giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất chanh mai sưu tại xã bình sơn, huyện lục nam, tỉnh bắc giang - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
CHANH MAI SƯU TẠI XÃ BÌNH SƠN, HUYỆN LỤC
NAM, TỈNH BẮC GIANG

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thanh Tuyền
SDT: 01647799866
Khóa: 55
Nghành: Kinh Tế
Nơi mở lớp:
Giảng viên hướng dẫn:

HÀ NỘI 2013
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa
luận này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ trong một
khóa luận nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được
ghi rõ nguồn gốc.


Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Công Hiệp
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của để tài
Nước ta là nước có nền nông nghiệp truyền thống lâu đời, trồng trọt chăn
nuôi là các ngành nghề chủ yếu trong đó trồng trọt cũng rất phát triển. Nghề trồng
trọt đóng vai trò thiết thực đối với các hộ gia đình và xã hội phục vụ nhu cầu thiết
yếu trong đời sống sinh hoạt, đem lại thu nhập cho con người. Đặc biệt là hiệu quả
kinh tế cây Chanh Mai Sưu ở Bắc Giang đã đem lại cho người nông dân và cho tỉnh
nhiều lợi ích kinh tế, trước đây hầu hết các hộ đều trồng trọt theo quy mô nhỏ lẻ,
việc trao đổi mua bán diễn ra trong xã, huyện, thị trấn… tuy nhiên những năm gần
đây những hộ trồng Chanh vẫn luẩn quẩn trong vòng khó khăn, sản xuất không hiệu
quả: với quy mô nhỏ lẻ, manh mún, giá cả phụ thược vào tư thương, giả cả đầu vào
để sản xuất chưa ổn định. Đối với sản xuất cây Chanh nói chung, đặc biệt là cây
Chanh Mai Sưu, các yêu tố đầu vào có vai trò rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp
đến kết quả và hiệu quả sản xuất của hộ nông dân trồng Chanh.
Xã Bình Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang được biết đến như một là một
trong những xã đang

- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Bắc Giang. Cụ thể là tại xã Bình
Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Thời gian: Từ 1/5/2013 – 30/11/2013
- Phạm vi nội dung: Đề tài tìm hiểu thực trạng sản xuất Chanh Mai
Sưu, tập trung điều tra các đối tượng trồng Chanh Mai Sưu, từ đó đề xuất 1
số giải pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất Chanh Mai Sưu trên địa
bàn nghiên cứu.

1.4 Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1 Phương pháp chọn điểm
Xã Bình Sơn là một trong 27 thị trấn, xã của huyện Lục Bình. Xã có diện
tích đất tự nhiên là 27,34 km
2
, tổng số nhân khẩu là 5464 người. Các hộ trong xã
chủ yếu trồng cây Chanh Mai Sưu chiếm khoảng 80% tổng giá trị sản xuất ngành
nông nghiệp. Đây là 1 xã có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế đa dạng với nền tảng
là nông nghiệp, trọng tâm là phát triển kinh tế hộ. Do đặc điểm nghiên cứu của đề
tài nên việc chọn địa điểm nghiên cứu là địa phương có ảnh hưởng lớn bởi sự biến
động về giá và vùng chủ yếu sản xuất Chanh Mai Sưu với sản lượng đủ lớn. Với
những lý do trên, xã Bình Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang được chọn làm
điểm nghiên cứu của đề tài.

1.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
 Thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập thông qua các nguồn tài liệu, sách báo, tạp chí, các nghị định, nghị
quyết, chỉ thị, các chính sách của nhà nước có liên quan đến các công trinh nghiên
cứu khoa học đã được công bố, các số liệu và các báo cáo tổng kết của xã Bình Sơn,
huyện Lục Nam, tỉnh BắcGiang. Các số liệu từ trung tâm thống kê huyện, xã và
thành phố Bắc Giang.
 Thu thập số liệu sơ cấp c) Chỉ tiêu dùng xác định kết quả sản xuất
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động:
Hiệu quả kinh tế:
 Tổng giá trị sản xuất (GO):
GO = ∑ (Q
i
t
P
i
t
) (i=0;n)
Trong đó: GO: tổng giá trị sản xuất
Gi: là sản phẩm thứ i
Pi: giá trị của sản phẩm thứ i
 Thu nhập hỗn hợp (MI)
MI = GO – TC
Trong đó: GO: Tổng giá trị sản xuất
TC: Tổng chi phí sản xuất
 Chi phí trung gian (IC):
IC= ∑ Ci x Pi( i=0;n)
Trong đó: IC: Chi phí trung gian
Ci: vốn đầu tư vào cây thứ i
Pi: giá trị đầu tư thứ i

