Tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của người Dao ở huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang - Pdf 83


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tính đa dạng của nền văn hoá Việt Nam đƣợc thể hiện bằng những giá
trị văn hoá đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Trong nền văn hoá đa
dạng mà thống nhất ấy, những giá trị văn hoá của cộng đồng các dân tộc ít
ngƣời có vị trí quan trọng. Với điều kiện địa lí tự nhiên khác nhau, mỗi dân
tộc đã tìm ra phƣơng thức ứng xử thiên nhiên khác nhau, hình thành tập quán
sản xuất. Đây có thể đƣợc coi là một lâu đài văn hóa đồ sộ của mỗi tộc
ngƣời, là sản phẩm đƣợc tích lũy, chắt lọc qua hàng ngàn năm lịch sử, tạo
nên bản sắc văn hóa dân tộc, làm thành chuẩn mực để phân biệt dân tộc này
với dân tộc khác. Tuy nhiên, hiện nay, những giá trị văn hoá đã bị mai một,
thậm chí biến mất. Yêu cầu đặt ra là phải có biện pháp giữ gìn, phát huy
những di sản văn hoá đó.
Lục Nam là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang với 8 dân tộc anh
em sinh sống, trong đó ngƣời Dao cƣ trú chủ yếu ở 4 xã Lục Sơn, Bình Sơn,
Vô Tranh, Trƣờng Sơn. Quá trình đấu tranh lâu dài với thiên nhiên, lao động
sản xuất để sinh tồn đã hình thành những kinh nghiệm sản xuất và đƣợc
truyền từ đời này sang đời khác tạo nên bản sắc văn hoá của ngƣời Dao nơi
đây. Tuy nhiên, để hội nhập và phát triển, việc thay đổi tập quán sản xuất và
áp dụng khoa học kĩ thuật mới là yêu cầu cấp thiết đối với nông nghiệp của
ngƣời Dao ở Lục Nam. Trong số kĩ thuật mới đƣợc áp dụng có những kĩ thuật
đem lại hiệu quả sản xuất, nhƣng cũng có kĩ thuật không phù hợp với đặc thù
về nơi cƣ trú, về tập quán và tổ chức xã hội. Điều đó cho thấy tập quán sản
xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc Dao ở Lục Nam có những điểm tích
cực cần đƣợc phát huy. Việc nghiên cứu về những tri thức dân gian trong sản
xuất nông nghiệp sẽ giúp các cơ quan quản lý có thêm cơ sở để giải quyết tốt
vấn đề trên, nhằm tạo ra sự phát triển nông nghiệp bền vững, góp phần xây


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
Nam và ngƣời Dao sống trên địa bàn. Tác phẩm đề cập tới vị trí địa lí, điều
kiện tự nhiên của huyện Lục Nam. Những nội dung không chỉ đề cập tới nghề
sống chính của dân tộc Kinh chiếm đa số mà còn đề cập tới nghề sống chính
của bộ phận ngƣời Dao ở đây, đó là nghề nông nghiệp. Tác phẩm cho thấy
tầm quan trọng của nông nghiệp trong đời sống của ngƣời Dao nơi đây và đặc
biệt với tầm quan trọng nhƣ vậy họ đã có những cách thức sản xuất nhƣ thế
nào để đảm bảo cuộc sống.
Công trình Địa chí Bắc Giang - Địa lí và kinh tế, do Sở văn hoá thông
tin Bắc Giang phối hợp với Trung tâm UNESCO thông tin tƣ liệu lịch sử và
văn hoá Việt Nam, (năm 2003), đã giới thiệu về dân tộc Dao ở Bắc Giang từ
địa vực cƣ trú, truyền thống văn hoá đến tập quán canh tác.
Các công trình Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (2003) và Lịch sử
Đảng bộ huyện Lục Nam (2003) đã giới thiệu sơ lƣợc về ngƣời Dao nhƣ địa
bàn cƣ trú, tên gọi của các nhóm ngƣời Dao tại địa phƣơng và những truyền
thống của họ trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần. Tác phẩm, là cơ sở
để giải thích và làm rõ quá trình di cƣ và tên gọi các nhóm ngƣời Dao ở huyện
Lục Nam.
