ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN ĐÌNH SÁNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÁC HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ TRẤN NGHÈN HUYỆN CAN LỘC - TỈNH HÀ TĨNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Khuyến nông
Khoa : Kinh tế và PTNT
Khóa học : 2011 – 2015
Giảng viên hƣớng dẫn :Dƣơng Thị Thu Hoài
Thái Nguyên, năm 2015
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thực trạng nguồn nhân lực cán bộ khuyến nông huyện Can Lộc 20
Bảng 4.1: Một số yếu tố thời tiết khí hậu ở Thị trấn Nghèn từ năm 2012– 2014 27
Bảng 4.2: Tình hình sử dụng đất đai của Thị trấn Nghèn qua 3 năm 2012 - 2014 38
Bảng 4.3: Tình hình dân số và lao động của thị trấn Nghèn giai đoạn (2012 – 2014)
41
Bảng 4.4: Diện tích, năng suất, sản lượng của một số cây trồng qua 3 năm (2012 -
2014) 45
Bảng 4.5: Tình hình chăn nuôi của huyện qua 3 năm (2012 - 2014) 46
Bảng 4.6: Cơ cấu kinh tế của Thị trấn Nghèn qua 3 năm 2012 – 2014 48
Bảng 4.7. Thực trạng nguồn nhân lực cán bộ khuyến nông thị trấn Nghèn 54
Bảng 4.8. Những khó khăn cơ bản của CBKN thị trấn Nghèn 55
Bảng 4.9. Nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực của CBKN thị trấn Nghèn 56
Bảng 4.10. Các hoạt động khuyến nông ở thị trấn Nghèn ( 2012-2014) 57
Bảng 4.11. Kết quả mô hình trình diễn qua 3 năm (2012- 2014) 58
Bảng 4.12 Kết quả xây dựng MHTD trồng trọt giai đoạn (2012-2014) 59
Bảng 4.13. Kết quả mô hình trình diễn chăn nuôi giai đoạn (2012-2014) 61
Bảng 4.14. Kết quả xây dựng MHTD thủy sản giai đoạn (2012-2014) 62
Bảng 4.15. Số lượng các lớp tập huấn kỹ thuật Trạm tổ chức qua giai đoạn (2012 -
2014) 63
Bảng 4.16. Một số lớp tập huấn trên địa bàn thị trấn Nghèn 65
Bảng 4.17. Kết quả tham quan, hội thảo qua 3 năm (2012 - 2014) 66
Bảng 4.18. Thông tin chung về các hộ điều tra 68
Bảng 4.19. Sự tham gia của người dân vào các hoạt động xây dựng MHTD 69
Bảng 4.20: Sự tham gia của người dân vào hoạt động đào tạo, tập huấn 70
Bảng 4.21. Sự tham gia của người dân vào hoạt động thông tin tuyên truyền 72
Bảng 4.22. Đánh giá và kiến nghị của người nông dân về hoạt động khuyến nông 73
KN
Khuyến nông
PTNT
Phát triển nông thôn
KNV
Khuyến nông viên
CLBKN
Câu lạc bộ khuyến nông
MHTD
Mô hình trình diễn
TTLL
Thông tin liên lạc
CBKN
Cán bộ khuyến nông
TW
Trung ương
QĐ
Quyết định
HTX
Hợp tác xã
KNKL
Khuyến nông khuyến lâm
NN
Nông nghiệp
LĐ
Lao động
NK
Nhân khẩu
SL
Số lượng
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 12
2.2.1. Vài nét về tổ chức hoạt động khuyến nông trên thế giới 12
2.2.2. Hoạt động khuyến nông ở Việt Nam 14
2.2.2.1. Sự hình thành và phát triển khuyến nông ở Việt Nam 14
2.2.3. Thực trạng công tác khuyến nông thị huyện Can Lộc. 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 22
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 22
3.2.1. Địa điểm 22
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 22
3.3. Nội dung nghiên cứu 22
vii
3.3.1. Khái quát về ĐKTN, kinh tế - xã hội của thị trân Nghèn 22
3.3.2. Thực trạng tổ chức khuyến nông thị Trấn Nghèn 22
3.3.3. Đánh giá công tác hoạt động KN trên địa bàn thị trấn Nghèn 22
3.3.4. Đánh giá chung về thực trạng hoạt động khuyến nông thị trấn Nghèn. 23
3.3.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm đóng góp cho sự phát triển của công tác KN
trên địa bàn thị trấn 23
3.4. Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu 23
3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin 23
4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của thị trấn Nghèn 26
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
4.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 49
4.2. Thực trạng công tác khuyến nông thị trấn Nghèn 51
4.2.1. Căn cứ thành lập khuyến nông thị trấn Nghèn 51
4.3.2. Cơ cấu của hệ thống khuyến nông thị trấn Nghèn 51
4.2.3. Chức năng, nhiệm vụ của trạm khuyến nông thị trấn Nghèn 52
4.2.4. Phương thức chuyển giao khoa học kỹ thuật của khuyến nông thị trấn Nghèn 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất sớm nhất trong lịch sử loài người.