 Giá trị gia tăng (VA):
VA = GO – IC ( GO và IC như trên)
PHẦN II. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
a. Đặc điểm về vị trí địa lý và địa hình
Bình Sơn là một xã miền núi của huyện Lục Nam, thuộc vùng trung du và
miền núi phía Bắc,cách trung tâm huyện 30km về hướng Đông Bắc Bình sơn gồm
18 thôn bản, có vị trí tiếp giáp với các xã của huyện Lục Nam và các địa phương
khác như sau:
Phía Đông giáp xã Tuấn Đạo, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Phía Tây giáp xã Trường Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Phía Nam giáp xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Phía Bắc giáp Tân Mộc, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Với vị trí địa lý như vậy, Bình Sơn rất thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế
với các xã khác trong và ngoài huyện. Đặc biệt, trên địa bàn huyện có 2 Thị trấn
Cầu Gồ, Bố Hạ và thị trấn nông trường là ba trung tâm tập trung dân cư đông đúc,
tiềm năng phát triển to lớn chắc chắn sẽ thúc đẩy kinh tế toàn huyện tiến bước vững
chắc trong thời gian tới.
Bình Sơn thuộc địa hình vùng núi cao, nhiều sông, suối nhỏ. Địa hình bị chia
cắt đa dạng bởi nhiều sông suối nhỏ. Địa hình dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông
Namên Thế là huyện thuộc vùng núi thấp, nhiều sông suối, độ chia cắt địa hình đa
dạng. Địa hình dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông nam. Có thể phân chia ra 3 dạng

o
C, nhiệt độ trung bình thấp nhất năm là 20,5
o
C, Tháng có nhiệt độ cao nhất là
tháng 6, 7, 8 ; tháng có nhiệt độ thấp nhất là các tháng 12, 1, 2 (có khi xuống tới 0 –
1
o
C). Những tháng rét đậm rét hại có tác động xấu đến phát triển nông nghiệp nói
chung, và việc phát triển của chanh Mai Sưu nói riêng. * Lượng mưa
Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.518,4 mm thuộc vùng mưa trung bình của
vùng trung du bắc bộ. Lượng mưa phân bố không đều trong năm. Mùa mưa từ tháng 4
đến tháng 10 chiến 85% tổng lượng mưa của cả năm, trong đó tập trung nhiều vào các
tháng 6, 7, 8, dễ gây ngập úng ở những nơi địa hình thấp, tuy thời gian ngập úng không
dài nhưng dễ gây lũ ống, lốc xoáy.
Ngược lại trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau lượng mưa chỉ
chiếm khoảng 15% tổng lượng mưa cả năm. Trong mùa này lượng bốc hơi cao ảnh
hưởng tới trồng trọt nếu không có hệ thống tưới. Lượng bốc hơi trung bình năm
1012,2 mm. Lượng bốc hơi tập trung nhiều vào các tháng 6,7,8, các tháng còn lại
lượng bốc hơi phân bố khá đều.

* Độ ẩm không khí.
Độ ẩm không khí bình quân cả năm là 81%, cao nhất là 86% (tháng4) và
thấp nhất là 76% (tháng12).
Nhìn chung xã Bình Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa
Hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa Đông ít mưa, lạnh và khô. Địa bàn xã có lượng mưa
trung bình, với nền nhiệt độ trung bình khá cao, giàu ánh sáng. Đây là điều kiện
thuận lợi cho nhiều loại cây trồng phát triển.


 Về chăn nuôi:
+ Tổng đàn trâu bò hiện có 498 con đạt 95,8% kế hoạch năm 2012 (giảm
22 con).
+ Đàn lợn duy trì 7.100 con tăng 116% kế hoạch năm 2012.
+ Đàn gia cầm đạt 70.000 con tăng 30.000 con so với kế hoạch năm 2012.
Nguyên nhân không tăng đàn gia súc, là do giá cả đầu ra thấp, giá cám và
các dịch vụ đi kèm tăng, thị trường không ổn định.
Công tác tiêm phòng:
+ Tổ chức tiêm phòng cho đàn trâu được 500 liều; đàn lợn 940 liều, đàn gia
cầm 6800 liều, đàn chó mèo 300 liều. Tiêm vắcxin tai xanh cho đàn lợn nái, lợn đực
giống được 340 liều. Thường xuyên tổ chức làm công tác vệ sinh tiêu độc, khử trùng,
công tác kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y tại 02 chợ và các điểm buôn bán.
Chủ động phát hiện kịp thời, kiểm tra báo cáo tình hình dịch bệnh không để dịch bệnh
lây lan phát sinh trên địa bàn, làm tốt công tác xây dựng và quản lý đội ngũ thú y
thôn, bản. Tuy nhiên năm 2012 dịch bệnh vẫn xẩy ra nhỏ lẻ ở một số thôn trên địa bàn
xã.