Năm 2006, Bảo tàng Bắc Giang xuất bản công trình “Di sản văn hoá
Bắc Giang về Văn hoá phi vật thể”, tác phẩm là sự khái quát về những nét
văn hóa phi vật thể của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Bắc Giang trong đó có
đề cập tới ngƣời Dao về địa bàn cƣ trú, những nét văn hoá tiêu biểu của họ
trong đời sống vật chất và tinh thần. Tác phẩm cũng đã cơ bản giới thiệu
đƣợc những tri thức dân gian của dân tộc Dao ở Bắc Giang trong các lĩnh
vực của đời sống trong đó có những tri thức dân gian liên quan tới lĩnh vực
nông nghiệp.
Những kết quả nghiên cứu trên đây chính là ý kiến gợi mở, nguồn tài

nông nghiệp truyền thống và hiện tại.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Nguồn tƣ liệu
Nguồn tài liệu chung: Bao gồm một số sách sử và địa chí cổ; các công
trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí đã xuất bản của các nhà khoa học trong và
ngoài nƣớc.
Nguồn tài liệu địa phƣơng: Các công trình nghiên cứu về lịch sử, lịch
sử Đảng bộ và văn hoá tộc ngƣời ở tỉnh Bắc Giang nói chung và huyện Lục
Nam nói riêng.
Nguồn tƣ liệu điền dã: Bao gồm sự quan sát trực tiếp cảnh quan, môi
trƣờng, nguồn tài liệu truyền miệng thông qua phỏng vấn trực tiếp.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp lịch sử nghiên cứu khái quát về huyện Lục Nam, nguồn
gốc tộc ngƣời, các tập quán trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao nơi
đây và những biến đổi của nó trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Phƣơng pháp logic nhằm rút ra những nhận xét, đánh giá khách quan về vấn
đề nghiên cứu, giúp ngƣời đọc có cái nhìn hệ thống và khái quát về những tri
thức trong nông nghiệp của ngƣời Dao ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Phƣơng pháp điền dã dân tộc học khai thác đƣợc nguồn tƣ liệu thực tế
không đƣợc ghi lại thành văn đồng thời khẳng định tính chính xác của nó.
Ngoài ra, đề tài còn kết hợp với một số phƣơng pháp khác nhƣ so sánh, đối
chiếu, phân tích, tổng hợp các nguồn tƣ liệu liên quan để rút ra những kết luận
khoa học.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn hệ thống đƣợc những tri thức dân gian trong sản xuất nông
nghiệp của ngƣời Dao ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nhƣ: chọn đất, chọn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN LỤC NAM
1.1. Lịch sử hành chính huyện Lục Nam
Vùng đất Lục Nam ngày nay vốn thuộc địa phận huyện Na Ngạn thời
Lý- Trần; huyện Na Ngạn - Lục Na thời thuộc Minh; huyện Lục Ngạn thời Lê
sơ; huyện Lục Ngạn, Phƣợng Sơn thời Mạc; huyện Lục Ngạn - Phƣợng Nhãn
- Bảo Lợi thời Lê trung hƣng - Tây Sơn và thời Nguyễn.
Thời kỳ thực dân Pháp thống trị, năm 1889, thực dân Pháp thành lập tỉnh
Lục Nam, tỉnh lỵ đóng ở thị trấn Lục Nam. Năm 1891, tỉnh Lục Nam bị giải
thể, thuộc về tỉnh Bắc Ninh [3, tr.7].
Sau ngày hòa bình lập lai, ngày 21 tháng 1 năm 1957, huyện Lục Nam
đƣợc thành lập (thuộc tỉnh Bắc Giang). Theo Nghị định số 24-Ttg của Thủ
tƣớng Chính phủ, 3 xã Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội thuộc huyện Chí Linh của
Hải Dƣơng; 2 xã Yên Sơn, Bắc Lũng thuộc huyện Yên Dũng - Bắc Giang; 7
xã: Hoà Bình A, Tam Dị, Bảo Đài, Bảo Sơn, Tiên Hƣng, Phƣơng Sơn, Tân
Lập thuộc huyện Lạng Giang-Bắc Giang đƣợc trả về huyện Lục Ngạn (cũ).
