phân tích thực trạng hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện yên mô - Pdf 24

Danh sách nhóm 13 Mã sinh viên Lớp
Trịnh Thị Thương 541839 KTNNA-K54
Lê Thị Trang 541843 KTNNA-K54
Phạm Thị Thường 541840 KTNNA-K54
A. MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của đất nước,
nông nghiệp nước ta cũng có sự chuyển biến về số lượng và chất lượng, kể từ khi
có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 05/04/1988 nông nghiệp Việt Nam có
bước tăng trưởng khá, người nông dân có quyền tự chủ trong sản xuất kinh
doanh. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,5%/năm. Một số mặt hàng nông sản
đã khẳng định được vị trí trên thị trường thế giới như hồ tiêu (đứng thứ nhất),
gạo (đứng thứ hai), cà phê (đứng thứ 3). Kim ngạch xuất khẩu nông sản, thủy sản
chiếm khoảng 27% kim ngạch xuất khẩu cả nước năm 2006.
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong bối cảnh của việc chuyển đổi cơ
chế quản lý và kinh tế thị trường, thực tế còn cho thấy người nông dân còn thiếu
những thông tin cần thiết để xử lý trong sản xuất của họ, họ cũng cần được đào tạo,
nâng cao kiến thức và kỹ năng phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo. Vì vậy ngày
02/03/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông và
tổ chức hệ thống khuyến nông ra đời.
Nước ta với 70% dân số sống chủ yếu sống bằng nông nghiệp. Nông nghiệp
vẫn là ngành chính giữ vai trò chủ đạo, chính vì vậy hoạt động khuyến nông ở nước
ta không thể thiếu, công tác khuyến nông có thể coi là chìa khóa vàng của nông dân
khiến cho năng suất lao động tăng, nâng cao hiệu quả kinh tế, phát triển nông thôn.
Theo ông Đ.H.Maunder định nghĩa: “Khuyến nông như một dịch vụ hay hệ
thống giúp đỡ nông dân thông qua giáo dục, nhằm nâng cao các phương pháp kỹ
thuật canh tác, trồng trọt, chăn nuôi nhằm tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập, để cải
thiện mức sống của nông dân”. Hoạt động khuyến nông ngày càng được xã hội hóa
với nhiều thành phần tham gia. Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật thông qua các
chương trình, dự án đã được chuyển giao cho nông dân đạt kết quả cao góp phần
xóa đói giảm nghèo, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động khuyến nông trên địa
bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối với đề tài này thì đối tượng nghiên cứu là các nhóm chính sách khuyến
nông và các hoạt động của các chính sách đó.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: đề tài này được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Yên
Mô – Ninh Bình.
- Thời gian : tập trung nghiên cứu trong giai đoạn 2009 – 2011.
III. phương pháp nghiên cứu.
1. Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp.
Các số liệu thứ cấp thu thập ở các báo cáo, các công trình nghiên cứu
đã công bố của cá nhân, tổ chức liên quan.
Tìm hiểu tác động của chính sách khuyến nông đã và đang triển khai
qua các trang web, sách báo để thấy được tác động của chính sách.
- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Tiến hành trao đổi thảo luận thu thấp ý kiến của các thầy cô, bạn bè và
những người có hiểu biết về vấn đề đang nghiên cứu.
2. Phương pháp phân tích và xử lý thông tin
Sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh để thấy
những tác động của các chính sách trong phạm vi nghiên cứu.
B. Nội Dung.
I. Một số cơ sở lí luận về chính sách khuyến nông
1. Một số khái niệm liên quan
a. Khái niệm chính sách
- Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể hay tổ chức nhất
định khẳng định và tổ chức thực hiện nhằm giả quyết những vấn đề lặp đi lặp lại.
- Chính sách giúp nhà nước quản lý xác định những chỉ dẫn chung cho quá
trình ra quyết định. Giúp họ thấy được phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết

thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức,
kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh
đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường.
Góp phần thúc đẩy cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển
hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu
cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia,
ổn định kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường.
Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia
khuyến nông.
- Nguyên tắc hoạt động khuyến nông
+ Xuất phát từ nhu cầu của nông dân yêu cầu phát triển nông nghiệp của Nhà nước.
+ Phát huy vai trò chủ động, tích cực và tham gia tự nguyện của nông dân trong
hoạt động khuyến nông.
+ Liên kết chặt chẽ với cơ quan quản lý, sở nghiên cứu khoa học công nghệ, các
doanh nghiệp với nông dân và giữa nông dân với nông dân.
+ Xã hội hoá hoạt động khuyến nông, đa dạng hoá dịch vụ khuyến nông để huy
động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và nước ngoài tham gia hoạt động
khuyến nông.
+ Dân chủ, công khai, chịu sự giám sát của cộng đồng.
+ Nội dung, phương pháp khuyến nông phù hợp với từng vùng, miền, địa bàn và
nhóm đối tượng nông dân, cộng đồng dân tộc khác nhau.
(Nguồn: Trích Nghị định 02/2010/NĐ-CĐ ngày 8/1/2010 của Chính phủ về khuyến
nông. , truy cập ngày 11/2/2012).
Ngày 02 tháng 3 năm 1993, Chính phủ ban hành Nghị định 13/NĐ-CP về
công tác khuyến nông (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp). Hệ thống khuyến nông-
khuyến ngư Việt nam chính thức hình thành. Ở Bộ Nông nghiệp & PTNT, Cục
Khuyến nông-Khuyến lâm vừa làm nhiệm vụ quản lý nhà nước vừa làm nhiệm vụ
khuyến nông về lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi. Ở Bộ Thuỷ sản, hoạt động khuyến
ngư được giao cho Vụ Quản lý Nghề cá. Việc một đơn vị đồng thời làm nhiệm vụ

định chi tiết về chính sách cho vay ưu đãi lãi suất theo Chương trình hỗ trợ các
huyện nghèo tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ.
Ngày 15 tháng 11 năm 2010, Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng Bộ Tài chính đã ban
hành thông tư liên tịch số 183/2010/TTLT-BTC-BNN Hướng dẫn chế độ quản lý,
sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cấp đối với hoạt động khuyến nông
Ngày 15/12/2011, Bộ Tài chính ban hành công văn số 17068/BTC-QLTS gửi các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan khác ở Trung ương, UBND các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương hướng dẫn bổ sung việc mua sắm tài sản thực hiện Nghị quyết số
11/NQ-CP
Ngày 25/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 962/QĐ-TTg thành lập
Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009
phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020
Ngày 27 tháng 11 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020”.
Đặc biêt là: Ngày 08/01/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-
CP về khuyến nông.
III.Tìm hiểu chính sách khuyến nông
3.1 Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách
Sở nông nghiệp, phòng nông nghiệp phối hợp với đài phát thanh truyền
thanh, báo Ninh Bình, đài phát thanh các huyện, xã, phường, thị trấn…thường
xuyên tuyên truyền về quan điểm, mục tiêu, đối tượng chính sách quyền lợi của
người dân để tuyên truyền về chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về lĩnh
vực khuyến nông,bản tin sẽ được phát xuống tận các xã,thôn nhằm đến được với
mỗi người nông dân.
3.2. công tác lập kế hoạch triển khai thực hiện
Kế hoạch khuyến nông cần được xây dựng với sự tham gia của nông dân, tư
vấn của cán bộ khuyến nông huyện và tỉnh. Việc xây dựng và phê duyệt kế hoạch
khuyến nông phải được kết thúc trước năm dương lịch, giảm dần sự cho không của
nông nghiệp và tăng cao vai trò của nông dân ( Đỗ Kim Chung, 2005).

