LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo kỹ sư lâm sinh, củng cố lại kiến thức
đã học, đáng giá kết quả học tập, rèn luyện tại trường Đại học Lâm Nghiệp và
gắn công tác khoa học với thực tiễn sản xuất. Được sự nhất trí của trường Đại
học Lâm Nghiệp , bộ môn Điều tra – Quy hoạch, cùng sự đồng ý của TS. Vũ
Thế Hồng, tôi đã thực hiện khóa luận:
“Đề xuất quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp cho Công ty TNHH
một thành viên Lâm nghiệp Mai Sơn - huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang giai
đoạn 2012 – 2020”.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, còn
có sự giúp đỡ chỉ bảo của các thầy cô bộ môn Điều tra – Quy hoạch rừng, của
ban lãnh đạo và phòng kỹ thuật công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Mai
Sơn – Lục Nam – Bắc Giang, Đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình, chu đáo của thầy
TS. Vũ Thế Hồng.
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô, tới
tất cả các cô chú trong công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Mai Sơn, bạn
bè và đặc biệt tới thầy TS. Vũ Thế Hồng.
Do thời gian có hạn, trình độ và khả năng bản thân còn nhiều hạn chế,
hơn nữa đây là lần đầu tiên làm quen với công tác nhiên cứu khoa học và thực
tiễn, do đó khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót khuyết điểm.Tôi rất
mong được sự góp ý kiến quý báu của các thầy cô cùng toàn thể các bạn để bản
khóa luận được hoàn thiện và trở thành một tài liệu hữu ích cho công tác thức tế
và nghiên cứu khoa học sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 23 tháng 04 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Lưu Thị Nguyệt
1
MỤC LỤC
2
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
Sự đổi mới đã có tác động một cách toàn diện và rất mạnh mẽ đến hệ
thống các lâm trường quốc doanh. Ở nước ta từ lâu đã có một hệ thống cơ sở sản
xuất lâm nghiệp từng hoạt động theo hình thức lâm nghiệp nhà nước với cơ chế
quan liêu, bao cấp. Cùng với sự đổi mới toàn diện nền kinh tế của đất nước, hệ
thống các lâm trường quốc doanh cũng phải chuyển đổi về cơ chế tổ chức quản
lý, hình thức vận động theo cơ chế mới, cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước. Ngày 3/12/2004 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 200/2004/NĐ-CP
về sắp xếp đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh theo đó tất cả các lâm
trường quản lý rừng sản xuất có quy mô lớn đều chuyển thành các Công ty lâm
nghiệp, các lâm trường quản lý rừng phòng hộ hoặc đặc dụng chuyển thành các
ban quản lý rừng phòng hộ hoặc đặc dụng. Hầu hết các Công ty lâm nghiệp đều
có vốn đất đai, tài nguyên rừng rộng lớn và nhiều tiềm năng phát triển nhưng
hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao dẫn đến giải thể một số Công ty.
Nguyên nhân chính của vấn đề này là do việc xây dựng chiến lược quy hoạch
phát triển sản xuất lâm nghiệp chưa được quan tâm đúng mức mà đây lại là cơ
sở cho việc lập kế hoạch và định hướng việc tổ chức sản xuất kinh doanh. Là
yếu tố quyết định cho sự thành bại của Công ty. Vì vậy việc quy hoạch phát
5
triển sản xuất lâm nghiệp cho các Công ty lâm nghiệp là rất cần thiết, nhằm bố
cục hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng từ đó làm cơ sở cho việc lập kế
hoạch, định hướng sản xuất kinh doanh. Có như vậy nhu cầu lâm sản cho địa
phương, cho nền kinh tế quốc dân, cho xuất khẩu và cho đời sống của người dân
mới phần nào được thỏa mãn, đồng thời cũng phát huy những tác dụng có lợi
khác của rừng.
Lâm trường Mai Sơn được chuyển thành Công ty Lâm nghiệp Mai Sơn và
cho đến nay theo Nghị định số 25/2010/NĐ-CP, ngày 19/03/2010 của chính phủ
về việc chuyển đổi công ty nhà nước thành Công ty trách nhiệm hữu hạn
(TNHH) một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu, Công ty Lâm nghiệp Mai
Sơn được chuyển thành Công ty TNHH) một thành viên Mai Sơn. Công ty giữ
vai trò quan trọng và là trung tâm dịch vụ sản xuất, khoa học kỹ thuật cho vùng.
những nhận định quan trọng. Hartig đã đưa ra phương thức “chia đều” theo ông
thì tài nguyên rừng được chia thành nhiều phần đều nhau, khép kín trong cả luân
kỳ và mỗi năm chỉ khai thác một lần để khống chế lượng khai thác phù hợp với
khả năng tái tạo của rừng. Đến năm 1816 xuất hiện phương pháp phân kỳ lợi
dụng của H.Cotta, ông chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng
lấy đó để khống chế lượng khai thác hàng năm.
Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời. Quan điểm phương
pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong kỳ khai thác hiện tại, đồng thời đảm
bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau. Và đến cuối thế kỷ XIX xuất hiện
7
phương pháp “lâm phần kinh tế” của Judeich, ông cho rằng những lâm phần nào
đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai thác. Hai
phương pháp này chính là tiền đề của phương pháp tổ chức kinh doanh và
phương pháp tổ chức rừng khác nhau sau này. Phương pháp “Bình quân thu
hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “lý luận rừng
tiêu chuẩn” có ý nghĩa là yêu cầu rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi và diện
tích cũng như trữ lượng, vị trí và đưa các diện tích tuổi cao vào khai thác được
áp dụng ở các nước có tài nguyên rừng phong phú. Còn phương pháp “lâm phần
kinh tế” và sau này là phương pháp “lâm phần” không căn cứ tuổi, dựa vào đặc
điểm cụ thể của lâm phần mà đưa ra biên pháp kinh doanh thích hợp. Từ phương
pháp này còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “phương pháp
kiểm tra”.
1.1.2. Ở Việt Nam.
Quy hoạch lâm nghiệp ở nước ta được biết và áp dụng từ thời Pháp thuộc,
công tác này chỉ mới hình thành các phương án rừng chồi, rừng sản xuất củi và
điều chế rừng Thông theo phương pháp tra hạt đều mà chưa đi đến một sự quy
hoạch có quy mô và toàn diện.
Đến năm 1955- 1957 tiến hành sơ thám và mô tả để ước lượng tài nguyên
rừng. Năm 1958- 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc. Mãi đến
năm 1960- 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới được áp dụng tại miền
- Quy hoạch chi tiết: Là những dự án đầu tư được xây dựng cho từng công
trình cụ thể, khi được cấp thẩm quyền phê duyệt sẽ được ghi vào kế hoạch chuẩn
bị đầu tư.
Theo các cấp quản lý, quy hoạch lâm nghiệp được chia thành các cấp sau:
- Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh: Bao
gồm quy hoạch cho các Tổng công ty lâm nghiệp, Công ty lâm nghiệp, lâm
trường, các khu rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên… các nội dung quy
hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý kinh doanh khác nhau tùy theo điều kiện
cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp.
9
- Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ: Ở nước ta, các cấp
quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành chính: Từ toàn quốc tới tỉnh,
huyện và xã. Để phát triển, mỗi đơn vị đều phải xây dựng phương án quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển các ngành sản xuất và
quy hoạch dân cư, phát triển xã hội…
Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh rừng như các lâm trường, các Công ty
lâm nghiệp, quy hoạch lâm nghiệp luôn giữ vai trò rất quan trọng, nó là phương
án thực hiện kinh doanh trong một thời gian nhất định. Các bước thực hiện một
bản phương án quy hoạch:
- Thu thập tài liệu cơ bản (bản đồ, tài nguyên, một số quy luật lâm sinh và
những thông số cơ bản về tăng trưởng quần thể, cấu trúc, khả năng tái sinh,…
dân số và lao động tại chỗ).
- Xác định các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh (chỉ tiêu về khai thác, nuôi dưỡng.
làm giàu rừng, trồng rừng, các chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp và nông lâm kết
hợp).
- Xây dựng phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp.
Song song với việc tiến hành áp dụng các công tác quy hoạch lâm nghiệp
trong thực tiễn sản xuất, môn quy hoạch lâm nghiệp cũng được đưa vào giảng
dạy ở các trường đại học. Trước năm 1975, bài giảng của môn này ở miền Bắc
chủ yếu dựa vào giáo trình Điều tra thiết kế quy hoạch rừng dịch từ giáo trình
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo
Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X,
kỳ họp thứ 10.
- QĐ 126/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 Về việc thí điểm chia sẻ lợi ích trong
quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng.
- Ngày 08/02/2012,Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
07/2012/QĐ-TTg về một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng.
