LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc. Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề tài
này tại địa phương tôi luôn chấp hành đúng mọi quy định của địa phương nơi
thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2015
Tác giả khóa luận
Phạm Văn Hiệp
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo
tận tình của các thầy, cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn – Học viện
Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của cô giáo
Ths.Nguyễn Thị Ngọc Thương đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
thực hiện khóa luận.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới UBND xã Đại Tập, đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ
cho khóa luận.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã
giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời chúc sức khoẻ và chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2015
Tác giả khóa luận
Phạm Văn Hiệp
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ii
nhân và 60 đối với các hộ nông dân chăn nuôi gà Đông Tảo tại xã. Để phân
tích thông tin, đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh,
phương pháp dự báo sau khi xử lý số liệu bằng phần mềm Excel. Ngoài ra đề
tài còn sử dụng hệ thống chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả kinh tế.
Sau khi tiến hành thu thập thông tin và, xử lý số liệu và tiến hành phân
tích, đề tài đã thu được những kết quả sau:
(1) Qua 3 năm số hộ chăn nuôi gà Đông Tảo tăng thêm 171 hộ. Số
lượng gà của xã năm 2012 là 109.890 con đã tăng lên thành 125.468 con năm
2014. Về tình hình tiêu thụ gà Đông Tảo, qua 3 năm đẫ tiêu thụ 288.986 con
gà thịt với tổng khối lượng thịt là 904.736 kg. Tình hình tiêu thụ gà thịt chậm
nhưng gà giống lại tiêu thụ ổn định bình quân mỗi năm tăng 7,6%. Các thị
trường tiêu thụ gà Đông Tảo lớn nhất là Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh.
(2) Kết quả và hiệu quả của các hộ chăn nuôi gà Đông Tảo được được
điều tra : Về tuổi trung bình của chủ hộ, chủ hộ của nhóm I có độ tuổi trung
bình cao nhất (45,7 tuổi), chủ hộ nhóm II có độ tuổi trung bình thấp nhất
(40,8 tuổi), chủ hộ nhóm III có độ tuổi trung bình là 42,5. Chủ hộ chiếm phần
lớn là nam giới, phần ít còn lại là nữ giới. Đa số các chủ hộ có trình độ học
vấn từ trung học cơ sở trở lên còn một phần nhỏ là trình độ tiểu học. Chủ hộ
chăn nuôi quy mô lớn có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn bình quân
cao hơn chủ hộ chăn nuôi vừa và nhỏ. Về tình hình phát triển chăn nuôi, các
nhóm hộ đang mở rộng quy mô chăn nuôi và chủ yếu chăn nuôi gà thịt,
phương thức chăn nuôi chủ yếu là nuôi nhốt và chăn thả vườn.
Về đầu tư cơ sở hạ tầng, 100% các nhóm hộ được điều tra đã đầu tư
xây dựng chuồng trại, máng ăn, uống, lưới quây, điện. Một số hộ còn đầu tư
xây dựng hệ thống chất thải, mua máy phát điện, máy ấp trứng. Việc xây
dựng cơ sở hạ tầng này đều do hộ chăn nuôi tự túc, chính quyền địa phương
iv
kết hợp với cán bộ khuyến nông tập huấn, hướng dẫn cho hộ chăn nuôi cách
xây dựng.Về nguồn cung cấp con giống các hộ mua con giống ở các cơ sở ấp
nở trong xã, một số mua ở các trại giống khác. Về nguồn cung cấp thức ăn
(4)Từ thực trạng phát triển chăn nuôi gà Đông Tảo ở xã Đại Tập, tôi
xin đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà Đông
Tảo ở xã Đại Tập trong thời gian tới: Đổi mới và nâng cao chất lượng quy
hoạch và phát triển, nâng cao HQKT chăn nuôi gà Đông Tảo, tăng cường thu
hút đất đai xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng chăn nuôi, đẩy mạnh tập huấn
chuyển giao và ứng dụng khoa học kĩ thuật, đẩy mạnh công tác thú y và quản
lý dịch bệnh, tăng cường các mối liên kết trong chăn nuôi.