 Thuỷ sản:
- Tổng diện tích nuôi thả cá toàn xã đạt 10 ha bằng 100% kế hoạch, chủ
yếu là các ao hồ nhỏ tập trung chủ yếu ở các thôn Xóm Làng, Bình Giang, Đồng
Giàng. Việc nuôi cá thương phẩm của một số hộ tại thôn Đồng Giàng bước đầu đã
đem lại hiệu quả kinh tế cao. b. Kết quả sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiêp và dịch vụ:
Duy trì các ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp như: Mộc dân dụng,
vận tải, sửa chữa cơ khí, điện tử, tiêu thụ nông sản có bước phát triển ổn định. Việc
duy trì và mở rộng phát triển các ngành nghề mới như: sản xuất gạch bê tông, các
cơ sở sản xuất kinh doanh đồ mộc, vật liệu xây dựng, tiếp tục được duy trì và phát

100
Đất nông nghiệp
1018.77
38.01
Đất lâm nghiệp
1172.53
43.75
Đất nuôi trồng thủy sản
10
0.37
Đất phi nông nghiệp
425.18
14.70
Đất chuyên dùng
165.8
6.18
Đất ở
105.84
25.36
Đất phi nông nghiệp khác
177.22
0.66
Một số chỉ tiêu bình quân Bình quân đất tự nhiên/người/ (ha/người)
0.4168

Bình quân đất nông nghiệp/người ( ha/người)
0.1583

địa hình chủ yếu là đồi núi nên phần diện tích nuôi trồng thủy sản của địa phương
chủ yếu là của các hộ tự đào ao, nuôi trồng thủy sản, diện tích ao nuôi cá thịt các
loại như Mè, Trắm, Rô phi đơn tính.
Với các đất còn lại như đất chưa sử dụng, đất phi nông nghiệp cũng có biến
đổi qua từng năm nhưng nhìn chung không có sự thay đổi nhiều.
Tóm lại, Bình Sơn là xã có diện tích đất đai tương đối rộng, với diện tích đất
nông nghiệp chiếm khoảng 38,01% năm 2012. Đây là là điều kiện thuận lợi giúp
cho Bình Sơn phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa toàn diện. Ngoài ra diện
tích đất lâm nghiệp tương đối lớn, chiếm gần 50% tổng diện tích, đây là yếu tố quan
trọng thúc đẩy các mô hình kinh tế vườn đồi, vườn rừng phát triển, nhằm từng bước
góp phần làm cho bức tranh kinh tế huyện ngày càng phong phú. Đây cũng là cơ hội
tốt cho việc tạo ra các sản phẩm hảng hóa mũi nhọn phù hợp với yêu cầu phát triển
vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và cung cấp sản phẩm xuất khẩu
như Vải Thiều Bình Sơn, Chè Bình Sơn, Chanh Mai Sưu

2.1.4 Đặc điểm về dân số và lao động
Tổng số hộ của xã năm 2012 là 1539 hộ, dân số là 6873 người, tăng 80 hộ so
với năm 2009 ( tương ứng với 528 người).
Lao động là một yếu tố đặc biệt quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất.
Vai trò này càng được thể hiện rõ hơn trong sản xuất nông nghiệp, khi mà trình độ
cơ giới hóa còn chưa theo kịp đòi hỏi của thực tế sản xuất. Dân số và lao động của
huyện cũng có nhiều điểm chung với các địa phương khác của tỉnh Bắc Giang.
Vài năm trở lại đây, nhiều lao động trên địa bàn huyện đã di cư đến các
thành phố lớn, xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Đây là một hướng mới giải quyết
lao động dư thừa ở nông thôn Việt Nam nói riêng, lao động nông thôn xã Bình Sơn
nói riêng.

2.2.4 Đặc điểm về cơ sở hạ tầng của huyện
* Hệ thống đường giao thông
Thực hiện chủ trương của huyện về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông

các thôn ven sông thường xuyên xảy ra tình trạng úng lụt do nước không thoát kịp
thời. Ngược lại vào mùa khô thì hầu hết các thôn bản đều có tình trạng hạn hán xảy
ra với mức độ khác nhau. Vì vậy mà việc hoàn thiện hệ thống thủy lợi của xã Bình
Sơn hết sức quan trọng. Vài năm trở lại đây, được sự hỗ trợ của Nhà Nước, tổ chức
dự án PLAN và dự án giảm nghèo WB, hệ thống kênh mương dùng cho việc tưới
tiêu của huyện đã được cải thiện kiên cố hóa, tình trạng lũ lụt và hạn hán đã được
hạn chế, mùa màng được đảm bảo nước tưới.
Với hệ thống thủy lợi của xã, nếu biết khai thác một cách khoa học và hợp lý
thì chắc chắn công tác thủy nông sẽ là mắt xích quan trọng tạo nên sự phát triển
kinh tế của huyện trong những năm tới.
2.2 Thực trạng vấn đề
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chanh tại các hộ điều tra.
a. Năng suất và diện tích chanh từ năm 2010 đến năm 2013
Giống chanh Mai Sưu đã mang lại sự gia tăng sản phẩm đầu ra, đặc tính của
giống cho thấy đây là loại giống có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, thích nghi
với khí hậu thổ nhưỡng của vùng và cho năng suất cao.
Ngoài chanh Mai Sưu, địa phương vẫn còn tồn tại 1 số giống chanh thường
được bà con trồng từ rất lâu và cách chọn giống của người dân là chọn ra diện tích
chanh năng suất cao ( sai quả), quả to, ít sâu bệnh sẽ được nhân giống cho các diện
tích khác. Hay nói cách khác loại chanh này thường là chanh đã được trồng từ lâu
đời, không được thuần hóa, chất lượng kém, năng suất thấp, khả năng kháng bệnh
không cao đối với một số sâu bệnh….

Bảng 2.2.1a Năng suất và diện tích Chanh Mai Sưu từ năm 2010 đến năm 2012

Diện tích (ha)
Năng suất (tấn/ha)

14
Giá đầu vụ
22
22
20
Giá giữa vụ
10
19
4
Giá cuối vụ
22
20
18

(Nguồn cán bộ thống kê xã Bình Sơn )

Biểu đồ 3.2 Biểu đồ biến động giá chanh Mai Sưu từ năm 2010 đến năm 2012
Giá chanh Mai Sưu liên tục giảm qua các năm. Năm 2010 diện tích trồng

Qua sơ đồ biểu diễn có thể nhận thấy:
Với kênh 1: Người tiêu dùng biết được địa phương sản xuất chanh và tới
mua, cũng có khi là những gia đình trong xã với nhau tuy nhiên số lượng này là rất
ít bởi vì đa phần các hộ gia đình trong xã đều trồng chanh.
Với kênh 2: Các chủ hộ bán cho thương lái, người dân đều bán với hình thức
không nhiều và thường là thương lái đến tận vườn để mua chanh do vậy giá sẽ thấp
hơn do chi phí vận chuyển được thương lái tính chung vào giá bán. Lý do giá thấp
mà nông dân vẫn bán cho thương lái vì gia đình có lượng chanh nhiều không thể
vận chuyển hết ra đại lý để bán, mặt khác cũng do người dân không có phương tiện
vận chuyển lượng chanh lớn. Ở kênh này, nông dân bán chanh với giá không cao.
Nhất là nhữn thôn bản ở xa đường giao thông, trung tâm xã.
Với kênh 3: Đa số các hộ ở đây đều bán theo kênh này. Thương lái đến tận
nơi để thu mua với số lượng lớn. Thường kênh này các hộ nông dân bị trả giá thấp,
Nông hộ
Nông hộ
Nông hộ
Thương lái
Đại lý
Thương lái
Người tiêu dùng

Người tiêu dùng
Người tiêu dùng

nhưng họ lại ưa thích kênh này hơn vì hinh thức bán đơn giản, gọn gàng, không phả
lo đến cách vận chuyện, tránh được hư hỏng dập nát trong quá trình vận chuyển.
Tổng hợp số liệu điều tra cho thấy, lượng chanh ở đây cung cấp khá lớn ra
thị trường, sản lượng được vận chuyển đi nhiều nơi trong huyện, tỉnh và một số tỉnh
lân cận khác như : Hà Nội, Bắc Ninh…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status