18 18 18
Các xã
KT gieo vãi lúa 5 6 6 Một số xã
KT trồng đậu tương vụ đông
trên đất 2 lúa
7 - 4
Một số xã
KT trồng lạc bằng phương
pháp che phủ nilon
- 8 4
Một số xã
KT trồng nấm - 4 - Yên Mỹ, Yên Thái
KT bón phân NPK khép kín
cho lúa và rau màu vụ đông
- - 13
Các xã
KT chăn nuôi & phòng bệnh
bò+lợn+gà
8 10 12
Xã có nhu cầu
KT nuôi cá rô phi
8 8 9
Xã có mặt nước thủy
sản
Phương pháp lập dự án chăn
nuôi gia súc
1 1 -
Xã có nhu cẩu
2.Cơ sở tổ chức 9 10 14 Một số xã
(Nguồn: Trạm khuyến nông huyện Yên Mô)

- Phối hợp với đài phát thanh huyện mở chuyên mục khuyến nông 1-2 lần/tuần.
- Viết 20-30 tin cho báo Ninh Bình, tạp chí nông nghiệp nông thôn tỉnh giới
thiệu kết quả sản xuất, mô hình trình diễn…
e. Kế hoạch phân bổ kinh phí của trạm cho hoạt động khuyến nông
Bảng 4.5 Kế hoạch phân bổ kinh phí của trạm cho các hoạt động khuyến nông
(2009-2011)
Trạm khuyến nông dự kiến chi vào các nội dung sau:
ĐVT: Triệu đồng
Nội dung 2009 2010 2011
Tập huấn kỹ thuật + in sao tài liệu 67 84 99
Xây dựng mô hình trình diễn 89,5 110 139,22
Tham quan+tổng kết 23 28 33
Thông tin tuyên truyền 9 10 12,6
Tổng 188,5 232 283,82
(Nguồn: Trạm khuyến nông huyện Yên Mô)
3.3 Phân cấp cấu trúc triển khai thực hiện
2.1
Yếu tố thuộc về nhà nước:
Nhà nước tác động tới hoạt động khuyến nông bằng việc ban hành các chính sách hỗ
trợ về kinh tế, tài chính, khoa học, nhân sự đối với chủ thể tham gia cung cấp. Chính
sách tổ chức hệ thống khuyến nông, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ… cần được hoàn
thiện trong thời gian tới.
2.2 Yếu tố về nhân lực

Đội ngũ cán bộ khuyến nông của trạm: Đội ngũ Cán Bộ Khuyến Nông là nhân
tố quan trọng nhất quyết định tới chất lượng dịch vụ khuyến nông. Cán bộ trạm
thường là nhân viên kỹ thuật ngành trồng trọt, chăn nuôi, cần có chuyên môn
nghiệp vụ về phát triển nông thôn trong quá trình triển khai công việc mang tính
tổng hợp
 Đội ngũ khuyến nông cơ sở: Nâng cao trình độ nhân lực ở khuyến nông cơ sở

cao hiệu quả khuyến nông.
Thực tế cho thấy, CBKN cơ sở vẫn chưa nhiệt tình, năng động tham gia vào
các hoạt động khuyến nông. Mặt khác mỗi tháng CBKN cơ sở nhận được mức phụ
cấp còn thấp (300 nghìn/tháng), kinh phí dành cho hoạt động khuyến nông cơ sở
chưa nhiều, nên hiệu quả khuyến nông cơ sở vẫn còn kém.
3.5 Nội dung triển khai chính sách
Thực hiện Nghi định số 02/2010/NĐ-CP của chính phủ về khuyến nông đã ban
hành ngày 08/01/2010. Sau đó ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quyết định để tổ
chức thực hiện gồm: ban chỉ đạo đề án,phê duyệt đề án,ban hành các chỉ thị, công
văn Đồng thời các ủy ban tỉnh,các sở,ban, ngành của cả tỉnh đã ban hành nhiều
văn bản để chỉ đạo, tuyên truyền hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện đề
án một cách có hiệu quả.
Ủy ban nhân dân tỉnh, ủy ban nhân dân huyện đã tổ chức triển khai kế hoạch
điều tra khảo sát nhu cầu,mong muốn của người dân trong công tác khuyến nông,từ
đó đưa ra các phương pháp khuyến nông phù hợp, hiệu quả nhất.
Vận dụng tối đa các kênh thông tin nhằm tuyên truyền, phổ biến đến với từng người
dân về chủ trương, mục tiêu, đối tượng của chính sách và những lợi ích của chính
sách mà người dân có thể được hưởng.
IV. kết quả thực hiện chính sách
1. Đào tạo, tập huấn
Bảng 4.8 Hoạt động tập huấn kỹ thuật của trạm khuyến nông qua 3 năm (2009-
2011)
Chỉ tiêu ĐVT
Năm So sánh (%)
200
9
201
0
201
1

112,
5
113,3
9
+ Kỹ thuật trồng nấm rơm
Lớp - 4 - - - -
+ Kỹ thuật chăn nuôi gia súc gia
cầm
Lớp 11 14 16
127,
27
114,
28
120,7
7
+ Kỹ thuật nuôi cá rô phi đơn tính
Lớp 8 8 9
100,
00
112,
5
106,2
5
2. Phân theo đối tượng tổ chức
+ Trạm tổ chức
Lớp 65 73 84
112,
31
115,
07

101,
92
102,9
6
IV. Tổng kinh phí Triệu
đồng
66,7
1
82,5
98,9
4
123,
67
119,
93
121,8
V. Kinh phí/lớp/lĩnh vực Triệu
đồng
+ Trồng trọt Triệu
đồng
0,9 1 1
111,
11
100,
00
105,5
5
+ Chăn nuôi Triệu
đồng
0,91 0,95 0,99

Trong tổng số các lớp tập huấn thì trồng trọt vẫn chiếm tỷ lệ lớn, rồi đến chăn
nuôi và thủy sản. Năm 2009 tổng số lớp trồng trọt là 55 lớp, năm 2010 là 62 lớp, năm
2011 là 75 lớp, bình quân 3 năm tăng 16,84%. Trong đó các lớp tập huấn về kỹ thuật
gieo trồng lúa chiếm số lượng lớn, bình quân 3 năm tăng 5,08%, tiếp đến là kỹ thuật
gieo trồng chăm sóc đậu tương, lạc và rau màu, bình quân 3 năm tăng 13,39%. Về
chăn nuôi, năm 2009 tổng số lớp chăn nuôi gia súc, gia cầm là 11, năm 2010 là 14,
năm 2011 là 16, bình quân 3 năm tăng 20,77%, các lớp tập huấn về chăn nuôi bao
gồm chăn nuôi gà an toàn sinh học, nuôi gà đặc sản… Về thủy sản, năm 2009 tổng số
lớp là 8 lớp, năm 2010 là 8 lớp, năm 2011 là 9 lớp, bình quân 3 năm tăng 6,25%.
Trạm khuyến nông tổ chức khá nhiều lớp tập huấn trồng trọt bởi vì cán bộ của
trạm chủ yếu là kỹ thuật viên trồng trọt, họ có chuyên môn, nghiệp vụ có thể đảm
nhiệm tốt công việc ngành trồng trọt, còn các ngành khác thiếu nhân lực, nên hiệu
quả tập huấn sẽ không cao. Mặt khác Yên Mô vẫn là một huyện thuần nông, trồng
trọt là ngành chủ yếu của huyện, vì vậy nhu cầu tập huấn về trồng trọt cao hơn so với
các ngành khác.
Qua bảng 4.8 ta thấy ngoài CBKN của trạm tổ chức các buổi tập huấn, còn có
khuyến nông cơ sở tổ chức các lớp tập huấn nhằm đáp ứng nhu cầu nông dân. Năm
2009 số lớp tập huấn do CBKN cơ sở tổ chức là 9 lớp, năm 2010 là 11 lớp, năm 2011
là 15 lớp, bình quân 3 năm tăng 29,29%. Hầu hết các lớp tập huấn do khuyến nông cơ
sở tổ chức đều xuất phát từ nhu cầu của nông dân, và nguồn kinh phí tổ chức là do
UBND xã cấp với kinh phí vẫn còn hạn chế nên số lượng lớp thấp. Khuyến nông cơ
sở sẽ phối hợp với CBKN trạm, các cơ ban, đoàn thể có liên quan để tổ chức tập
huấn. Ngoài ra họ còn phối kết hợp với trạm thú y, trạm BVTV, hay các công ty
giống, cây trồng về phổ biến kỹ thuật, cách phòng trừ sâu bệnh, dịch hại
Giảng viên cho các buổi tập huấn kỹ thuật cho bà con nông dân chủ yếu là
CBKN ở trạm và CBKN viên chuyên trách. Hàng năm ở các xã, nông dân vẫn được
dự các lớp tập huấn do CBKN ở trạm khuyến nông huyện về giảng dạy, CBKN
chuyên trách ở xã chỉ phụ giúp hoặc theo dõi để học hỏi kinh nghiệm. Về phương
pháp tập huấn, cán bộ trạm chủ yếu sử dụng cách thuyết trình, không thu hút sự chú ý
của nông dân, họ không có điều kiện trao đổi kinh nghiệm với với cán bộ và với

