theo các nhóm nhỏ. Dần dần tạo thành
một cộng đồng ngƣời Mông Bắc Mê đông đảo nhƣ ngày nay.
Ngƣời Mông cho rằng để tránh kẻ thù họ phải trốn ở những nơi vực sâu
núi thẳm, vì vậy họ họ chọn cho mình nơi sinh sống là vùng núi cao. Ở Bắc
Mê ngƣời Mông chủ yếu cƣ trú ở các xã Phiêng Luông, Thƣợng Tân, Yên
Cƣờng, Minh Sơn. Tại đây họ đã sinh con đàn cháu đống, cho đến nay ngƣời
Mông ở Bắc Mê chiếm 22% dân số toàn huyện, đứng sau dân tộc Tày và dân
tộc Dao. Cuộc sống của họ tuy còn nhiều khó khăn song với sự nỗ lực và
những kinh nghiệm lâu đời trong sản xuất nông nghiệp, họ đã góp phần làm
phong phú thêm đời sống kinh tế xã hội của huyện Bắc Mê.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
19
CHƢƠNG 2
KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA
NGƢỜI MÔNG Ở HUYỆN BẮC MÊ TỈNH HÀ GIANG
2.1 Quan niệm về kiến thức bản địa
Theo tác giả Hoàng Xuân Tý, kiến thức bản địa (Indigenouse knowledge)
còn đƣợc gọi là kiến thức truyền thống (Traditionnal knowledge) hay kiến
thức địa phƣơng (Local knowledge) là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản
địa, hoặc của một cộng đồng tại một khu vực cụ thể nào đó. Nó tồn tại và phát
triển trong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên
trong cộng đồng ở một vùng địa lý xác định [30].
Trong những năm gần đây kiến thức bản địa đã đƣợc các nhà nghiên cứu
trong ngoài nƣớc quan tâm và đã đề cập trong các công trình nghiên cứu với
những tên gọi khác nhau nhƣ tri thức bản địa, tri thức dân gian, văn hoá
truyền thống, kiến thức địa phƣơng, tri thức tộc ngƣời… Các cách gọi khác
nhau này cho thấy những quan niệm và cách hiểu khác nhau về nội hàm của
cụm từ “Kiến thức bản địa”. Ngân hàng thế giới (World Bank) định nghĩa: Tri
thức bản địa là tri thức địa phƣơng, là nền tảng cơ bản cho việc thiết lập các
quyết định liên quan đến địa phƣơng trên mọi lĩnh vực của cuộc sống đƣơng đại
bao gồm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, dinh dƣỡng, thức ăn, y tế,
giáo dục và trong các hoạt động xã hội và cộng đồng. Tri thức bản địa còn cung
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vốn tri thức đó đƣợc phản ánh trong
các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng để mỗi tộc ngƣời sinh tồn,
phát triển và thích nghi trƣớc những biến đổi đã và đang diễn ra. Nói cách
khác, tri thức địa phƣơng là phƣơng thức ứng xử, là đặc tính thích nghi với
những điều kiện sinh thái nhân văn của mỗi tộc ngƣời. Cũng có thể coi đó là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
21
bản sắc văn hoá tộc ngƣời. Hai là, “tri thức địa phƣơng” là tri thức của các
cộng đồng tộc ngƣời cùng cộng cƣ trong một vùng sinh thái hay một vùng
văn hoá nhất định. Trong trƣờng hợp này tri thức địa phƣơng cũng phản ánh
xu hƣớng giao lƣu và biến đổi văn hoá hay thích nghi văn hoá giữa các tộc
ngƣời [10].
Các khái niệm tri thức bản địa, tri thức địa phƣơng hay kiến thức truyền
thống, tri thức dân gian… trong các bài nghiên cứu thƣờng đƣợc đổi lẫn cho
nhau. Trong bài nghiên cứu về kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong
nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên tác giả Hoàng Xuân Tý cho
rằng các cụm từ trên là đồng nghĩa. Tuy nhiên, theo ý kiến của tác giả
Mugabe thì có sự khác biệt đôi chút giữa khái niệm Tri thức bản địa và tri
thức truyền thống. Theo ông “ tri thức bản địa là tri thức được duy trì bởi
một nhóm người dân, những người tự nhận là người bản xứ của một địa
phương dựa trên cơ sở sự khác biệt nhau về văn hoá và sự chiếm giữ lãnh
thổ trước tiên liên quan đến dân số mới di cư đến trong một thời gian gần
đây, với sự khác biệt của chính bộ phận này và nền văn hoá có ảnh hưởng
lớn. Tri thức truyền thống, mặt khác là tri thức được được duy trì bởi các
thành viên của một nền văn hoá khác biệt và/ hoặc đôi khi đạt được bằng
cách hướng đặc biệt tới nền văn hoá đó và liên quan đến chính nền văn hoá
và môi trường địa phương mà nó tồn tại”. Ông kết luận rằng: “tri thức bản
địa ăn khớp rõ ràng với sự phân loại tri thức truyền thống, nhưng truyền