ĐỀ TÀI
“Đánh giá các hoạt động khuyến nông trên địa
bàn huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn năm
2011”
Giáo viên thực hiện : Phạm Thị Thanh Nga
Sinh viên thực hiện : Lương Văn Khanh
MỤC LỤC
Trang
1
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN 7
Trang 7
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Những kiến thức lý luận cơ bản về khuyến nông 4
2.1.1.1. Khái niệm khuyến nông 4
2.1.1.2. Nhiệm vụ của khuyến nông 5
2.1.1.3. Chức năng của KN 6
2.1.1.4. Mục tiêu của KN 6
2.1.1.5. Nội dung hoạt động của khuyến nông 7
2.1.1.6. Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam 9
2.1.1.7. Vai trò của khuyến nông 11
2.1.1.8. Một số nguyên tắc hoạt động của KN 12
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 13
4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động 29
4.1.2.2. Cơ sở hạ tầng, giao thông 33
4.1.2.3. Giáo dục - y tế 34
4.1.2.4. Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp 36
4.1.2.5. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 40
4.1.2.6. Hoạt động thương mại - du lịch - dịch vụ 40
4.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 43
4.1.3.1. Thuận lợi 43
4.1.3.2. Những khó khăn 43
4.2. Thực trạng công tác khuyến nông huyện Tràng Định 44
4.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của trạm khuyến nông huyện
Tràng Định 44
4.2.2. Cơ cấu của hệ thống khuyến nông huyện Tràng Định 45
4.2.3. Thực trạng đội ngũ cán bộ khuyến nông huyện Tràng Định 46
4.2.3.1 Đặc điểm lực lượng cán bộ khuyến nông huyện Tràng Định. 46
4.2.4. Đánh giá các hoạt động của trạm KN huyện Tràng Định 49
4.2.4.1. Công tác đào tạo, tập huấn kĩ thuật 49
4.2.4.2. Công tác chỉ đạo sản xuất 54
4.2.4.3. Công tác thông tin tuyên truyền 54
4.2.4.4. Công tác xây dựng mô hình trình diễn 55
4.2.4.5. Công tác tham quan hội thảo 58
4.2.4.6. Công tác xã hội hóa 58
4.2.5. Kinh phí hoạt động khuyến nông huyện Tràng Định 59
4.3. Đánh giá chung về thực trạng khuyến nông huyện Tràng Định 60
4.3.1. Điểm mạnh 60
4.3.2. Điểm yếu 61
4.3.3. Cơ hội 62
4.3.4. Thách thức 63
4.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông huyện Tràng
Định 63
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2012
Sinh viên
Lương Văn Khanh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ, cụm từ viết tắt Chú giải
KT - XH Kinh tế xã hội
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
TBKT Tiến bộ kỹ thuật
CN - TTCN Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
CN & XD Công nghiệp và xây dựng
KH - KT Khoa học - kỹ thuật
KN Khuyến nông
PTNT Phát triển nông thôn
KNV Khuyến nông viên
CLBKN Câu lạc bộ khuyến nông
MHTD Mô hình trình diễn
TTLL Thông tin liên lạc
CBKN Cán bộ khuyến nông
TW Trung ương
QĐ Quyết định
HTX Hợp tác xã
KNKL Khuyến nông khuyến lâm
NN Nông nghiệp
LĐ Lao động
NK Nhân khẩu
SL Số lượng
CC Cơ cấu
NS Năng suất
DT Diện tích
ĐVT Đơn vị tính
Hình 2.1. Sơ đồ hệ thống khuyến nông Việt Nam 10
Hình 2.2. Vai. trò của khuyến nông trong sự nghiệp phát triển nông thôn
11
Hình 2.3. Khuyến nông - cầu nối giữa nhà nghiên cứu và nhà nông 12
Hình 4.1: Hệ thống khuyến nông huyện Tràng Định 45
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất sớm nhất trong lịch sử loài người. Nó sản
xuất ra lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu thiết thực của con người mà không ngành
nào có thể thay thế được.
Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp là chính, với cơ cấu của ngành nông
nghiệp chiếm 20,23%, khoảng 70% dân số sống ở nông thôn, 60% dân số làm nghề nông.
Vì vậy, sản xuất nông nghiệp chiếm một vị trí rất quan trọng cần được chú trọng quan tâm
để phát triển kinh tế nước nhà.
Trước tình hình đó, được sự quan tâm kịp thời của Đảng và Nhà nước: Hệ thống
khuyến nông (KN) Nhà nước của Việt Nam chính thức được thành lập theo Nghị định 13/CP
ngày 02/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ. KN là một quá trình, một hệ thống các hoạt động
nhằm truyền bá kiến thức và huấn luyện tay nghề cho nông dân, đưa đến cho họ những hiểu
biết để họ có khả năng tự giải quyết những vấn đề gặp phải nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất,
nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống, nâng cao dân trí trong cộng đồng nông thôn.
Qua 19 năm xây dựng và phát triển, KN đã và đang khẳng định vị thế quan trọng
của mình trong chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta.
Trước đây, sản xuất nông nghiệp không đủ cung cấp lương thực, thực phẩm cho
nhu cầu của nhân dân cả nước. Từ khi hệ thống khuyến nông nhà nước được thành lập, đến
nay ngành nông nghiệp đã đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đưa Việt Nam trở
thành một trong những nước xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới (đứng thứ 2 thế giới
về sản xuất lúa gạo), sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã có mặt trên thế giới như châu Âu,
Mĩ. Hàng năm cả nước sản xuất được trên dưới 40 triệu tấn lương thực và một khối lượng
rất lớn các nông sản khác. Việc áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, đồng thời lựa
2
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên có cơ hội tiếp xúc với thực tế, làm quen với thực tiễn sản xuất,
nâng cao kiến thức học tập được từ nhà trường, và rút ra những bài học kinh nghiệm phục
vụ công tác sau này.
- Đề tài cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên các khóa tiếp theo.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được các hoạt động KN, tìm ra nguyên nhân của điểm mạnh, điểm yếu
trong công tác KN tại huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn 2009 – 2011. Từ
đó xác định được phương hướng phát triển phù hợp cho huyện trong những năm tới.
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để tham khảo cho việc hoàn thiện hệ thống KN và đề
xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác KN trên địa bàn huyện, góp phần nâng cao
hiệu quả của công tác KN tỉnh Lạng Sơn.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Những kiến thức lý luận cơ bản về khuyến nông
2.1.1.1. Khái niệm khuyến nông
Theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là sử dụng các cơ quan nông - lâm - ngư nghiệp, các
trung tâm khoa học nông lâm nghiệp để phổ biến, mở rộng kết quả nghiên cứu tới nông
dân bằng các phương pháp thích hợp để họ áp dụng nhằm thu được nhiều nông sản hơn.
Hiểu theo nghĩa này thì khuyến nông chỉ là công việc chuyển giao TBKT trong nông
nghiệp mà thôi.
Theo nghĩa rộng: Khuyến nông ngoài việc hướng dẫn cho nông dân biết TBKT còn
phải giúp họ liên kết với nhau để phòng chống thiên tai, để có vật tư kỹ thuật, để sản xuất,
để tiêu thụ sản phẩm, để thi hành chính sách của Chính phủ và luật lệ của Nhà nước, giúp
cho nông dân phát triển khả năng tự quản lý, tổ chức cuộc sống một cách tốt nhất.
Trên thế giới, từ “Extension” được sử dụng đầu tiên ở nước Anh năm 1866 có
Công tác khuyến nông có rất nhiều nhiệm vụ khác nhau nhưng vẫn tập trung vào
các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật theo các chương trình dự án, trang bị kiến thức,
kinh nghiệm cho người dân.
- Cung cấp những thông tin đúng về khoa học kỹ thuật, cơ chế chính sách, thị
trường có liên quan đến sản xuất cho người dân, giúp họ lựa chọn phương pháp sản xuất,
kinh doanh thích hợp, đem lại hiệu quả cao.
- Xây dựng mô hình trình diễn, hướng dẫn khuyến cáo kỹ thuật cho nông dân trong
lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp.
- Tạo lòng tin và quyết tâm để nông dân mạnh dạn áp dụng những tiến bộ khoa học
kỹ thuật mới để sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
- Tổ chức thăm quan thu thập thông tin, tổng kết kinh nghiệm và có ý kiến đánh giá
nguyện vọng của bà con nông dân đối với các điển hình kinh tế tiên tiến và các cơ chế
chính sách đang áp dụng để cải tiến và phản ánh với các cơ quan có liên quan tiếp tục cải
thiện và làm hoàn chỉnh hơn.
5
- Xây dựng mạng lưới khuyến nông cơ sở, bồi dưỡng nghiệp vụ, tập huấn khuyến
nông cơ sở, xây dựng câu lạc bộ khuyến nông, làng khuyến nông tự quản và các nhóm hộ
nông dân cùng sở thích.
2.1.1.3. Chức năng của KN
- Đào tạo tập huấn nông dân: tổ chức các khóa tập huấn, xây dựng mô hình tham
quan, hội thảo đầu bờ cho nông dân.
- Thúc đẩy, tạo điều kiện cho người nông dân đề xuất các ý tưởng, sáng kiến và
thực hiện thành công các ý tưởng sáng kiến của họ.
- Trao đổi truyền bá thông tin: bao gồm việc xử ký, lựa chọn các thông tin cần thiết,
phù hợp từ các nguồn các nguồn khác nhau để phổ biến cho nông dân giúp họ cùng nhau
chia sẻ và học tập.
- Giúp nông dân giải quyết những vấn đề khó khăn tại địa phương.
- Giám sát đánh giá các hoạt động khuyến nông: dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra đánh giá và hưởng lợi.
- Xuất bản, hướng dẫn và cung cấp thông tin bằng các phương tiện thông tin đại
chúng, hội nghị, hội thảo, hội thi, hội chợ, triển lãm và các hình thức thông tin tuyên truyền
khác.
* Bồi dưỡng, tập huấn, đào tạo
- Bồi dưỡng, tập huấn và truyền nghề cho người sản xuất để nâng cao kiến thức, kỹ
năng sản xuất, quản lý kinh tế trong nông - lâm - ngư nghiệp.
- Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho người hoạt động KN – KN.
- Tổ chức tham quan, khảo sát, học tập trong và ngoài nước.
* Xây dựng mô hình và chuyển giao khoa học công nghệ
- Xây dựng mô hình trình diễn về các tiến bộ khoa học công nghệ cao trong lĩnh
vực NN, thuỷ sản.
- Chuyển giao kết quả khoa học công nghệ từ các MHTD ra diện rộng.
* Tư vấn và dịch vụ
- Tư vấn, hỗ trợ chính sách, pháp luật về: Đất đai, thuỷ sản, thị trường, khoa học
công nghệ, áp dụng kinh nghiệm tiên tiến trong sản xuất, quản lý, kinh doanh trong phát
triển nông nghiệp, thuỷ sản.
7
- Dịch vụ trong các lĩnh vực: Pháp luật, tập huấn, đào tạo, cung cấp thông tin,
chuyển giao khoa học công nghệ, xúc tiến thương mại, thị trường, giá cả đầu tư, tín
dụng, xây dựng dự án, cung ứng vật tư kỹ thuật, thiết bị và các hoạt động khác có liên
quan đến NN, thuỷ sản theo quy định của pháp luật.
- Tư vấn, hỗ trợ việc khởi sự doanh nghiệp nhỏ và lập dự án đầu tư phát triển NN,
thuỷ sản và ngành nghề nông thôn, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, tuyển dụng, đào tạo lao
động, huy động vốn phù hợp với quy hoạch PTNT theo vùng lãnh thổ và địa phương.
- Tư vấn, hỗ trợ, phát triển, ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, chế biến nông lâm,
thuỷ sản và nghề muối.
- Tư vấn, hỗ trợ quản lý, sử dụng nước sạch nông thôn và vệ sinh môi trường nông
thôn.
- Tư vấn, hỗ trợ đổi mới tổ chức, cải tiến quản lý, hợp lý hoá sản xuất, hạ giá thành
sản phẩm của doanh nghiệp, của tổ chức kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp, nông
tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức khoa học, giáo dục đào tạo, hiệp hội, hội nghề
nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có tham gia hoạt động khuyến nông
trên lãnh thổ Việt Nam.
2. Tổ chức khuyến nông khác được thực hiện các nội dung hoạt động khuyến nông theo
quy định của nghị định này và các quy định pháp luật liên quan.
3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức khuyến nông
khác thuộc tổ chức, cá nhân nào do tổ chức, cá nhân đó quy định
9
Hình 2.1. Sơ đồ hệ thống khuyến nông Việt Nam
(Nguồn: Bài giảng nguyên lý và phương pháp khuyến nông, 2007)
10
Bộ Nông
nghiệp và
PTNT
Trung tâm
khuyến nông
Quốc gia
Sở Nông
nghiệp và
PTNT
Nhóm sở
thích
CLB khuyến
nông
Làng khuyến
nông tự quản
Cấp huyện
Cấp xã
Trạm khuyến
nông huyện
Chính sách
Tín dụng
Thị trường
Nghiên cứu
công nghệ
Hình 2.3. Khuyến nông - cầu nối giữa nhà nghiên cứu và nhà nông
(Nguồn: Nguyễn Hữu Thọ, 2007)
* Vai trò của khuyến nông đối với nhà nước
- KN - KL là một trong những tổ chức giúp nhà nước thực hiện các chính
sách chiến lược và phát triển nông - lâm nghiệp, nông thôn và nông dân.
- Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông nghiệp
- Trực tiếp góp phần cung cấp thông tin về những những nhu cầu,
nguyện vọng của nông dân đến các cơ quan nhà nước, trên cơ sở đó nhà nước
hoạch định, cải tiến đề ra được chính sách phù hợp.
2.1.1.8. Một số nguyên tắc hoạt động của KN
- Khuyến nông làm cùng với dân, không làm thay dân: Chỉ có bản thân
người nông dân mới có thể quyết định được phương thức canh tác trên mảnh
đất của gia đình họ. Cán bộ khuyến nông không thể quyết định thay nông dân.
Nông dân có thể hoàn toàn đưa ra những quyết định đúng đắn để giải quyết
những khó khăn của họ. Khi tự mình ra quyết định người nông dân sẽ tin vào
bản thân hơn so với khi bị áp đặt, cán bộ KN cần cung cấp thông tin, trao đổi,
thảo luận với nông dân.
- KN phải được thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao: một mặt KN
phải chịu tránh nhiệm với nhà nước, mặt khác KN có trách nhiệm đáp ứng
những yêu cầu của nông dân.
- KN là nhịp cầu thông tin hai chiều
- KN phải hợp tác với những tổ chức phát triển nông thôn khác
- KN làm việc với các đối tượng khác nhau
12
Nhà nghiên cứu,
(Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha…) đều có các trường đại học nông nghiệp, có khoa
khuyến nông và thực hiện công tác khuyến nông rất thành công. Ở các nước này dịch vụ
khuyến nông thường bắt đầu từ các hội nông dân, nhóm SXNN. Ở Châu Âu và Bắc Mỹ,
nông dân địa phương hoặc các nhóm SXNN tham gia rất tích cực vào các chương trình
khuyến nông, kể cả việc thuê mướn những nhân viên khuyến nông, những kỹ sư nông
13
nghiệp giúp họ phát triển sản xuất. Ngày nay mặc dù các nước này tỷ trọng nông nghiệp
trong cơ cấu nền kinh tế còn rất nhỏ nhưng vẫn còn cơ quan khuyến nông, vẫn còn CBKN.
Ở Châu Á, ngay sau khi có hội nghị đầu tiên về khuyến nông họp tại Philippin
(năm 1955), hoạt động khuyến nông đã có bước phát triển mạnh mẽ. Tổ chức khuyến nông
các nước lần lượt được thành lập như ở Inđônêxia (1955), Ấn Độ (1960), Thái Lan (1967),
Trung Quốc (1970).
a. Khuyến nông ở Inđônêxia:
Hệ thống khuyến nông nhà nước được thành lập năm 1955 gồm 4 cấp:
cấp quốc gia có hội đồng khuyến nông quốc gia, cấp tỉnh có diễn đàn khuyến
nông cấp 1, huyện có diễn đàn khuyến nông cấp 2, cấp xã và liên xã có cơ
quan khuyến nông cơ sở. Tại đó có bộ phận dịch vụ khuyến nông và trung
tâm thông tin phục vụ cho nhu cầu của nông dân. Ngày nay Inđonêxia thường
xuyên được chọn là nơi tổ chức đào tạo CBKN cho các nước trong khu vực.
b. Khuyến nông ở Ấn Độ:
Tổ chức khuyến nông được thành lập từ năm 1960 theo 5 cấp: cấp quốc gia, cấp
vùng, cấp bang, cấp huyện và cấp xã. Nhờ có hoạt động khuyến nông được tổ chức tương
đối tốt nên Ấn Độ đã làm cuộc “Cách mạng xanh” khá thành công, về căn bản đã giải
quyết được nạn đói, tự túc được lương thực. Sau đó nước này đã thắng lợi trong cuộc
“Cách mạng trắng” về sữa và đang tiếp tục tiến hành cuộc “Cách mạng nâu” về thịt.
c. Khuyến nông ở Thái Lan:
Tuy mãi đến năm 1967 mới có quyết định thành lập tổ chức khuyến nông song
được Chính phủ Thái Lan đặc biệt quan tâm. Số CBKN của Thái Lan vào năm 1992 là
khoảng 15.196 người. Mỗi năm Chính phủ Thái Lan chi khoảng 130 - 150 triệu USD cho
hoạt động khuyến nông. Vì vậy nông nghiệp Thái Lan phát triển một cách toàn diện cả về
xuất đầu xuân. Năm 1226, dưới thời Trần lập chức quan “Khuyến nông sứ” là viên quan
chuyên chăm lo khuyến khích phát triển nông nghiệp. Năm 1789, vua Quang Trung ban bố
chiếu khuyến nông sau khi đại phá quân Thanh nhằm phục hồi lại ruộng bị bỏ hoang.
Chiếu khuyến nông đã thu được nhiều kết quả to lớn. Chỉ sau 3 năm hầu hết ruộng hoang
đã được khôi phục, sản xuất phát triển, bổ sung chế độ cấp công điền.
Năm 1960 ở miền Nam (dưới thời Mỹ ngụy) thành lập “Nha khuyến nông” trực
thuộc Bộ nông nghiệp cải cách điền địa nông mục. Trong khi đó ở miền Bắc, Bộ nông
nghiệp thường xuyên đưa sinh viên xuống giúp các HTX làm công tác Đông xuân, chọn
giống lúa, trồng ngô - khoai, làm bèo dâu, tiêm phòng cho gia súc - gia cầm…
Từ năm 1964, Bộ nông nghiệp chính thức có chủ trương thành lập các đoàn chỉ
đạo, đưa sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở (các HTX, nông lâm trường) xây dựng các
15
mô hình và mở các lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt của địa phương về công tác sản xuất,
công tác thuỷ lợi.
Năm 1981, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100 chính thức thực hiện chủ
trương “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động”. Đến tháng 12/1986 Đại
hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã nhìn thẳng vào sự thật với tinh thần “đổi mới”, rút
ra bài học hành động phù hợp với quy luật khách quan để thực hiện chủ trương đổi mới cơ
chế quản lý, đưa nông nghiệp đi lên sản xuất hàng hoá.
Ngày 05/04/1988 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 về “đổi mới quản lý trong nông
nghiệp”. Từ đó, nhờ việc nắm vững và thực hiện Nghị quyết 10 (Khoán 10) đã đem lại
những tác dụng tích cực cho sản xuất. Lực lượng lao động không ngừng tăng lên, KHCN
được tạo điều kiện đi vào sản xuất, TBKT được chuyển giao rộng rãi, công tác khuyến
nông đi vào nề nếp. Khoán 10 đã đem lại hiệu quả nhanh chóng, tạo ra một bước ngoặt
mới trên mặt trận nông nghiệp. Hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, tự quyết định
kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Vì vậy mà những đòi hỏi của hàng triệu hộ nông
dân trong cả nước về hướng dẫn kỹ thuật, về quản lý, về giống cây trồng - vật nuôi, về
chính sách khuyến khích sản xuất, về thị trường… tăng lên gấp bội. Tổ chức và phương
thức hoạt động của ngành nông nghiệp không đủ, không thoả mãn được yêu cầu nói trên,
cần có sự thay đổi và bổ sung.
- Chương trình phát triển lúa lai thương phẩm: Song song với việc phát triển sản
xuất hạt giống lúa lai F1 là các chương trình phát triển lúa lai thương phẩm. Đến nay đã
phát triển ở hầu hết các tỉnh, thành phố phía Bắc và Tây Nguyên. Năng suất bình quân đạt
65 tạ/ha, cá biệt có những nơi đạt 100 tạ/ha. Từ năm 1993 đến nay chương trình khuyến
nông đã hỗ trợ kinh phí 16,9 tỉ đồng, xây dựng được 7.300 ha trình diễn ở những vùng khó
khăn lương thực. Trong những năm gần đây diện tích lúa lai thương phẩm đạt 620-650
ngàn ha, năng suất tăng so với lúa thuần từ 10-15 tạ/ha, góp phần nâng cao năng suất, sản
lượng lúa, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, thúc đẩy cho việc chuyển đổi mùa vụ và
cơ cấu cây trồng.
- Chương trình khuyến nông phát triển lúa chất lượng: Chương trình bắt đầu triển
khai từ năm 1997, tập trung ở 2 vựa lúa chính là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông
Cửu Long, nay đã được mở rộng ở tất cả các vùng, các tỉnh có trồng lúa, đảm bảo nhu cầu
tiêu dùng ngày càng cao phục vụ trong nước và xuất khẩu. Đưa Việt Nam trở thành nước
có sản lượng gạo xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới (năm 2008 xuất khẩu 4,5 triệu tấn
gạo)
- Chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ: Chương trình đã hỗ trợ bà con
nông dân chuyển đổi một phần diện tích lúa hiệu quả kinh tế thấp sang trồng cây khác như
17