1.Số lớp tập huấn
Lớp 74 74 83 84 98 99
Trồng trọt
Lớp 54 55 60 62 69 74
Chăn nuôi
Lớp 10 11 13 14 16 16
Thủy sản
Lớp 10 8 10 8 13 9
2.Số lượt người tham
gia
Người 3650 3700 4300 4321 5000 5100
(Nguồn: Trạm khuyến nông huyện Yên Mô)
Nhận xét chung: qua 3 năm, trạm khuyến nông Yên Mô đã tổ chức khá thành
công các lớp tập huấn đáp ứng nhu cầu của nông dân. Công tác tập huấn cần được
trạm chú trọng hơn nữa, đổi mới phương pháp tập tập huấn thu hút sự quan tâm của
nông dân, nâng cao cả về số lượng và chất lượng các lớp tập huấn.
2. Thông tin, tuyên truyền
Thông tin tuyên truyền là một nội dung khá quan trọng trong công tác
khuyến nông. Các thông tin khuyến nông thông qua báo đài, ti vi, được bà con nông
dân dễ dàng tiếp cận. Bảng 4.9 thể hiện kết quả thông tin tuyên truyền qua 3 năm.
Bảng 4.10 Kết quả hoạt động thông tin tuyên truyền
Chỉ tiêu ĐVT
Năm So sánh
200
9
201
0
201
1
10/09 11/10 BQ

Tổng kinh phí Triệu
đồng
9,3 10,5 12,7
112,9
0
120,95
116,9
2
(Nguồn: Trạm khuyến nông huyện Yên Mô)
Qua điều tra cho thấy trạm khuyến nông Yên Mô luôn coi trọng hoạt động
thông tin tuyên truyền. Kết quả thể hiện qua bảng cho thấy hoạt động thông tin
tuyên truyền rất phong phú và đa dạng bao gồm các hoạt động phát thanh, phát
hành tài liệu kỹ thuật, tờ rơi, tờ bướm, viết tin,… Với số lượng tăng dần qua các
năm. Trong đó, số lượng tài liệu kỹ thuật về khuyến nông có tốc độ tăng nhanh nhất
(Bình quân 3 năm tăng 111,9%). Phát hành tài liệu bao gồm tập san, sách báo
chuyên đề và sách kỹ thuật… Đối với tài liệu là tập san khuyến nông, sách báo
chuyên đề đo đây là những loại tài liệu cấp phát theo tháng nên Trạm chỉ phát cho
các xã lưu lại văn phòng, mỗi xã 1 cuốn/tháng. Với tài liệu là sách kỹ thuật thường
được CBKN phát cho KNCS, sau đó KNCS phát cho chủ nhiệm HTX, các cán bộ
của thôn xóm, một số ít là nông dân. Đài phát thanh huyện đưa tin về hoạt động
khuyến nông có số lần phát còn ít, mới chỉ 1-2 lần/tuần, thường là các thông tin về
tình hình sâu bệnh, cách phòng trừ, dịch hại hay các giống lúa mới, kỹ thuật tiên
tiến. Do đặc điểm của công tác truyền thanh là dễ quên nên số lượng phát như vậy
chưa đáp ứng được nhu cầu theo dõi của bà con nông dân. Ngoài ra trạm còn viết
tin cho báo Ninh Bình, tạp chí nông thôn về các mô hình sản xuất tiên tiến, gương
sản xuất giỏi. Bên cạnh đó mỗi xã bình quân có từ 5-7 loa phát thanh thông báo về
những vấn đề cần thiết. Theo kết quả điều tra thì thông tin tuyển truyền chủ yếu là
KTTB, các giống lúa, cây trồng, vật nuôi mà chưa có các thông tin về thị trường
tiêu thụ sản phẩm, nên chưa đáp ứng nhu cầu của người dân hiện nay.
Hiện nay kinh phí dành cho hoạt động thông tin tuyên truyền chỉ chiếm gần 4%

quan, CBKN phải lựa chọn mô hình và địa điểm tham quan phù hợp: thường là các
mô hình có kỹ thuật phù hợp với nông dân (mô hình gieo vãi, trồng đậu tương… ),
và địa điểm tham quan là trên địa bàn huyện. Sau đó liên hệ với chủ mô hình để đưa
nông dân đi tham quan. Qua tìm hiểu, thành phần tham gia các cuộc tham quan chủ
yếu là cán bộ khuyến nông cơ sở, nông dân sản xuất giỏi, cán bộ chính quyền địa
phương, chủ nhiệm hợp tác xã. Số lượng nông dân đơn thuần là ít, trong khi đó họ
chính là người có nhu cầu tham gia các cuộc tham quan, từ đó quyết đinh có làm
theo kỹ thuật của mô hình không. CBKN là người điều khiển cuộc tham quan, ghi
chép các câu hỏi do nông dân đặt ra, nhưng người nông dân rất ít khi thảo luận, đưa
ra các câu hỏi, ý kiến của mình, tâm lý rụt rè, ngại phát biểu, chỉ có một số ít nông
dân mạnh dạn đưa ra ý kiến. Người chủ mô hình giới thiệu cho những người đi
tham quan biết về quy trình làm mô hình, trao đổi với các nông dân. Qua chuyến đi
tham quan, nông dân sẽ nắm rõ hơn về kỹ thuật, cách làm mô hình từ đó có thể áp
dụng vào đồng ruộng của hộ.
Để nâng cao chất lượng các cuộc tham quan, trạm cần huy động sự tham gia
của nông dân, hạn chế thành phần là cán bộ địa phương, khuyến nông cơ sở để đảm
bảo chất lượng tham quan. Đồng thời nơi được chọn đến tham quan phải có những
điều kiện canh tác tương tự với địa phương của người đi tham quan.
Bảng 4.11 Hoạt động tham quan của trạm khuyến nông qua 3 năm (2009-2011)
(Nguồn: Trạm
khuyến nông
huyện)
Chỉ tiêu ĐVT 2009 2010 2011 Tổng
So sánh
10/09 11/10 BQ
1. Số buổi
tham quan
Cuộc
15 17 20 52 113,33 117,64 115,48
+ Trồng

Triệu đồng
1,5 1,53 1,62
-
102,00 105,88 103,94
+ Chăn
nuôi
Triệu đồng
1,49 1,52 1,62
-
102,01 106,58 104,29
+ Thủy sản Triệu đồng
1,51 1,53 1,62
-
101,3 105,88 103,59
V. Đánh giá tồn tại của chính sách
Mặc dù khuyến nông đã đạt được thành tựu đáng kể nhưng hiện nay, từ
cơ chế chính sách đến các hoạt động của khuyến nông vẫn chưa thể hiện đúng
thực chất, điều này dẫn đến một số hạn chế:
- Nguồn nhân lực còn thiếu và hạn chế về năng lực: Theo kết quả điều
tra tại các tỉnh miền núi phía Bắc, tỷ lệ cán bộ khuyến nông trên đầu người ở
khu vực này rất thấp, bình quân 37.201 người mới có 1 cán bộ khuyến nông.
Điều này là một bất hợp lý đối với một đất nước mà nông nghiệp là thế mạnh.
Không những thiếu về nhân lực, đặc biệt là cấp cơ sở, đội ngũ khuyến nông
còn nhiều hạn chế về trình độ, số cán bộ khuyến nông có trình độ đại học trở
lên chỉ chiếm 31,9%. Mặt khác, cán bộ khuyến nông chủ yếu tập trung trong
lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, còn các lĩnh vực như lâm nghiệp, thuỷ lợi,
khuyến công, khuyến diêm đều rất ít hoặc chưa có. Tỷ lệ cán bộ khuyến nông
được đào tạo về nghiệp vụ khuyến nông còn thấp (khoảng 15%) nên khả năng
truyền đạt kiến thức cho bà con còn hạn chế. (Nguồn: Nguyễn Lê - Đổi mới
công tác khuyến nông: Vẫn còn một số bất cập, ngày 16/11/2009

đường lối, chính sách phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp của Đảng và
Nhà nước, vì vậy đã tạo nên sự tăng trưởng mạnh mẽ về năng suất, chất lượng
sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực,
đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và sự nghiệp phát
triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì vẫn còn một số bất cập trong việc
thực hiện công tác khuyến nông nông thôn.
Do đó nhóm đề xuất một số ý kiến để góp phần hoàn thiện chính sác:
 Cần hoàn chỉnh hệ thống chính sách khuyến nông như chính sách đối
với Cán Bộ Khuyến Nông, chính sách tài chính để trạm khuyến nông
chuyển giao công nghệ vào sản xuất, góp phần nâng cao đời sống nông
dân.
 Nhà nước kêu gọi đầu tư cho các chương trình, dự án khuyến
nông-khuyến ngư theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, góp phần từng
bước nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
 Đưa ra các chính sách hoàn thiện công tác tập huấn kỹ thuật đáp ứng
nhu cầu, mong muốn của nông dân để buổi tập huấn, hiểu biết của
người dân được nâng cao.
 Sử dụng các phương tiện truyền thông để truyền đạt thông tin khuyến
nông như: phương tiện nghe (đài phát thanh, đài truyền thanh ),
phương tiện đọc (sách, báo, tạp chí, tờ rơi…), khuyến nông qua
phương tiện nhìn (áp phích, tranh cổ động, mô hình…), khuyến nông
qua phương tiện nghe - nhìn (các ấn phẩm video, các loại đĩa VCD,
DVD…), khuyến nông qua trang web…
 Nông dân nên tham gia tích cực hơn vào hoạt động khuyến nông,
chủ động đề xuất, cùng theo dõi, giám sát, đánh giá các hoạt động
khuyến nông trên địa bàn huyện. Tự nguyện tham gia và cùng chia sẻ
rủi ro khi triển khai các mô hình trình diễn, đóng góp ý kiến cho trạm
hoàn thiện công tác khuyến nông.
VII. Tài liệu tham khảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status