11
CHƯƠNG II
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.1. Mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu.
a.Mục tiêu tổng quát:
Bổ sung cơ sở khoa học cho việc nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh
doanh lâm nghiệp theo cơ chế đổi mới và góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội địa
phương.
b. Mục tiêu cụ thể:
Đề xuất quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp cho Công ty TNHH
một thành viên Lâm nghiệp Mai Sơn – Huyện Lục Nam – Tỉnh Bắc Giang.
2.1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: đề tài tiến hành đề xuất quy hoạch phát triển sản
xuất lâm nghiệp cho công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Mai Sơn, huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi nghiên cứu: nhằm đánh giá điều kiện cơ bản và đề xuất quy
hoạch phát triển sản xuất cho công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Mai
Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Thời gian hoàn thành khóa luận: Từ ngày 19/03/2012 đến ngày
02/06/2012.
2.2. Nội dung nghiên cứu.
2.2.1. Điều tra điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội.
* Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA).
* Nghiên cứu hệ thống bản đồ.
* Điều tra khảo sát bổ sung trên thực địa
13
2.3.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu.
2.3.2.1. Phương pháp tổng hợp số liệu.
- Tổng hợp phân tích số liệu, từ đó làm cơ sở đánh giá tiềm năng đất đai,
đề xuất quy hoạch phát triển sản xuất dựa trên tiềm năng đất đai, giá cả thị
trường.
- Dựa vào định mức công việc và tiềm năng đất đai tiến hành xác định
tiến độ, các hoạt động sản xuất, tính toán doanh thu chi phí, lợi nhuận và số
lượng lao động cần thiết để tiến hành các hoạt động.
- Phần quy hoạch phát triển sản xuất phải dựa vào điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội và hiện trạng tài nguyên rừng của Công ty, đồng thời phải dựa vào
phương hướng, mục tiêu phát triển lâm nghiệp, phát triển chung của cả nước,
trong vùng, tỉnh, huyện, dựa vào các loại định mức, đơn giá và chỉ tiêu kỹ thuật
vốn đầu tư hàng năm của Công ty. Từ đó có đủ cơ sở để đề xuất quy hoạch phát
triển sản xuất lâm nghiệp cho Công ty.
2.3.2.2. Phương pháp phân tích số liệu.
a. Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế.
Sử dụng phương pháp phân tích chi phí lợi nhuận CBA (Cost Benefit
Analys) để phân tích hiệu quả kinh tế các mô hình sản xuất, trên cơ sở đó để
chọn các mô hình sử dụng đất có hiệu quả cao nhất phục vụ cho công tác quy
hoạch phát triển sản xuất. Các số liệu được tập hợp và tính toán bằng các hàm
kinh tế trong Excel. Các chỉ tiêu được vận dụng trong phân tích CBA bao gồm:
*Phương pháp tĩnh: Coi các yếu tố chi phí và kết quả là độc lập và không
chịu tác động của yếu tố thời gian, mục tiêu đầu tư và biến động giá trị đồng
tiền.
- Tổng lợi nhuận: P = TN – (Cp + r)
- Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí: P
Trong đó: r = IRR, IRR càng cao thì tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ càng cao.
Tỷ suất thu nhập so với chi phí BCR.
15
- BCR là: hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư của phương
án kinh doanh. BVR được tính theo công thức:
BCR =
Trong đó: BCR là tỷ suất giữa thu nhập so với chi phí (đồng/đồng).
BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng).
CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng).
Tiêu chuẩn đánh giá: BCR : Mô hình có lãi.
BCR = 1 : Mô hình hòa vốn.
BCR : Mô hình bị thua lỗ.
Tỷ lệ lãi suất nội tại IRR: IRR là chỉ tiêu thể hiện suất lợi nhuận thực tế
của mô hình đầu tư nếu vay vốn với lãi suất bằng với chỉ tiêu này thì mô hình
hòa vốn.
Tiêu chuẩn đánh giá IRR: IRR 1 : Mô hình có lãi.
IRR = 1: Mô hình hòa vốn.
IRR 1: Mô hình bị thua lỗ.
b, Phân tích đánh giá hiệu quả xã hội.
Đánh giá theo các chỉ tiêu như : phát triển dân số, giải quyết việc làm,
phát triển văn hóa tinh thần, giáo dục, y tế
c, Phân tích đánh giá hiệu quả môi trường.
Đưa ra một số nhận định về tình hình môi trường trên địa bàn nghiên cứu
như: khí hậu, cảnh quan thiên nhiên…
CHƯƠNG III
KẾT QUẢ NHIÊN CỨU
16
3.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của Công ty.