Trên cơ sở hai huyện là Lục Ngạn và Sơn Động (cũ) chia thành 3 huyện là
Lục Ngạn, Sơn Động và Lục Nam. Khi ấy, Lục Nam có 19 xã và 1 thị trấn:
Nam Sơn, Cẩm Lý, Vũ Xá, Đan Hội, Yên Sơn A, Yên Sơn B, Bắc Sơn, Bắc
Lũng, Bảo Đài, Bảo Sơn, Tam Dị, Hoà Bình A, Hoà Bình B, Tiên Hƣng, Tân
Lập, Phƣơng Sơn, Mỹ An, Nghĩa Phƣơng, Trƣờng Sơn và Thị trấn Lục Nam.
Theo Nghị định số 535-TC CQNTNĐ kí ngày 6 - 9 - 1957 hai xã là Nam Sơn
và Bắc Lũng đƣợc chia thành 4 xã là: Nam Sơn, Cƣơng Sơn, Bắc Lũng và
Khám Lạng [3, tr.7].
Ngày 28-7-1958, Bộ Nội vụ ra Nghị định số 241-NV chia xã Phƣơng
Sơn thành 2 xã Phƣơng Sơn và Thanh Sơn; chia xã Hoà Bình B thành 2 xã


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
phía Tây giáp hai huyện là Lạng Giang và Yên Dũng. Trung tâm huyện cách
Hà Nội 100km và cách thành phố Bắc Giang 25km.
Do nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa khu vực núi rừng Đông - Bắc với khu
vực Trung du và đồng bằng Bắc bộ nên khí hậu Lục Nam có tính đa dạng của
chế độ hoàn lƣu gió mùa nhiệt đới phức hợp, có phân hóa rõ rệt theo mùa.
Nhiệt độ bình quân hàng năm là 22,9
0
C. Do sự ảnh hƣởng của địa hình nên
trong cùng một huyện cũng có sự chênh lệch về nhiệt độ, tạo ra những tiểu
vùng khí hậu khác nhau. Số ngày mƣa của huyện trong năm trung bình là 107
ngày, mƣa phân bố không đều giữa các vùng trong huyện, giữa các tháng
trong năm. Mùa mƣa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, tập trung ở các tháng 6,
7 và 8 (chiếm từ 50 - 60% lƣợng nƣớc mƣa của cả năm).
Huyện Lục Nam có Sông Lục Nam chảy qua từ đầu đến cuối huyện.
Sông Lục Nam phát nguyên từ Đình Lập (Lạng Sơn), thời cổ mang tên là
Minh Đức và đƣợc mệnh danh là một Trƣờng Giang đẹp nhất Bắc Kì. Sông
dài 178 km, chi lƣu là các sông Cẩm Đàn, sông Thanh Luận, sông Bò. Đối với
huyện, đây là nguồn nƣớc chính phục vụ cho nông nghiệp. Nƣớc từ sông Lục
Nam đƣợc dẫn qua các kênh mƣơng về các đầm, ao, hồ tạo ra hệ thống thủy
lợi phong phú, thuận lợi. Ven sông hình thành các làng chài đánh bắt cá và
đây cũng là nghề sống chủ yếu của các làng sống ven sông. Sông Lục, núi
Huyền còn tạo ra một cảnh tƣợng hùng vĩ, rất đẹp, là nguồn lợi cho du lịch
đang đƣợc quan tâm đầu tƣ và khai thác.
Đất đai của huyện Lục Nam rất đa dạng. Đất đồi, đƣợc hình thành chủ
yếu do sự phong hóa của các loại đá mẹ sa thạch và phiến thạch, một phần do
sự phong hoá của đất phù sa cổ, do đó đất đồi của Lục Nam nghèo dinh

gốc ở Trung Quốc, quá trình thiên di của họ vào Việt Nam là một thời kỳ
dài". [8, tr. 56]. Do nhiều biến cố lịch sử nhƣ, một bộ phận ngƣời Dao đã

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
phải di cƣ vào Lạng Sơn và Quảng Ninh (Việt Nam) rồi từ đây đi sang các
huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế của Bắc Giang qua
nhiều thời kì, bằng nhiều con đƣờng, với nhiều nhóm địa phƣơng khác
nhau để sinh cơ lập nghiệp. [27; tr. 299].
Mặc dù có rất nhiều nhóm Dao với những tên gọi khác nhau, nhƣng căn
cứ vào đặc điểm văn hoá mà nét chủ yếu của nó là trang phục phụ nữ, các nhà
khoa học chia ngƣời Dao ở Việt Nam thành các nhóm sau đây:
+ Dao Đỏ còn có tên Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng, Dao Dụ Lạy
+ Dao Quần Chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng)
+ Dao Lô Gang (Thanh Phán, Dao Đội Ván, Dao Cóc Mùn)
+ Dao Tiền
+ Dao Quần Trắng
+ Dao Thanh Y (Dao Ban Y, Dao Chàm)
+ Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao Áo Dài, Dao Tẻn) [ 8, tr36]
Về tiếng nói ngôn ngữ dân tộc Dao đƣợc các nhà nghiên cứu xếp vào
ngữ hệ Mông - Dao. Đến nay ngƣời Dao chƣa có chữ viết riêng, từ xa xƣa,
đồng bào dựa vào chữ Hán để phiên âm ra chữ Nôm gọi là chữ Nôm Dao và
sử dụng bộ chữ này để ghi chép gia phả, sách cúng, sáng tác truyện, thơ… Về
tiếng nói, các nhóm Dao đều nói chung một thứ tiếng, đó là tiếng Dao. Sự
khác nhau về tiếng nói giữa các nhóm không nhiều, chỉ trong một số ít từ và
thanh điệu. Cũng nhƣ tiếng Dao trong cả nƣớc, tiếng Dao ở Bắc Giang cũng
gồm hai phƣơng ngữ: phƣơng ngữ thứ nhất gồm hai nhóm Dao là Lô Gang,
Thanh Phán; phƣơng ngữ thứ hai có nhóm Dao Thanh Y. Tại thời điểm hiện
tại, ngƣời Dao sinh sống tại các bản thuộc các xã của Lục Nam vẫn nói tiếng

xƣng, không chính xác, vì cùng với ngƣời Dao ở rừng còn có nhiều tộc ngƣời
khác sống ở miền núi. Tên Mán Sơn Đầu cũng là tên gọi của các tộc ngƣời

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
khác đặt cho ngƣời Dao ở nhóm Dao Lô Gang, do đồng bào có tục chải đầu
bằng sáp ong.
Tên tự gọi nữa của đồng bào là Dìu Miền, âm Hán Việt: Dìu là Dao,
Miền là ngƣời; có nghĩa là ngƣời Dao. Tên gọi Dao đƣợc nhắc nhiều trong
các truyện truyền miệng, truyện cổ. Theo tài liệu “Người Dao ở Việt Nam”,
tên gọi Dao còn đƣợc ghi trong các thƣ tịch cổ của Trung Quốc. Chẳng hạn
sách “Thuyết man” viết: “Man bắt đầu từ Ngũ Khê gọi là Bàn Hồ ở rải rác
khắp vùng Sở Việt gọi là Dao, lúc bấy giờ có công nên được miễn giao dịch
gọi là Mạc Dao, về sau gọi sai đi là Dao”. Sách “Quế hải ngu hành chí” viết:
“ Người Dao vốn dòng dõi Bàn Hồ ở Ngũ Khê…”. [28, tr. 8]
Nhƣ vậy, “Dao” là tên tự nhận của ngƣời Dao, nó gắn với lịch sử hình
thành tộc ngƣời và đƣợc họ thừa nhận. vào những thập kỉ 60 – 70 của thế kỉ
trƣớc, các nhà khoa học đã đề xuất và đƣợc Chính phủ công nhận “Dao” là
tên gọi chính thức.
1.3.2. Địa bàn cư trú
Ngƣời Dao ở Việt Nam cƣ trú ở cả ba vùng: vùng cao, vùng giữa, và
vùng thấp. Sống ở vùng cao (trung bình từ 800 - 1000m) phần nhiều là ngƣời
Dao Đỏ, một bộ phận Dao Tiền, Dao Làn Tẻn. Cƣ trú ở vùng giữa (trung bình
từ 400-600m) chủ yếu là ngƣời Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Thanh
Phán. Vùng thấp, chuyển tiếp giữa vùng núi và đồng bằng (độ cao khoảng
200m) là địa bàn cƣ trú của ngƣời Dao Quần Trắng, Dao Quần Chẹt, Dao
Tiền v.v ...Ở Bắc Giang, dân tộc Dao là một trong 7 thành phần dân tộc chủ
yếu của tỉnh, sinh sống chủ yếu ở Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế.
Tuy số lƣợng không đông lắm, dân số 7.337 ngƣời (số liệu năm 2003), đứng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
xây dựng cuộc sống, xây dựng quê hƣơng ngày càng giàu đẹp. Thôn bản của
ngƣời Dao thƣờng tập trung thành từng cụm gần rừng, đồi. Thƣờng mỗi hộ ở
một quả đồi, khu nào đất đẹp thì hai hay ba hộ ở cạnh nhau. Ranh giới giữa
các bản thƣờng là đƣờng mòn, khe núi, dòng suối… đƣợc dân bản công nhận
theo quy ƣớc không thành văn. Ngoài một số ruộng nƣơng đã có ngƣời sở
hữu, còn tất cả rừng, suối, núi đều thuộc quyền sử dụng chung của mọi nhà
trong bản. Đồng bào hạn chế những ngƣời ở nơi khác đến làm ruộng, nƣơng
hoặc lấy gỗ ở phạm vi thôn bản mình.
Dân cƣ trong mỗi thôn bản thƣờng chỉ có từ 2 - 3 họ, trong đó bao giờ
cũng có một họ đông ngƣời hơn và thƣờng là họ của những ngƣời đến cƣ trú
đầu tiên. Mỗi thôn, bản Dao đều có những nghi lễ chung: liên quan đến trồng
trọt, chăn nuôi, sắn bắn. Thƣờng thì trƣớc khi gieo trồng (đầu xuân), khi lúa
mọc cao (mùa hè), sau khi gặt lúa (mùa thu), lúc hạn hán kéo dài, trong bản
có dịch gia súc hoặc ngƣời ốm đau nhiều… là dân bản lại họp nhau cúng thổ
thần, bàn việc chung, tổ chức ăn uống chung.
Từ xƣa, thôn bản ngƣời Dao đã vận hành theo phƣơng thức tự quản.
Mỗi bản thƣờng có ngƣời đứng đầu, giữ vai trò trụ cột, điều hành toàn bộ mọi
hoạt động của bản. Nếu bản có một dòng họ cƣ trú thì ngƣời đứng đầu bản do
ngƣời có uy tín trong dòng họ nắm giữ. Khi thôn bản có nhiều họ cƣ trú thì
dân bản chọn ngƣời có uy tín, biết cúng thổ thần, am hiểu phong tục tập quán
dân tộc, lai lịch và mối quan hệ họ hàng của dân bản, có kinh nghiệm đoán
định thời tiết… để bầu vào chức đứng đầu bản.
Ngƣời đứng đầu thôn, bản đƣợc bà con tôn trọng và tin cậy, khi có việc
không tự phân xử đƣợc các bên đều đến hỏi ngƣời đứng đầu bản và làm theo
sự phân sử của ngƣời này. Ở các nhóm dân tộc Dao, bên cạnh vai trò chính
của ngƣời đứng đầu thôn, bản thì các cụ già làng, trƣởng họ và thầy cúng là
những ngƣời có uy tín cao, thƣờng có mặt trong các công việc chung của bản,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
nay ở nhiều thôn bản đồng bào tuân thủ việc không thả rông trâu bò, lợn, gà,
vịt… Ai vi phạm phải bồi thƣờng cho ngƣời bị hại.
Gia đình chủ yếu của dân tộc Dao ở huyện Lục Nam, chủ yếu là hình
thức phụ quyền. Mỗi gia đình thƣờng có 2 thế hệ (gồm cha mẹ và các con
chƣa lập gia đình) hoặc 3 thế hệ (gồm một cặp vợ chồng, các con chƣa lập gia
đình và ông bà). Rất hiếm gặp những gia đình lớn bốn thế hệ. Xu hƣớng phát
triển của gia đình ở các nhóm Dao là: con trai sau khi lập gia đình nếu có
điều kiện thì tách ra ở riêng, thƣờng dựng nhà gần nhà bố mẹ, đƣợc bố mẹ
chia tài sản (ruộng, trâu, gia cầm) làm vốn ban đầu nhằm bảo đảm cuộc sống.
Trong gia đình, quyền lực thuộc về ngƣời đàn ông, nếu bố chết thì con trai
trƣởng thay thế. Ngƣời chồng chủ yếu lo những công việc lớn nhƣ lập kế
hoạch làm ăn, làm nhà, cúng bái, săn bắn, đối ngoại. Những việc này đều
đƣợc các con lớn tuổi bàn bạc và thống nhất. Ngƣời vợ đóng vai trò chính về
nội trợ, quản lý kinh tế gia đình, may vá thêu thùa, giáo dục con cái. Các công
việc nƣơng rẫy, ruộng vƣờn cả hai vợ chồng đều gánh vác. Trong mọi công
việc, đời sống hàng ngày, vợ nghe lời chồng, con cái vâng lời cha mẹ, em
nghe lời anh chị. Trong quan hệ giữa con dâu, em dâu với bố mẹ chồng, anh
chồng, ngƣời con rể với mẹ vợ… có quy định nghiêm ngặt: con dâu, em dâu
không đƣợc ăn cùng mâm, không đƣợc đến khu vực ngủ của bố chồng, anh
chồng; ngƣợc lại bố chồng, anh chồng không đƣợc đến gần giƣờng ngủ của
em dâu, con dâu.
Ngƣời Dao ở Lục Nam có các họ chính: Bàn, Đặng, Triệu, Trƣơng,
Trần, Lã, Lý. Trong các họ Dao, họ Bàn đƣợc coi là gốc. Mỗi dòng họ thƣờng
có một trƣởng họ do các gia đình trong dòng họ cử ra. Nhà trƣởng họ gọi là
nhà lớn, nơi đặt bàn thờ ông tổ, nơi cúng lễ, ăn tết và cấp sắc chung cho các
thành viên trong họ. Trƣởng họ có trách nhiệm chủ trì lễ cấp sắc, lễ cúng bàn

rết. Yếm ngực là một vuông vải có hình ô trám, chia làm hai tam giác cân,
tam giác phía trên để trắng, ở giữa có gắn một bán cầu bằng bạc có đƣờng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
kính 3 - 4cm, tam giác bên dƣới là vải đỏ. Quần phụ nữ Dao Thanh Y mầu
chàm, may kiểu chân què, ống rộng vừa phải, không thêu. Đồ trang sức gồm
vòng cổ (tẳng khuỳn), vòng tay (ná sằm), nhẫn (pô đà quỳn) bằng bạc. Bộ nữ
phục nhóm Dao Thanh Phán gồm có áo (linh lùi), yếm (nom càm), quần (chu
chùn), thắt lƣng (hầu hang), khăn (nom mùa), mũ (đổng) (mũ chỉ giành cho
các bé gái). Trang phục nữ nhóm Dao Thanh Phán có đặc điểm chỉ có một
màu chàm thẫm, không có hoa văn trang trí. Trƣớc đây đồng bào mặc áo dài
có thêu trang trí trên nẹp cổ. Hiện nay một số nơi, nữ Dao Thanh Phán mặc áo
ngắn cài khuy bên sƣờn phải nhƣ áo của ngƣời Hoa.
Kể chuyện là hình thức sinh hoạt văn hóa rất độc đáo của ngƣời Dao.
Hầu hết các truyện thần thoại, truyện cổ tích của ngƣời Dao đều đƣợc viết
thành thơ. Do đó có thể vừa đọc, vừa hát khi kể. Thƣờng trong các buổi lễ cầu
mùa, lễ cấp sắc kéo dài nhiều ngày, những ngƣời già thƣờng kể chuyện cho
con cháu nghe bên bếp lửa. Cũng có khi trong cuộc hát, hai bên hát về một
câu chuyện cổ với mục đích thử sự hiểu biết của đối phƣơng. Với cách hát
này, cùng một câu chuyện song mỗi bên lần lƣợt hát từng đoạn sau đó dừng
lại để bên kia phải hát tiếp. Bên nào không tiếp tục hát đƣợc coi nhƣ kém cỏi.
Do đó những câu chuyện cổ đƣợc phổ biến rất rộng trong cộng đồng.
Hát dân ca (báo dung) là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần đã
tồn tại từ lâu đời trong cộng đồng dân tộc Dao ở Lục Nam. Dân ca Dao đƣợc
cất lên trong nhiều trƣờng hợp, nhiều hoàn cảnh khác nhau chứ không đơn
thuần là những lời ca giải trí khi nhàn rỗi, lời hát giao duyên của nam nữ
thanh niên. Hát dân ca đặc sắc nhất là loại hình hát giao duyên. Thời gian tổ
chức hát thƣờng vào lúc nông nhàn, nhất là vào dịp lễ hội.

của tộc ngƣời, trong đó có tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp. trong
sản xuất nông nghiệp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
CHƢƠNG 2
TRI THỨC DÂN GIAN TRONG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP CỦA NGƢỜI DAO HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG TRONG TRUYỀN THỐNG
2.1. Quan niệm về tri thức dân gian
Tri thức dân gian, kiến thức truyền thống (Traditionnal knowledge) hay
kiến thức địa phƣơng (Local knowledge) là hệ thống các kiến thức của các
cộng đồng dân bản địa trên quy mô lãnh thổ khác nhau. Nó đƣợc hình thành,
tồn tại và phát triển lâu dài cùng với lịch sử phát triển cụ thể của cộng đồng,
với sự tham gia của tất cả các thành viên trong cộng đồng [44, tr.23]. Tri thức
dân gian bao hàm tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội nhƣ: nông nghiệp,
sức khỏe, giáo dục… Trong nông nghiệp, tri thức dân gian đƣợc thể hiện
trong trồng trọt và chăn nuôi. Về trồng trọt: các giống cây bản địa, kinh
nghiệm xác định giống nào cây ấy, lịch thời vụ và dự đoán thời tiết, các kinh
nghiệm tƣới tiêu, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, cách thu hoạch và bảo
quản, cất trữ lƣơng thực, các kinh nghiệm sản xuất trên đất dốc, nƣơng rẫy.
Trong chăn nuôi: kinh nghiệm chọn giống gia súc, quản lý bãi chăn thả theo
mùa, các cây lƣơng thực cho gia súc, các cây thuốc cho gia súc…
Kiến thức dân gian đƣợc hình thành và biến đổi liên tục qua nhiều thế
hệ trong một cộng đồng địa phƣơng nhất định. Tri thức dân gian là sản phẩm
đƣợc tạo ra trong quá trình lao động sản xuất của toàn cộng đồng. Theo thời
gian, các kinh nghiệm truyền thống này đƣợc biến cải để ngày càng hoàn
thiện hơn, nghĩa là có hiệu quả và thích ứng cao hơn với các thay đổi của môi
trƣờng tự nhiên và xã hội. Theo dòng lịch sử, nhiều kiến thức cũ đã không

tăng dân số đã thúc đẩy sự thất lạc của tri thức dân gian. Việc thực hiện các
dự án ở vùng cao là hết sức quan trọng nhƣng để đạt hiện quả cao thì các nhà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

23
khoa học không thể bỏ qua việc kết hợp giữa kiến thức hiện đại và những tri
thức dân gian, đây cũng là yếu tố tao ra sự phát triển bền vững.
Tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao ở huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang vừa là những kinh nghiệm của cuộc sống xã hội
do các thế hệ trƣớc để lại, lại vừa là những kinh nghiệm của các thế hệ hôm
nay tích lũy, bổ sung nhƣng nó cũng tiếp thu những kinh nghiệm dân gian
của các thành phần dân tộc khác ở trong và ngoài tỉnh. Do đó, khi nói về
những tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao ở huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là nói về một địa phƣơng nhƣng nó không thể
không có những nét chung mà các thành phần dân tộc khác, địa phƣơng
khác cũng có. Vì thế việc hiểu tƣờng tận những tri thức dân gian ở Bắc
Giang là hết sức quan trọng.