Qua nghiên cứu này, tôi hy vọng sẽ góp phần giúp cho chăn nuôi gà
Đông Tảo ở xã Đại Tập sẽ phát triển bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa,
đạt hiệu quả cao từ đó giúp người dân nơi đây nâng cao hiệu quả kinh tế,vươn
lên làm giàu.
vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ii
MỤC LỤC vii
DANH MỤC HỘP x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi
PHẦN I 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính c p thi t c a t iấ ế ủ đề à 1
1.2 M c tiêu nghiên c u c a t iụ ứ ủ đề à 2
1.3 i t ng v ph m vi nghiên c uĐố ượ à ạ ứ 3
PHẦN II 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 C s lý lu nơ ở ậ 4
2.2 C s th c ti nơ ở ự ễ 20
2.3 Các nghiên c u liên quan n t iứ đế đề à 26
PHẦN III 28
Error: Reference source not found
Bảng 4.4 Thông tin của hộ chăn nuôi gà Đông Tảo Error: Reference source
not found
Bảng 4.5 Thông tin về chăn nuôi của các hộ điều tra Error: Reference source
not found
Bảng 4.6 Tỷ lệ số hộ điều tra theo loại cơ sở hạ tầng đã đầu tư Error:
Reference source not found
Bảng 4.7 Tỷ lệ hộ điều tra theo nguồn mua giống gà thường xuyên Error:
Reference source not found
Bảng 4.8 Tỷ lệ các hộ điều tra theo nguồn mua thức ăn cho gà thường xuyên
Error: Reference source not found
viii
Bảng 4.9 Tỷ lệ hộ sử dụng thuốc phòng dịch bệnh cho gà Đông Tảo Error:
Reference source not found
Bảng 4.10 Chi phí chăn nuôi trong một năm của các nhóm hộ chăn nuôi gà
Đông Tảo Error: Reference source not found
Bảng 4.11 Một số chỉ tiêu kết quả chăn nuôi gà Đông Tảo của các hộ được
điều tra Error: Reference source not found
Bảng 4.12 Kết quả chăn nuôi gà Đông Tảo bình quân trong một lứa của các
hộ điều tra Error: Reference source not found
Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà Đông Tảo theo quy mô chăn nuôi
Error: Reference source not found
Bảng 4.14 Tình hình sử dụng đất đai của các hộ được điều tra Error:
Reference source not found
Bảng 4.15 Tỉ lệ ý kiến đánh giá khó khăn về vốn sản xuất của các nhóm hộ
Error: Reference source not found
ix
DANH MỤC HỘP
Hộp 4.1 Ý kiến của người dân về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Error:
Reference source not found
ngành kinh tế khác thì chăn nuôi cũng được áp dụng các biện pháp khoa học,
tiến bộ kỹ thuật mới giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm của
chăn nuôi.
Bên cạnh những thuận lợi để phát triển còn tồn tại rất nhiều những khó
khăn và thách thức như: Dịch bệnh, giá thức ăn cao, đầu ra không ổn định… Vì
vậy nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản lý, các cơ sở sản xuất, người chăn nuôi
là phải nắm bắt được nhu cầu thị trường từ đó đưa ra những định hướng, biện
pháp giải quyết, lựa chọn quy mô, sản xuất cho phù hợp với thị trường.
Khoái Châu là một huyện phía tây của tỉnh Hưng Yên, nằm trên tả ngạn
của sông Hồng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển trồng trọt và chăn
nuôi. Đặc biệt là trong ngành chăn nuôi ở đây có giống Gà Đông Tảo đặc hữu
và quý hiếm không nơi nào trên thế giới có. Đây là giống Gà nuôi cổ truyền
có nguồn gốc từ xã Đông Tảo thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên,
người dân trước đây thường dùng để cúng tế hội hè, hay tiến vua. Gà Đông
Tảo thuộc danh sách các giống gia cầm quý hiếm của Việt Nam. Giống gà
Đông Tảo đã được người dân trên địa bàn xã Đại Tập chăn nuôi và phát triển
thành một thương hiệu nổi tiếng. Chăn nuôi gà Đông Tảo đã trở thành nguồn
sinh kế của nhiều hộ nông dân nơi đây. Chăn nuôi gà Đông Tảo giúp người
dân xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập mà giúp bảo tồn nguồn gen của một
giống gia cầm quý hiếm này.