Nó sản xuất ra lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu thiết thực của con người mà
không ngành nào có thể thay thế được.
Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp là chính, với cơ cấu của ngành
nông nghiệp chiếm 20,23%, khoảng 70% dân số sống ở nông thôn, 60% dân số làm
nghề nông. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp chiếm một vị trí rất quan trọng cần được
chú trọng quan tâm để phát triển kinh tế nước nhà.
Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất sớm nhất trong lịch sử loài người.
Nó sản xuất ra lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu thiết thực của con người mà
không ngành nào có thể thay thế được.
Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp là chính, với cơ cấu của ngành
nông nghiệp chiếm 20,23%, khoảng 70% dân số sống ở nông thôn, 60% dân số làm
nghề nông. Vì vậy, sản xuất nông nghiệp chiếm một vị trí rất quan trọng cần được
chú trọng quan tâm để phát triển kinh tế nước nhà.
Trước tình hình đó, được sự quan tâm kịp thời của Đảng và Nhà nước: Hệ thống
khuyến nông (KN) Nhà nước của Việt Nam chính thức được thành lập theo Nghị định
13/CP ngày 02/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ. KN là một quá trình, một hệ thống
các hoạt động nhằm truyền bá kiến thức và huấn luyện tay nghề cho nông dân, đưa đến
cho họ những hiểu biết để họ có khả năng tự giải quyết những vấn đề gặp phải nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống, nâng cao dân trí
trong cộng đồng nông thôn.
Qua 21 năm xây dựng và phát triển, KN đã và đang khẳng định vị thế quan
ra những tồn tại để khắc phục, đồng thời đưa ra những giải pháp hữu hiệu góp phần
củng cố công tác KN trong những năm tới. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá các hoạt động khuyến nông trên địa bàn thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh
Hà Tĩnh” 3
1.2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá được về hệ thống cơ cấu tổ chức, vai trò và
thực trạng hoạt động KN ở thị trấn Nghèn trong 3 năm (2012 - 2014). Từ đó, đề
xuất được một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ KN và đẩy mạnh công tác KN
đạt kết quả cao.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được cơ cấu tổ chức và thực trạng hoạt động KN ở thị trấn Nghèn
trong giai đoạn 2012 - 2014.
- Tìm ra được những mặt mạnh và những hạn chế tồn tại trong công tác KN
giai đoạn 2012 - 2014, cơ hội, thách thức trong giai đoạn mới.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm đóng góp cho sự phát triển của công
tác KN trên địa thị trấn.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp sinh viên có cơ hội tiếp xúc với thực tế, làm quen với thực tiễn sản
xuất, nâng cao kiến thức học tập được từ nhà trường, và rút ra những bài học kinh
nghiệm phục vụ công tác sau này.
- Đề tài cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên các khóa tiếp theo.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được các hoạt động KN, tìm ra nguyên nhân của điểm mạnh,
điểm yếu trong công tác KN tại thị trấn Nghèn huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh trong
giai đoạn 2012 – 2014. Từ đó xác định được phương hướng phát triển phù hợp cho
huyện trong những năm tới.
Theo nghĩa rộng: Khuyến nông là khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt
động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn. Khuyến nông ngoài việc
hướng dẫn cho nông dân tiến bộ kỹ thuật mới, còn phải giúp họ liên kết lại với nhau
chống lại thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết các chính sách, luật lệ nhà nước,
giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành tổ chức các hoạt động xã
hội như thế nào cho ngày càng tốt hơn[2].
Theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức
mà đối tượng của nó là người nông dân. Tiến trình này đem đến cho nông dân
5
những thông tin và những lời khuyên giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc khó
khăn trong cuộc sống. Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng
cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân
và gia đình họ[7].
2.1.2. Vai trò của khuyến nông
2.1.2.1. Vai trò trong sự nghiệp phát triển nông thôn
Trong điều kiện nước ta hiện nay, trên 80% dân số sống ở các vùng nông
thôn với 70% lao động xã hội để sản xuất ra những nông sản thiết yếu cung cấp cho
toàn bộ xã hội như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế
biến…Và sản xuất nông nghiệp chiếm 37 - 40% giá trị sản phẩm xã hội[7].
Mặc dù nông nghiệp và nông thôn có vai trò quan trọng trong quá trình xây
dựng và phát triển đất nước nhưng hiện nay ở nhiều vùng nông thôn, mức sống và
trình độ dân trí còn rất thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ sản xuất lạc hậu. Đây
là những thách thức rất lớn và khuyến nông được coi là một trong những con đường
góp phần giải quyết những thách thức đó. Hình 2.1. Vai trò của khuyến nông trong sự nghiệp phát triển nông thôn
Phát
triển
Khuyến nông đóng vai trò là cầu nối giữa nông dân với các Viện, các Trường
Đại học. Nhờ vậy các tiến bộ kỹ thuật nhanh chóng được triển khai, áp dụng trong
sản xuất và đời sống của người dân[7].
2.1.2.3. Vai trò đối với nhà nước
Khuyến nông là một trong những tổ chức giúp nhà nước thực hiện các chính
sách, chiến lược về phát triển nông lâm nghiệp, nông thôn và nông dân.
Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông nghiệp.
Trực tiếp góp phần cung cấp những thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của
nông dân đến các cơ quan nhà nước, trên cơ sở đó nhà nước hoạch định, cải tiến đề
ra được chính sách phù hợp[7].
2.1.3. Chức năng của khuyến nông
- Đào tạo, tập huấn nông dân: Tổ chức các khóa tập huấn, xây dựng mô hình,
tham quan, hội thảo đầu bờ cho nông dân.
- Thúc đẩy, tạo điều kiện cho nông dân đề xuất các ý tưởng, sáng kiến và
thực hiện thành công các ý tưởng sáng kiến của họ.
- Trao đổi truyền bá thông tin: Bao gồm việc xử lý, lựa chọn các thông tin
cần thiết, phù hợp từ các nguồn khác nhau để phổ biến cho nông dân giúp họ cùng
nhau chia sẻ và học tập.
- Giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn tại địa phương.
7
- Giám sát và đánh giá các hoạt động khuyến nông: Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra đánh giá và hưởng lợi.
- Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển kỹ thuật mới,
hoặc thử nghiệm kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên hiện trường, từ
đó làm cơ sở cho việc khuyến khích lan rộng.
- Hỗ trợ nông dân về kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, phát triển sản
xuất quy mô nông trại.
- Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả, thị trường tiêu
thụ sản phẩm[7].
sản xuất, vươn lên cải thiện đời sống và hoà nhập với cộng đồng[7].
2.1.5. Các phương pháp khuyến nông
Xét về phương pháp thì hoạt động khuyến nông gồm 3 loại sau: Phương pháp
cá nhân, phương pháp nhóm, và phương pháp thông tin đại chúng.
- Phương pháp cá nhân: Là phương pháp khuyến nông mà thông tin được
chuyển giao trực tiếp cho từng cá nhân hay hộ nông dân. Phương pháp này được
thực hiện bằng cách: Thăm và gặp gỡ, gửi thư hoặc điện thoại. Ưu điểm của phương
pháp này là dễ thực hiện, nhanh, kịp thời, đáp ứng thông tin theo yêu cầu. Nhược
điểm là diện hẹp, từng nông dân[7].
- Phương pháp nhóm: Là phương pháp khuyến nông mà thông tin được
truyền đạt cho một nhóm người có chung một mối quan tâm và nhằm mục đích giúp
nhau phát triển. Phương pháp này được thực hiện bằng cách: trình diễn, họp nhóm
và thăm quan. Ưu điểm của phương pháp này là tính phổ cập thông tin cao, tốn ít
nhân lực, khơi dậy sự tham gia của dân, cải tiến kỹ thuật do dân góp ý, phát hiện
vấn đề mới nhanh chóng. Nhược điểm của phương pháp này là kinh phí lớn, dân trí
thấp, điều kiện địa lý khó khăn[7].
- Phương pháp thông tin đại chúng: Là phương pháp được thực hiện bằng
phương tiện nghe (đài), phương tiện đọc (sách, báo, tạp chí), phương tiện nhìn
(tranh ảnh, mẫu vật), phương tiện nghe nhìn (phim video, phim nhựa, tivi). Ưu điểm
của phương pháp này là phạm vi tuyên truyền rộng, phục vụ được nhiều người, linh
9
hoạt ở mọi nơi, truyền thông tin nhanh và chi phí thấp. Nhược điểm của nó là không
có lời khuyên và sự giúp đỡ cụ thể cho từng cá nhân[7].
2.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động khuyến nồng
- Về điều kiện tự nhiên: khuyến nông hoạt động trong môi trường nông thôn.
Các điều kiện đất đai, khí hậu thủy văn quyết định cơ cấu cây trồng của một địa
phương có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả công việc. Cán bộ khuyến
nông cần nắm rõ từng chân đất của từng vùng thông qua đó mà khuyến cáo người
dân trồng cây gì, bón phân gi, bao nhiêu là phù hợp, nuôi con gì, loại giống nào
Theo Nghị định 02 của Chính Phủ về khuyến nông, khuyến ngư, nội dung
hoạt động khuyến nông, khuyến ngư gồm[13]:
Điều 4: Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo
1. Đối tượng
a) Người sản xuất theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị định này
chưa tham gia chương trình đào tạo dạy nghề do Nhà nước hỗ trợ
b) Người hoạt động khuyến nông theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 1
Nghị định này.
2. Nội dung
Bồi dưỡng, tập huấn cho người sản xuất về chính sách, pháp luật; tập huấn,
truyền nghề cho nông dân về kỹ năng sản xuất, tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh
trong các lĩnh vực khuyến nông theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này; tập
huấn cho người hoạt động khuyến nông nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
3. Hình thức
a) Thông qua mô hình trình diễn.
b) Tổ chức các lớp học ngắn hạn gắn lý thuyết với thực hành.
c) Thông qua các phương tiện truyền thông: Báo, đài, tờ rơi, tài liệu
(sách, đĩa CD - DVD).
d) Qua chương trình đào tạo từ xa trên kênh truyền thanh, truyền hình, xây
dựng kênh truyền hình dành riêng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; ưu tiên là
đào tạo nông dân trên truyền hình.
đ) Qua trang thông tin điện tử khuyến nông trên internet.
11
e) Tổ chức khảo sát, học tập trong và ngoài nước.
4. Tổ chức triển khai
a) Việc đào tạo nông dân và đào tạo người hoạt động khuyến nông do các tổ
chức khuyến nông quy định tại điểm b khoản 2 Điều 1 Nghị định này đảm trách.
b) Giảng viên nòng cốt là các chuyên gia, cán bộ khuyến nông có trình độ đại
học trở lên, các nông dân giỏi, các cá nhân điển hình tiên tiến, có nhiều kinh nghiệm
tư, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, huy động vốn, tuyển dụng và đào tạo lao động, lựa
chọn công nghệ, tìm kiếm thị trường.
d) Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng bảo hiểm sản xuất kinh doanh.
đ) Cung ứng vật tư nông nghiệp.
2. Tư vấn và dịch vụ khác liên quan đến phát triển nông nghiệp nông thôn.
Điều 8: Hợp tác quốc tế về khuyến nông
1. Tham gia thực hiện hoạt động khuyến nông trong các chương trình hợp tác
quốc tế.
2. Trao đổi kinh nghiệm khuyến nông với các tổ chức, cá nhân nước ngoài và
tổ chức quốc tế theo quy định của Pháp luật Việt Nam.
3. Nâng cao năng lực, trình độ ngoại ngữ cho người làm công tác khuyến
nông thông qua các chương trình hợp tác quốc tế và chương trình học tập khảo sát
trong và ngoài nước.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Vài nét về tổ chức hoạt động khuyến nông trên thế giới
Trên thế giới khuyến nông ra đời từ rất sớm và ở hầu khắp các nước. Hoạt
động khuyến nông gắn liền với sự phát triển của nông nghiệp. Các nước có nền
nông nghiệp phát triển (như Anh, Pháp, Mỹ) một phần cũng là nhờ tác động tích
cực của hoạt động khuyến nông. Vì vậy các nước nông nghiệp đang phát triển hiện
nay (Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan) cũng đang cố gắng xây dựng và hoàn thiện hệ
thống khuyến nông của nước mình.
Khởi đầu là giáo sư người Pháp Rabelais, từ năm 1530 ông đã cải tiến
phương pháp giảng dạy, đưa quan điểm giáo dục nông nghiệp “Học đi đôi với
hành” vào giảng dạy. Ngoài việc giảng dạy lý thuyết ở lớp ông đã cho học trò tiếp
13
xúc với sản xuất và tự nhiên. Ông đã chỉ cho họ biết cách phân biệt giống cây và
giống con, kỹ thuật nuôi cừu, bò, gà…
Đến năm 1777, giáo sư người Thụy Sĩ là Heirich Dastalozzi thấy rằng muốn
mở mang nhanh nền nông nghiệp giúp nông dân nghèo cải thiện được cuộc sống thì
* Khuyến nông ở Trung Quốc
Hoạt động khuyến nông ở Trung Quốc đã có từ lâu, năm 1933 trường đại học
Kim Lãng đã thành lập phân khu khuyến nông nhưng mãi đến năm 1970 nước này
mới chính thức có tổ chức khuyến nông. Trong Nghị quyết của đảng cộng sản
Trung Quốc khoá VIII về “Tăng cường công tác nông nghiệp và nông thôn” nêu rõ
“phải nắm vững chiến lược KHCN và khuyến nông”, đưa ngay sinh viên mới tốt
nghiệp xuống cơ sở, chú trọng đào tạo các nông dân giỏi trở thành khuyến nông
viên. Cho tới nay Trung Quốc đã có Uỷ ban quốc gia - cục phổ cập kỹ thuật nông
nghiệp, cấp tỉnh có cục khuyến nông, dưới tỉnh có khuyến nông phân khu, cấp cơ sở
là khuyến nông thôn xã.
Trên đây là hoạt động khuyến nông của một số quốc gia trên thế giới. Nó cho thấy
khuyến nông đang được các nước ngày càng chú trọng, quan tâm hơn để phục vụ
cho phát triển nông nghiệp - nông thôn và nâng cao đời sống người nông dân. Bằng
chứng là năm 1700 mới có 1 nước, năm 1800 có 8 nước, năm 1950 có 69 nước,
năm 1992 có 199 nước có tổ chức khuyến nông. Đến năm 1993 Việt Nam cũng
chính thức thành lập tổ chức khuyến nông[1].
2.2.2. Hoạt động khuyến nông ở Việt Nam
2.2.2.1. Sự hình thành và phát triển khuyến nông ở Việt Nam
Khuyến nông Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển
của nền sản xuất nông nghiệp. Các vua Hùng cách đây hơn 2000 năm đã trực tiếp dạy
dân cách làm nông nghiệp: gieo hạt, cấy lúa, mở các cuộc thi để các Hoàng tử, Công
chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn từ các nông sản tại chỗ. Công chúa Thiều
Hoa là người đầu tiên dạy dân chăn tằm dệt lụa[7].
Vua Lê Đại Hành (979 - 1008) là ông vua đầu tiên đích thân đi cày ruộng tịnh
điền ở Đọi Sơn, Bàn Hải thuộc vùng Duy Tiên, Nam Hà ngày nay[7].
15
Các vua Lý (1009 -1056) rất coi trọng nghề nông và đã ra nhiều chính sách
chăm lo phát triển nông nghiệp.
Triều vua Lê Thái Tông (1492). Triều đình đặt chức Hà Đê Sứ và Khuyến
Trước thực trạng suy thoái kinh tế những năm cuối thập kỷ 70 và đầu năm 80
nói chung và nông nghiệp nói riêng, ngày 13/01/1981 chỉ thị 100CT/TW của ban Bí
thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến
nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp” được ban hành (gọi tắt là khoán
100). Khoán 100 mặc dù chưa phải là mô hình mới về tổ chức và quản lý nông
nghiệp, mà mới chỉ là cải tiến hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm,
từ khoán đội sang khoán hộ. Đây cũng được coi là đột phá đầu tiên vào cơ chế quản
lý tập chung, quan liêu, sản xuất tập thể. Vì vậy, coi là “Chìa khóa vàng” để mở ra
thời kỳ mới của sản xuất nông nghiệp Việt Nam[7].
Tới tháng 12/1986, đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi
mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế. Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Trung ương
Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI (5/4/1988) về “đổi mới quản lý trong nông nghiệp”
nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã
viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn (gọi tắt là khoán 10) [3]. PGS.TS Chanock
Jacobsen đã khẳng định: “Trong một thế giới đang chuyển đổi mà sự khởi đầu của cá
thể và tư nhân chiếm vị trí cao trong sự phát triển nông nghiệp, khuyến nông đã trở nên
quan trọng hơn bao giờ hết”.
Ngày 02/3/1993 Chính phủ ra nghị định 13CP về công tác khuyến nông. Bắt
đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa phương. Năm 1993
Cục khuyến nông Khuyến lâm được thành lập: vừa quản lý nhà nước vừa làm công
tác khuyến nông. Năm 2001 Trung tâm Khuyến nông Trung ương ra đời (trực thuộc
cục khuyến nông). Tới năm 2003 Trung tâm khuyến nông Quốc gia được thành
lập[7].
Ngày 26/4/2005 Chính phủ đã ban hành nghị định 56/2005/CP thay thế cho
Nghị định 13CP. Trong nghị định này quy định rõ hơn về hệ thống tổ chức khuyến
nông. Bổ sung thêm nội dung tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về