3.1.1. Điều kiện tự nhiên.
3.1.1.1. Vị trí địa lý.
hậu bình quân năm là 22,9
0
C, cao nhất 36
0
C, thấp nhất 7
0
C.
- Độ ẩm không khí bình quân 81%, thấp nhất 44%.
17
- Các yếu tố bất lợi về thời tiết như sương muối, sương mù, bão lơn…mặc
dù sẩy ra ít hâu quả không nghiêm trọng, nhưng mùa mưa thường có lũ cục bộ.
Nhìn chung điều kiện thời tiết và kết cấu lượng mưa phân bố trong năm thuận
lợi cho việc bố trí lịch thời vụ và phù hợp sinh thái loài cây chọn gây trồng rừng
nguyên liệu.
3.1.1.4. Đặc điểm về đất đai.
- Đất trong khu vực được hình thành trên phức hệ đá trầm tích Kỷ Đệ Tứ
với các loại đá mẹ chính: Sa phiến thạch, phiến thạch sét, cuộn sạn kết và một
phần phù sa cổ.
- Các loại đất chủ yếu:
+ Đất Feralít mùn trên núi ( Khoảng 14% diện tích): Phân bố từ độ cao
trên 700m (Phần núi cao cánh cung Đông Triều).
+ Đất Feralít núi (83% diện tích): phân bố từ độ cao 50m đến dưới 700m.
Các loại đất chủ yếu Feralít đỏ vàng, vàng đỏ, đỏ nâu phát triển trên sa phiến
thạch, phiến thạch sét hoặc trên thềm phù sa cổ. Đất có độ dầy 40 – 100cm, hàm
lượng mùn 2 – 5%, đất có tính chất cơ lý hóa tương đối tốt cho thực vật rừng và
cây nông nghiệp phát triển. Đât là đối tượng chính để trồng rừng và kinh doanh
rừng tự nhiên của Công ty.
Tóm lại: Với điều kiện tự nhiên như trên là yếu tố thuận lợi cho một vùng
sản xuất gỗ nguyên liệu nhất là gỗ nhỏ cho công nghiệp, gỗ mỏ và gỗ dăm, ván
bóc, làm bột giấy… . Việc tổ chức kinh doanh thuận lợi với điều kiện về đất đai,
bệnh, đồ dùng dạy học còn nghèo nàn.
- Nhìn chung tình hình dân trí trong vùng chưa cao nên nhận thức về công
tác bảo vệ rừng và trồng rừng kinh tế còn hạn chế. Số lao động trong độ tuổi
đông một số còn thiếu việc làm, đây là nhân tố Công ty sẽ tạo việc làm như
trồng rừng và chăm sóc để tăng thu nhập cho người dân địa phương
3.1.2.2. Điều kiện giao thông và cơ sở hạ tầng.
19
- Đường thủy: có sông Bến Bò và sông Lục Nam đi qua các tỉnh Quảng
Ninh, Hải Dương,…
- Hệ thống đường bộ có 50 km đi qua địa phận công ty và từ công ty đến
các tiểu khu: Tuyến Chẽ - Đá Ngang dài gần 5 km, tuyến Ao Vè – Vua Bà dài 5
km, tuyến từ trụ sở của công ty – Vinh Ninh – Đèo Bụt dài 20 km.
- Ngoài ra còn có một số tuyến đường vào các khu, bãi khai thác với tổng
chiều dài khoảng 20 km.
Hiện tại chất lượng đường giao thông còn xấu, gây khó khăn trong lưu
thông hàng hóa, đi lại, sinh hoạt của người dân trong khu vực nhất là vào mùa
mưa lũ.
3.2. Hiện trạng đất đai tài nguyên rừng và hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty.
3.2.1. Hiện trạng đất đai tài nguyên rừng.
3.2.1.1. Hiện trạng sử dụng đất.
20
Biểu 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của Công ty TNHH một thành viên
Lâm nghiệp Mai Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
STT Chức năng sử dụng Diện tích
(ha).
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích tự nhiên 2.687,9 100,00
1 Đất nông nghiệp 2.631,5 97,90
3 Đất chưa sử dụng 0 0
Tổng diện tích được giao quản lý là: 2.687,9 ha. Trong đó:
* Diện tích đất nông nghiệp là: 2.631,5 ha, chiếm 97,9 %.