2.2. Hệ thống tri thức dân gian về sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao
Lục Nam trong truyền thống
Cũng nhƣ các dân tộc khác ở khu vực phía Bắc, hoạt động kinh tế chủ
yếu của ngƣời Dao ở Lục Nam là nông nghiệp. Trồng trọt và chăn nuôi đƣợc
ngƣời Dao lấy làm nghề sống chính từ lâu đời. Chính vì tầm quan trọng của
nó nên việc đúc rút những kinh nghiệm thành hệ thống kiến thức đã đƣợc
ngƣời Dao tiến hành. Ngày nay những nét độc đáo và khác biệt của hệ thống
tri thức trong nông nghiệp rất cần đƣợc nghiên cứu để kịp thời khắc phục mặt
tiêu cực cũng nhƣ tạo điều kiện phát huy những mặt tích cực vốn có của nó.
2.2.1. Trong trồng trọt
2.2.1.1. Nương rẫy
Thời vụ

tơi xốp, độ phì nhiêu cao, giữ ẩm tốt hơn so với các loại đất khác và phù hợp
với nhiều loại cây trồng [56]. Khi chọn nơi để phát nƣơng đồng bào cũng tính
đến khả năng mở rộng diện tích canh tác cho những vụ sau. Vì vậy nƣơng của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

25
ngƣời Dao thƣờng ở cách xa nhau, mỗi gia đình chiếm cứ một vài vạt đồi
rộng, năm nay chƣa khai thác hết, năm sau tiếp tục khai quang để mở rộng
diện tích. Nƣơng rẫy của ngƣời Dao thƣờng ở xa bản, một mặt là do tập quán
qui định nhƣng mặt khác là do những nơi ở gần thì đều đã đƣợc khai thác cạn
kiệt, không còn khả năng trồng tỉa nữa. Khi tìm đƣợc một mảnh nƣơng vừa ý,
các gia đình ngƣời Dao chọn ngày lành tháng tốt (ngày này đều đến xem tại
nhà thầy cúng trong bản, thƣờng là những ngày 6, ngày 9 trong tháng âm lịch)
để tiến hành phát nƣơng. Lễ cúng nƣơng tại nhà thì lễ vật có gà, xôi, rƣợu để
cúng thổ thần, thổ địa, thần rừng, thần cây. Để cúng lễ trên nƣơng, ngƣời chủ
gia đình chuẩn bị lễ gồm cây lúa đan từ tre, nứa, rƣợu, các thanh tre mỏng đến
làm lễ trên mảnh nƣơng. Cây lúa đƣợc cắm ở giữa, các thanh tre cắm tròn
xung quanh tƣợng trƣng cho sự bảo vệ, ngƣời chủ gia đình thắp hƣơng khấn
vái rồi rót rƣợu vòng quanh cây lúa, cầu mong cho cây lúa trên mảnh nƣơng
này trổ nhiều bông, ngƣời trồng đƣợc ăn no, mạnh khoẻ.
Chọn giống
Nƣơng sau khi đƣợc khai quang đƣợc đồng bào sử dụng để canh tác
lúa nƣơng. Giống lúa nƣơng, thƣờng là các loại lúa nếp nƣơng, lúa mộ, tẻ đỏ,
bao thai lùn, chân trâu lùn, Má tai, Tài lũ pin. Lúa nếp nƣơng là loại lúa có
thân cao, năng suất trung bình, hạt thóc màu sẫm, gạo trắng và thơm đƣợc
đồng bào dùng làm bánh dày hay nấu rƣợu. Giống lúa này ít bị sâu bệnh, do
cây cứng không đổ nên ngƣời Dao hay trồng. Với lúa tẻ, trƣớc đây, ngƣời
Dao thƣờng gieo trồng loại cây cao, hạt nhỏ, gạo đỏ, ăn dẻo và thơm. Loại lúa
này có nhƣợc điểm là hay bị đổ non và năng suất không cao nhƣng bù lại, dễ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status