1
Tuy nhiên, trong bối cảnh ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà
nói riêng, người dân chăn nuôi gà ở xã Đại Tập cũng như ở các địa phương
khác phải đối mặt với nhiều khó khăn, rủi ro, thử thách, chịu ảnh hưởng của
tình hình biến động kinh tế- xã hội. Cùng đó là thời tiết khí hậu, dịch bệnh
thay đổi và luôn có nguy cơ bùng phát, giá nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi,
thuốc thú y tăng cao, chi phí sản xuất tăng trong khi giá sản phẩm chăn nuôi
thấp không ổn định, khó cạnh tranh nên hiệu quả kinh tế thấp (Dương Văn
Suất, 2014). Đặc biệt là chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún đổi mới phương thức
chăn nuôi chậm. Việc nhập khẩu thịt gia súc, gia cầm, nhập lậu gà và trứng
Đông Tảo ở xã Đại Tập, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu về thực trạng chăn nuôi gà Đông Tảo,
đánh giá hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà trên địa bàn xã Đại Tập, từ đó
đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế về qui mô, phương thức, kỹ
thuật, cách thức tổ chức, công tác quản lý, trong chăn nuôi gà Đông Tảo ở
địa phương.
- Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện ở xã Đại Tập, huyện Khoái
Châu, Tỉnh Hưng Yên.
- Phạm vi thời gian của số liệu: Đề tài điều tra thực trạng vấn đề chăn
nuôi gà Đông Tảo ở xã Đại Tập, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên từ năm
2012 đến năm 2014.
- Thời gian nghiên cứu đề tài: từ ngày 10/02/2015 đến ngày
02/06/2015.
3
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số lý luận về hiệu quả kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế
2.1.1.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
a) Các khái niệm hiệu quả kinh tế
- Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất nhà kinh doanh, nhà
quản lý và toàn xã hội đều quan tâm tới hiệu quả kinh tế (HQKT). Trong một
nền sản xuất xã hội, với một lượng nguồn lực nhất định, sản xuất cái gì? Sản
xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? tạo ra khối lượng sản phẩm lớn với chi phí
tài nguyên, nguồn lực, lao động thấp nhất để có hiệu quả kinh tế là mục tiêu
của các nhà sản xuất và các nhà quản lý. Và người ta thường đề cập đến "sản
xuất có hiệu quả", "sản xuất không hiệu quả", "sản xuất kém hiệu quả". Vậy
hiệu quả kinh tế là gi?
- Theo N. Gregory Mankiw (2003), hiệu quả kinh tế là những chỉ tiêu
luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội ”.
- Các nhà kinh tế học thị trường, đứng đầu là Paul A. Samuelson và
Wiliam. D. Nordhalls (1991) cho rằng, một nền kinh tế có hiệu quả, một
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên đường
giới hạn khả năng sản xuất của nó và “ hiệu quả có ý nghĩa là không lãng phí
”. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội “hiệu quả sản
xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà
không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác. Mọi nền kinh tế có hiệu
quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó
- Theo các tác giả Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình (1997), HQKT bao
gồm: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế.
5
+ Hiệu quả kỹ thuật (HQKTh) là số lượng sản phẩm có thể đạt được
trên một đồng chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong điều
kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp. HQKTh
được áp dụng phổ biến trong kinh tế vĩ mô để xem xét tình hình sử dụng
nguồn lực cụ thể. Hiệu quả này thường được phản ánh trong quan hệ các hàm
sản xuất. HQKTh liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất. Nó chỉ ta
rằng 2 đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm
HQKTh của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ
giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi
nông dân ra quyết định sản xuất. HQKTh phụ thuộc vào bản chất kỹ thuật và
công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, kỹ năng người sản xuất cũng
như môi trường kinh tế xã hội khác mà trong đó kỹ thuật được áp dụng.
+ Hiệu quả phân bổ (HQPB) là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá
sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên
một đơn vị chi phí tăng thêm về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của HQPB
là HQKTh có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá của đầu ra. Vì thế,
nó còn được gọi là hiệu quả giá. Việc xác định hiệu quả này giống như xác
định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận, có nghĩa là giá trị
tuyệt đối và so sánh tương đối). Như vậy, một hoạt động sản xuất nào đó đạt
được hiệu quả cao chính là đã đạt được mối quan hệ tương quan tối ưu giữa
kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Đây là quan điểm
được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh
tế của các qúa trình kinh tế
- Theo ý kiến của một số nhà kinh tế khác thì những quan điểm nêu
trên chưa toàn diện, vì mới nhìn thấy ở những góc độ và khía cạnh trực tiếp.
Vì vậy, khi xem xét hiệu quả kinh tế phải đặt trong tổng thể kinh tế - xã hội,
7
nghĩa là phải quan tâm tới các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội như nâng
cao mức sống, cải thiện môi trường…
Như vậy có thể hiểu một cách tổng quát: Hiệu quả kinh tế là một phạm
trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản
ánh trình độ khai thác các nguồn lực và tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó
trong qua trình sản xuất nhằm đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh.
b) Các công thức tính hiệu quả kinh tế
- Có thể hiểu một cách bao quát: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh
tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình
độ khai thác các nguồn lực và tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó trong quá
trình sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh.
- Mục tiêu nâng cao HQKT trong sản xuất nhằm phát triển kinh tế xã
hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn bộ xã
hội, trong điều kiện nguồn lực sản xuất xã hội có hạn và ngày càng khan
hiếm. Do vậy, việc nâng cao HQKT là một đòi hỏi khách quan với mọi nền
sản xuất xã hội .
Từ các giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra các
quan điểm khác nhau về cách tính hiệu quả kinh tế.
Thứ nhất: HQKT được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và
chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Theo quan điểm này cho phép chúng ta
xác định được các chỉ tiêu tương đối của hiệu quả kinh tế bằng cách so sánh
nhuận . Trên cơ sở đó, các nhà sản xuất sẽ đưa ra những quyết định sản xuất
tối ưu nhất.
Ngoài ra còn một số quan điểm tương đồng về hiệu quả kinh tế của quá
trình sản xuất kinh doanh. Theo tác giả Lê Thị Thụ (1992) cho rằng “Hiệu quả
kinh tế là chỉ tiêu tổng hợp nhất về chất lượng của sản xuất kinh doanh. Nội
dung của nó so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra”. Bên cạnh đó còn có
9
những quan điểm nhìn nhận hiệu quả kinh tế trong tổng thể xã hội. Quan điểm
này cho rằng: “Hiệu quả kinh tế của sản xuất xã hội được tính toán và kế
hoạch hoá trên cơ sở những nguyên tắc chung đối với nền kinh tế quốc dân.
Hiệu quả kinh tế được xác định bằng so sánh kết quả của nền sản xuất chung
với chi phí hoặc nguồn dự trữ đã sử dụng. Quan điểm này được đưa ra khi
đánh giá sự tiến bộ của nền sản xuất xã hội. Từ đó người ta xác định các mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội trong tương lai”.
Nhìn chung các quan điểm nghiên cứu có những khía cạnh khác nhau
nhưng đều thống nhất với nhau. Hiệu quả kinh tế là lợi ích tối ưu mang lại của
mỗi quá trình sản xuất kinh doanh.
2.1.1.2 Nâng cao hiệu quả kinh tế
Trong bất kỳ một ngành kinh tế nào hay trong sản xuất kinh doanh đều
mong muốn rằng với nguồn lực có hạn có thể tạo ra lượng sản phẩm lớn nhất
với chất lượng tốt nhất. Vì vậy tất cả các hoạt động sản xuất đều được tính
toán để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ
hội để tăng lợi nhuận, từ đó các nhà sản xuất tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở
rộng thị trường, tạo lợi thế cạnh tranh đồng thời nâng cao thu nhập cho
người lao động.
Đối với sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế các nguồn lực
trong đó hiệu quả sử dụng đất có ý nghĩa hết sức quan trọng. Muốn nâng cao
hiệu quả kinh tế các hình thức sử dụng đất nông nghiệp thì một trong các vấn
đề cốt lõi là phải tiết kiệm nguồn lực. Cụ thể với nguồn đất đai có hạn yêu cầu
đặt ra với người sử dụng đất là tạo ra được số lượng nông sản có số và chất
các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao
động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục
tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp –
mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
11
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị
trường đang khuyến khích mọi ngành, mọi lĩnh vực tham gia sản xuất kinh
doanh nhằm tìm kiếm cơ hội với mục đích cuối cùng là thu được lợi nhuận.
Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để đạt được hiệu quả kinh tế lớn nhất, đó
là sự kết hợp giữa các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra trong điều kiện sản
xuất nhất định. Ngoài ra còn ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như: khoa học kỹ
thuật, nguồn vốn, các chính sách của Nhà nước…(Đỗ Kim Chung, 1997).
Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt
động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm
hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiểu kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt
được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là
mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như
số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, và cũng có
thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định
tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm, Như thế, kết
quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp.
Trong lý thuyết và thực tế quá trình sản xuất kinh doanh cả hai chỉ tiêu
kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá
trị. Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh tế sẽ vấp
phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo
lường còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau
về cùng một đơn vị đo lường – tiền tệ. Vấn đề được đặt ra là: hiệu quả kinh tế
nói dung và hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh nói riêng là mục tiêu
- Gà Đông Tảo thuộc giống gà to con, dáng hình bệ vệ, thân hình to,
dao đỏ, đầu oai vệ, cặp chân vững chãi khối lượng lúc trưởng thành gà trống
đạt 3,8- 4,0kg; gà mái 3,0- 3,5kg (Nguyễn Hữu Lương, Trần Thị Loan, 2009).
13
Gà Đông Tảo trống có hai mã lông cơ bản gồm mã mận (màu tím pha đen) và
mầu của trái mận.
- Gà có cặp chân sù sì, cặp chân gà trống to và bao quanh chân ở phía
trước là một lớp vảy da sắp xếp không theo hàng, phần còn lại da sùi giống bề
mặt trái dâu tằm, bốn ngón chân xòe ra, chia rõ nét, bàn chân dày, cân đối nên
gà bước đi vững chắc.
- Mào gà trống mào sun màu đỏ tía, tích và dái tai màu đỏ, kém phát
triển nhìn gọn và khỏe. Gà mái cũng có mào tựa mào tựa mào con trống
nhưng chỉ to bằng 1/3 so với mào gà trống.
Vì vậy giống gà này vẫn giữ được độ thuần chủng ở một số ít cá thể
được lưu giữ trong một số gia đình được truyền từ đời cha ông để lại.
Giống gà này còn tồn tại được nhờ khả năng tự tìm kiếm thức ăn và gà
có sức đề kháng cao, khả năng chống chịu bệnh tật tốt. Trong điều kiện hiện nay
nhu cầu về các sản phẩm chất lượng cao của người dân ngày càng tăng, thịt gà
Đông Tảo đã trở thành thịt gà đặc sản nên giá bán cao hơn các giống gà khác,
chăn nuôi gà Đông Tảo mang lại hiệu quả kinh tế cao. Do vậy gà Đông Tảo hiện
nay đang được người chăn nuôi cũng như người tiêu dùng mến mộ.
2.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi gà Đông Tảo
a) Đặc điểm của hộ chăn nuôi
- Chủ hộ: Kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, tùy điều kiện của hộ để chủ hộ đưa ra quyết định sản xuất cái gì, sản xuất
thế nào…việc đưa ra quyết định sản xuất đó phụ thuộc vào trình độ, nhận
thức, kinh nghiệm, tuổi của chủ hộ. Vì vậy, tùy vào đặc điểm của từng hộ mà
tình hình chăn nuôi lại khác nhau.
- Đất đai: Đất đai là yếu tố quan trọng, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong
sản xuất nông nghiệp. Trong chăn nuôi gà Đông Tảo, diện tích mặt đất là một