- Đất sản xuất nông nghiệp là: 10 ha chiếm 0,37% . ở đây chủ yếu trồng
cây ăn quả
21
- Đất sản xuất lâm nghiệp là: 2.621,5 ha, chiếm 97,53 %, như vậy ta có
thể thấy toàn bộn diện tích đất sản xuất lâm nghiệp của công ty là chiếm phần
lớn, trong đó:
+ Rừng tự nhiên là 1.629,9 ha, là diện tích đang trong giai đoạn đầu tư
bảo vệ, rừng được bảo vệ sinh trưởng và phát triển tốt.
+ Rừng trồng là 646,4 ha được trồng bằng các loài cây Keo lai, Bạch đàn
sản xuất bằng nuôi cấy mô và hom. Rừng trồng được chăm sóc bảo vệ sinh
trưởng và phát triển tốt.
+ Đất chưa có rừng 345,2 ha chủ yếu là đất trống ở trên cao, một phần
chuẩn bị đưa vào kế hoạch trồng rừng các năm sau.
* Đất phi nông nghiệp : 56,43 ha.
+ Đất dùng cho 02 vườn ươm, diện tích 4,23 ha, chuyên sản xuất cây
giống lâm nghiệp với công xuất bình quân 800.000 đến 1.000.000 cây/năm phục
vụ cho trồng rừng của Công ty và các dự án trên địa bàn.
+ Đất nhà ở và văn phòng làm việc 2,46 ha, đã có ranh giới rõ ràng.
+ Còn lại 19,0 ha, là đất bãi gỗ và đất khác ( suối, ao, hồ, đường đi…).
+ Đất núi đá: Diện tích 30,74 ha, là những diện tích nhỏ lẻ nằm rải rác ở
các lô, khoảnh không sử dụng được để tái sinh tự nhiên.
* Đất chưa sửa dụng: hiện nay diện tích này đã có rừng vì vậy không còn
diện tích nào không có rừng nữa.
3.2.1.2. Thống kê diện tích các loại rừng.
Qua tổng hợp số liệu thu thập tại các loại rừng trồng chính của Công ty,
chúng tôi tổng hợp ở biểu 3.2 như sau:
Biểu 3.2.Thống kê diện tích các loại rừng trồng.
Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Theo Quyết định số 26/QĐ – UBND ngày 08/4/2010 của UBND tỉnh
Bắc Giang về việc thu hồi rừng và đất lâm nghiệp của công ty để bàn giao về địa
phương với diện tích là 694,28 ha (đến nay tiền bồi thường Công ty chưa được
thanh toán). Quyết định số 1545/QĐ - UBND ngày 10/10/2006; Quyết định số
1533/QĐ- UBND ngày 23/9/2008; Quyết định số 748/QĐ- UBND ngày
23
15/5/2009; Quyết định 1505/QĐ- UBND ngày 03/9/2009 của UBND tỉnh Bắc
Giang về việc thu hồi đất của Công ty lâm nghiệp Mai Sơn cho các Công ty khai
thác than thuê là 122,02 ha. Đến nay Công ty đang được giao quản lý và sử dụng
2.687,9 ha rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn 03 xã là Trường Sơn, Lục Sơn,
Vô Tranh thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
3.2.2.2. Cơ cấu tổ chức, biên chế, lao động của Công ty:
a. Cơ cấu tổ chức bộ máy gồm: Ban giám đốc, 4 phòng chuyên môn, 4
tiểu khu và 2 tổ sản xuất:
- Ban giám đốc: 03 người ( 01 giám đốc, 02 phó giám đốc).
- 04 phòng chuyên môn: 13 người, phòng tổ chức- hành chính: 04
người,phòng kỹ thuật: 04 người, phòng quản lý bảo vệ: 03 người, phòng kế
toán: 02 người
- 04 đội sản xuất, tổ sản xuất: 23 người, tiểu khu Hoàn Hồ: 05 người,tiểu
khu Đá Ngang: 05 người, tiểu khu Nước Vàng: 06 người, tiểu khu Vĩnh Ninh:
07 người.
- 02 tổ sản xuất: 12 người, tổ vườn ươm: 09 người, tổ kinh doanh: 03
người
b. Lao động: Tổng số lao động tại thời điểm 31/12/2009 là 51 lao động,
số lao động nam: 37 người, nữ: 14 người.
- Phân theo chức năng lao động: Lao động gián tiếp: 34 người.Lao động
trực tiếp sản xuất: 17 người.
- Phân theo chất lượng lao động:Trình độ sau đai học: 01 người.Trình độ
đại học, cao đẳng: 24 người.Trình độ trung cấp: 09 người. Lao động phổ thông: