LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu sử dụng trong
khóa luận này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học hàm
học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Trang
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp
tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo, cô giáo, các
đơn vị, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới thầy giáo Th.s
Vi Văn Năng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy, các cô khoa Kinh tế & PTNT
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội. Cảm ơn ban lãnh đạo, cán bộ công nhân
viên UBND và nhân dân xã Vĩnh Sơn đã tạo điều kiện cho tôi về mọi mặt trong
suốt quá trình học tập và nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân
yêu luôn bên cạnh động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Mặc dù đã có sự cố gắng, song với khoảng thời gian thực tập không
nhiều, kiến thức thực tế còn có những hạn chế nhất định nên khóa luận không
tránh khỏi nhiều thiếu sót. Tôi mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô,
bạn bè, những người làm công tác nghiên cứu và công tác kiểm tra để khóa
luận được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Trang
ii
bình quân là 1.500.000đ/ lao động/ tháng. Vĩnh Sơn chủ yếu nuôi rắn hổ
mang phì chiếm tới gần 90% số lượng rắn trong toàn xã.
- Thị trường tiêu thụ còn nhiều tồn tại, người chăn nuôi phải tự tiêu thụ
sản phẩm của mình với hình thức chủ yếu là bán buôn và bán lẻ cho các hộ tư
nhân (tại nhà hoặc tại chợ), một số ít hộ tiêu thụ sản phẩm của mình cho các hộ
thu gom lớn tiêu thụ cho nên giá mà các hộ này nhận được thường cao hơn.
- Năm 2000, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã xác nhận rắn Vĩnh Sơn là rắn
nuôi chứ không phải rắn hoang dã đồng thời cấp giấy phép vận chuyển rắn
đến nơi tiêu thụ. Hộ nuôi rắn vơi đi một lo ngại về việc bị tư thương, đầu nậu
Lạng Sơn, Móng Cái chèn giá, ép giá, chuyện bị Kiểm lâm thu phạt rắn một
cách vô lí … Nghề nuôi rắn ở Vĩnh Sơn ngày đang càng phát triển với quy
mô đa dạng và nhiều hình thức đan xen.
- Hiệu quả kinh tế mà nghề rắn mang lại là tương đối cao, nhất là với
nhóm hộ nuôi với quy mô lớn. Đã đáp ứng được yêu cầu của thị trường và
người tiêu dùng, mang lại được lợi nhuận cho những người nuôi rắn trên địa
bàn xã Vĩnh Sơn.
- Sự phát triển của nghề rắn đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát
triển kinh tế xã hội của xã Vĩnh Sơn, làm thay đổi bộ mặt làng nghề, tỷ lệ gia
đình giàu có tăng lên, tỷ lệ nghèo đói giảm xuống, đời sống của các hộ gia
đình được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên hiệu quả kinh tế mà nghề rắn mang lại
còn chưa cao do còn gặp phải một số khó khăn như: mặt bằng quy hoạch làng
nghề còn chưa hoàn thành, các hộ còn thiếu vốn chăn nuôi, trình độ kỹ thuật
của chủ hộ và người lao động còn chưa cao, thị trường tiêu thụ còn hạn chế…
Đề tài đưa ra một số giải pháp để nâng cao hệu quả kinh tế nghề nuôi
rắn về thị trường, về biện pháp kỹ thuật, về quy mô chăn nuôi…cần được sư
quan tâm và chú trọng của người dân và Nhà nước các cấp …
iv
MỤC LỤC
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQ : Bình quân
CC : Cơ cấu
CM – KT : Chuyên môn – kỹ thuật
DT : Diện tích
ĐVT : Đơn vị tính
GT : Giá trị
HTX : Hợp tác xã
LĐ : Lao động
SL : Số lượng
TM – DV : Thương mại – dịch vụ
viii
PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta sau hơn hai mươi năm đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các ngành
kinh tế đã phát huy được tính năng động và tiềm lực sẵn có để tạo nên một
bức tranh kinh tế toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, góp phần đẩy mạnh công
cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Với mục tiêu cơ bản trở thành
nước công nghiệp vào năm 2020, trước hết nước ta cần phải đẩy nhanh công
nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Đặc biệt là phát triển các
làng nghề trong kinh tế nông thôn nhằm đưa các sản phẩm truyền thống của
nông nghiệp nông thôn ra thị trường trong và ngoài nước. Từ đó góp phần
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ
trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch
vụ nông thôn, giải quyết việc làm cho lao động nhàn dỗi và dư thừa trong
nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân làng nghề, nâng cao
mức thu nhập của người lao động, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội trong
+ Đánh giá các nguồn lực phục vụ sản xuất và đời sống người dân ở địa
bàn nghiên cứu nói chung và nghề nuôi rắn nói riêng.
+ Thực trạng nghề nuôi rắn của nông dân xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh
Tường , tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến
hiệu quả kinh tế trong nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn trong thời gian qua.
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nghề
nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn trong thời gian tới.
2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Điều tra, nghiên cứu ở các nhóm hộ nuôi rắn tại xã Vĩnh Sơn, huyện
Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Nghiên cứu các vấn đề về kinh tế - tổ chức có liên quan đến đề tài.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung:
Đề tài tiến hành nghiên cứu thực trạng chăn nuôi và hiệu quả kinh tế trong
nghề nuôi rắn và nguyên nhân của thực trạng đó ở xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh
Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế của nghề nuôi rắn ở địa phương trong thời gian tới.
+ Về không gian:
Đề tài được triển khai nghiên cứu tại xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường,
tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Về thời gian:
• Các số liệu phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài được thu
thập trong ba năm 2008, 2009 và 2010.
• Tập trung nghiên cứu nghề nuôi rắn và các vấn đề có liên quan
đến đề tài tại xã Vĩnh Sơn chủ yếu năm 2010.
• Thời gian thực hiện nghiên cứu đề tài từ ngày 26/1/2011 đến
26/5/2011.
+ Rắn loại 3: là rắn có trọng lượng dưới 1 kg
2.1.1.2 Vai trò của ngành chăn nuôi nói chung và nghề nuôi rắn nói riêng
trong phát triển kinh tế
* Vai trò của ngành chăn nuôi
• Đối với nền kinh tế quốc dân
Trong nền kinh tế quốc dân, chăn nuôi đóng vai trò khá quan trọng, nó
góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế và góp một lượng hàng hóa cho xuất
khẩu. tùy theo lợi thế so sánh của mình mà mỗi nước có thể xuất khẩu các sản
phẩm nông nghiệp mà trong đó có một phần là sản phẩm chăn nuôi để thu
ngoại tệ hay trao đổi để lấy các sản phẩm công nghiệp đầu tư lại cho ngành
nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Vì vậy sự phát triển của ngành chăn
nuôi sẽ ảnh hưởng tới sự phân bổ và phát triển của các ngành sản xuất khác.
Chăn nuôi không những cung cấp nguốn sản phẩm hàng hóa cho thị
trường trong nước và cho xuất khẩu mà còn giúp sử dụng một cách đầy đủ
hợp lý lực lượng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn. Do đặc
điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, hơn nữa lao động trong
nông nghiệp lại chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng số lao động của nước
ta và các nước đang phát triển khác. Lực lượng lao động này có một thời gian
nhàn rỗi quá lớn do tính chất thời vụ trong sản xuất sinh ra. Vì vậy việc phát
triển ngành chăn nuôi đã tạo công ăn việc làm cho người nông dân và giúp họ
tăng thêm thu nhập nâng cao chất lượng cuộc sống.
• Đối với ngành nông nghiệp
Đối với ngành sản xuất nông nghiệp chăn nuôi có một vai trò rất quan
trọng. Trong sản xuất nông nghiệp thì hai ngành chính cấu thành nên nó là
trồng trọt và chăn nuôi. Hai ngành này có mối liên hệ mật thiết với nhau thúc
đẩy nhau cùng phát triển.
Một nền nông nghiệp phát triển bền vững và ổn định là nền nông nghiệp
có sự phát triển một cách cân đối giữa hai ngành trồng trọt và chăn nuôi.
5
Trồng trọt cung cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi phát triển, ngược lại chăn
nhân dân.
• Rắn là giống không khó nuôi, thời gian nuôi quay vòng không quá dài
nên có thể áp dụng nuôi ở các hộ gia đình, các trang trại, nhằm góp phần phát
triển kinh tế hộ gia đình, cải thiện đời sống nhân dân, đồng thời phát triển nền
kinh tế quốc dân.
2.1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi nói chung và nghề
nuôi rắn nói riêng
- Yếu tố cơ chế, chính sách, hỗ trợ đầu tư, môi trường, pháp luật.
- Các yếu tố tự nhiên, xã hội (phong tục, tập quán…)
- Yếu tố thị trường (giá đầu vào, giá đầu ra…)
- Các yếu tố tổ chức sản xuất, quy trình kỹ thuật trong nuôi rắn: giống,
thức ăn, kỹ thuật chăm sóc, công tác thú y, phòng dịch bệnh…
- Các yếu tố trong chính nội bộ bản thân hộ gia đình:
+ Điều kiện về lao động, vốn đất đai, sức khỏe…
+ Cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh của hộ gia đình.
+ Tính năng động, sáng tạo học hỏi, kinh nghiệm, trình độ của chủ hộ.
Như vậy các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội nói chung
và kinh tế hộ nuôi rắn nói riêng. Mỗi hộ gia đình là một tế bào của xã hội, gia
đình có phát triển thì xã hội mới phát triển và ngược lại. Khi xã hội càng phát
triển tạo điều kiện môi trường, nền tảng cho gia đình phát triển.
2.1.2 Khái niệm và các quan điểm về hiệu quả kinh tế
2.1.2.1 Khái niệm và phân loại hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh tế. Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế nghĩa là tăng
cường trình độ lợi dụng các nguồn lực sẵn có trong hoạt động kinh tế. Đây là
một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất của
con người ngày một tăng. Nói một cách biện chứng thì do yêu cầu của công
tác quản lý kinh tế, cần phải đánh giá nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt
7
động kinh tế đã làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế.
Q là kết quả sản xuất kinh doanh thu được
8
C là chi phí bỏ ra để đạt được kết qủa Q
+ Hiệu số: Q – C : là giá trị tuyệt đối của hiệu quả.
+ Tỷ số (Q - C)/C : là giá trị tương đối của hiệu quả.
+ Q/C : biểu thị tỷ trọng chi phí cần thiết trong kết quả. Thông thường
hiệu quả được biểu hiện như một hiệu số giữa kết quả và chi phí. Tuy nhiên,
trong thực tế có nhiều trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc là phép
trừ không có ý nghĩa.
Thông qua các chỉ tiêu này ta thấy nó chỉ phản ánh được quy mô của
hiệu quả kinh tế, song giá phải trả cho quy mô này là bao nhiêu, cái mà người
sản xuất quan tâm thì không rõ.
- Hệ thống quan điểm thứ sáu: hiệu quả kinh tế biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ
giữa phần tăng thêm của kết quả sản xuất và phần gia tăng thêm của chi phí bỏ ra.
01
01
CC
QQ
H
−
−
=
=
C
Q
∆
∆
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế
Q1, Q0 là lượng kết quả ở hai kì khác nhau
C1, C0 là lượng chi phí ở hai kì khác nhau
+ Hiệu quả kinh tế từng biện pháp kỹ thuật
b) Dựa vào nội dung bản chất gồm có
+ Hiệu quả kinh tế: phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được về mặt
kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó. Bao gồm các chỉ tiêu kết quả
như: tổng giá trị sản phẩm, lợi nhuận…
+ Hiệu quả xã hội: phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các
lợi ích do sản xuất mang lại, được thông qua các chỉ tiêu về giải quyết công
ăn việc làm, bảo vệ môi trường, an ninh xã hội…
+ Hiệu quả môi trường: phản ánh những tác động đến môi trường tự nhiên
của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện nay hiệu quả môi trường đang được các
10
nhà quản lý quan tâm chú ý. Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả thì
hoạt động đó không được ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh học, tạo sự cân bằng
sinh thái, hạn chế xói mòn đất, hạn chế lũ lụt, tăng độ che phủ mặt đất
+ Hiệu quả kinh tế - xã hội: phản ánh mối tương quan giữa các kết quả
đạt được tổng hợp ở các lĩnh vực kinh tế và xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt
được các kết quả đó.
+ Hiệu quả phát triển: thể hiện sự phát triển của các doanh nghiệp, các
vùng. Đây là kết quả tổng hợp nhiều yếu tố như: tình hình đời sống vật chất,
trình độ dân trí…
Trong các loại hiệu quả xem xét trên thì hiệu quả kinh tế là quan trọng
nhất và có ý nghĩa quyết định. Nhưng hiệu quả kinh tế đánh giá đầy đủ và
toàn diện nhất khi có sự liên kết hài hòa với hiệu quả xã hội và hiệu quả phát
triển.
c) Căn cứ vào yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất
+ Hiệu quả sử dụng vốn
+ Hiệu quả sử dụng lao động
+ Hiệu quả sử dụng đất
+ Hiệu quả sử dụng công nghệ - kỹ thuật mới…
2.1.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế
* Phân loại hộ nuôi rắn
- Căn cứ vào mục tiêu cơ chế hoạt động
+ Hộ hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường
+ Hộ bắt đầu có phản ứng với thị trường
+ Hộ sản xuất hàng hóa là chủ yếu
- Theo tính chất của ngành sản xuất
+ Hộ thuần nông
+ Hộ kiêm
12
+ Hộ chuyên
+ Hộ buôn bán
- Căn cứ vào mức thu nhập của hộ
+ Hộ giàu
+ Hộ khá
+ Hộ trung bình
+ Hộ nghèo
+ Hộ đói
Theo Frank Ellis: “ Kinh tế hộ gia đình là kinh tế của những hộ gia
đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động
gia đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và
tham gia ở mức độ hoàn hảo vào hoạt động của thị trường”.
Kinh tế hộ gia đình được thừa nhận là hình thức kinh tế có hiệu quả xã
hội trong nông nghiệp. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ trong lịch sử phát
triển của ngành nông nghiệp là do: đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các
sinh vật, các cơ thể sống. Về mặt xã hội hộ nông dân là một tế bào bền vững
của xã hội.
Do đặc thù riêng của quá trình sản xuất nông nghiệp nên kinh tế hộ gia
đình là một đơn vị chủ thể của tổ chức sản xuất xã hội.
Đối với sản xuất nông nghiệp, không khu vực, tổ chức nào đem lại hiệu
quả sản xuất cao như hộ gia đình, nhất là hộ gia đình chăn nuôi. Đây là khu
xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện đang phát triển khá mạnh mẽ.
Ban đầu chỉ có vài hộ chăn nuôi với quy mô nhỏ, thử nghiệm là chính. Sau do
nhận thấy nuôi rắn không khó, lại cho lợi nhuận tương đối cao nên ngành
nghề mới mẻ này đã ngày càng được nhiều hộ tham gia. Đến nay toàn xã đã
có hơn 300 hộ nuôi rắn với khoảng 20.000 con, mỗi năm đem lại giá trị thu
nhập hàng tỷ đồng. Nghề nuôi rắn ở Tứ Xã không phải là một nghề truyền
14
thống của nhân dân, nhưng đây đang được coi là một nghề có triển vọng, đem
lại giá trị thu nhập cao và là hướng làm giàu của nhiều gia đình. Từ chỗ chỉ
nuôi rắn thương phẩm nhằm cung ứng cho thị trường, đến nay toàn xã có
nhiều hộ mạnh dạn nuôi thêm rắn sinh sản, bước đầu tự chủ động được nguồn
con giống cho gia đình và còn đáp ứng cả nhu cầu của một số hộ trong xã,
từng bước đưa nghề rắn ngày càng phát triển.
Thực hiện mô hình nuôi rắn của Hội Nông dân thành phố và Trung tâm
Khuyến nông thành phố Hà Nội, nghề nuôi rắn thương phẩm ở phường Việt
Hưng, quận Long Biên phát triển mạnh trở lại trong những năm gần đây, tạo
nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ nông dân trên địa bàn. Thực hiện mô
hình nuôi rắn thương phẩm kết hợp với du lịch, ẩm thực, hiện tại phường Việt
Hưng có gần 40 hộ đang nuôi rắn theo phương thức hàng hóa với tổng đàn lên
tới hơn 6.000 con các loại, chủ yếu là rắn cạp nong, cạp nia, hổ mang, rắn
ráo…Thực hiện mô hình khép kín "từ trang trại đến bàn ăn" phục vụ nhu cầu
của du khách, một số gia đình đầu tư mở nhà hàng đặc sản rắn. Mỗi năm, trừ
chi phí, các gia đình thu lãi hàng trăm triệu đồng từ nuôi rắn thương phẩm và
kinh doanh món ăn đặc sản từ rắn.
Làng Bún, xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây có nghề
bắt rắn từ hàng trăm năm nay. Đội quân bắt rắn ngày càng đông thêm, tốc độ
truy lùng rắn cũng ngày càng gắt gao, quyết liệt. Đến những năm cuối thập kỷ
80 thế kỷ trước thì hầu như không còn rắn để bắt nữa nên người dân chuyển
sang nghề nuôi rắn. Cả xã có khoảng 1.000 gia đình theo nghề này. Dân làng
Bún chỉ nuôi một loại rắn duy nhất là hổ mang chúa. Rắn hổ mang chúa giống
quả kinh tế cao cho người dân vì vậy chúng tôi chọn địa bàn Vĩnh Sơn để
nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng
cao hiệu quả kinh tế cho nghề nuôi rắn.
3.1.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Xã Vĩnh Sơn gồm có 5 thôn, mỗi thôn có quy mô nuôi rắn là khác
nhau. Để đảm bảo tính đại diện cho toàn xã chúng tôi tiến hành nghiên cứu cả
5 thôn. Chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên mỗi thôn 10 hộ là thôn Một, thôn Hai,
thôn Ba, thôn Bốn và thôn Năm. Căn cứ vào đó chúng tôi đánh giá và tìm
hiểu về hiệu quả nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn. Tổng số hộ điều tra là 50 hộ trong
đó: quy mô nhỏ là 11 hộ, quy mô vừa là 24 hộ và quy mô lớn là 15 hộ.
* Phương pháp phân nhóm hộ điều tra
- Phân theo hình thức nuôi
+ Nhóm hộ nuôi sinh sản
+ Nhóm hộ nuôi thương phẩm
Hộ nuôi rắn sinh sản là hộ nuôi rắn bố mẹ, tiến hành ấp nở, rắn con có
thể tiếp tục nuôi thương phẩm hay bán ngay. Rắn bố mẹ sau khi khai thác có
thể bán như rắn thương phẩm. Còn hộ nuôi rắn thương phẩm là hộ mua rắn
con về nuôi đến khi bán thịt, không nuôi rắn bố mẹ.
- Phân theo quy mô nuôi ( không kể đầu rắn con – rắn tuổi 1)
17