Nghiên cứu giải pháp tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho các trang trại chăn nuôi trên địa bàn thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ THỊ MINH HẰNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP TIÊU THỤ SẢN PHẨM ĐẦU RA CHO
CÁC TRANG TRẠI CHĂN NUÔI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ TRẤN ĐU,
HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Lưu Thị Thùy Linh
.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa
HTX Hợp tác xã
TTCN Trang trại chăn nuôi
TTTT Trang trại trồng trọt
KHCN Khoa học công nghệ
TT Trang trại
KTTT Kinh tế trang trại
DN Doanh nghiệp
NTD Người tiêu dùng
SX Sản xuất
SXKD Sản xuất kinh doanh
SP Sản phẩm
NSX Nhà sản xuất
CNH-HĐH Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
ĐVT Đơn vị tính
BQ Bình quân
HQKT Hiệu quả kinh tế
LĐ Lao động
UBND Ủy ban nhân dân
GĐ Giai đoạn
QL Quốc lộ
TL Thành lập
Tr đ Triệu đồng
NHCS Ngân hàng Chính sách
NHNN&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TP Thương phẩm
CN Công nghiệp
BCN Bán công nghiệp

2.5.Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của địa bàn nghiên cứu 25
3.1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của địa bàn nghiên cứu 25
3.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu 26
3.2.Thực trạng hoạt động SXKD và tiêu thụ sản phẩm của
các TTCN gia súc, gia cầm trên địa bàn nghiên cứu 31
3.2.1. Tình hình sử dụng các nguồn lực của các TTCN trên địa bàn 31
3.2.2. Thực trạng SXKD của các TTCN gia súc, gia cầm trong
giai đoạn 2011-2013 38
3.2.3. Thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm của các TTCN năm 2013. 45
3.2.4. Hiệu quả sản xuất của các TTCN gia súc, gia cầm trên địa bàn 58
3.2.5. Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố bên trong TTCN đến
hoạt động tiêu thụ sản phẩm 60
3.2.6. Phân tích SWOT về hoạt động tiêu thụ sản phẩm với các loại hình
sản xuất KTTT trên địa bàn thị trấn Đu 65
CHƯƠNG 4. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG
TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÁC TRANG TRẠI CHĂN NUÔI
GIA SÚC, GIA CẦM TRÊN ĐỊA BÀN THỊ TRẤN ĐU 72
4.1.Giải pháp liên quan đến sản phẩm 72
4.2.Giải pháp liên quan đến duy trì và mở rộng thị trường 74
4.3.Giải pháp liên quan đến kỹ thuật, ứng dụng KH-CN tiên tiến 74
4.4.Các giải pháp về marketing 75
4.5.Xây dựng thương hiệu sản phẩm 76
4.6.Giải pháp liên quan đến chủ TTCN 76
4.7.Giải pháp liên quan đến vốn sản xuất 77
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
5.1.Kết luận 78
5.2.Kiến nghị 80



PHẦN MỘT
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của sản xuất nông
nghiệp. Ở nước ta chăn nuôi cung cấp khoảng 30% (năm 2011) tổng sản phẩm
nông nghiệp, đến năm 2013 giảm xuống còn 27%. Việc nâng cao đời sống vật
chất của các tầng lớp nhân dân, cải thiện điều kiện dinh dưỡng và chất lượng
bữa ăn phụ thuộc đáng kể vào sự phát triển của ngành chăn nuôi. Hiện nay,
ngành chăn nuôi nước ta cung cấp khoảng trên 1,6 triệu tấn thịt các loại, trên 40
nghìn tấn sữa và trên 3 tỷ quả trứng. Ngành chăn nuôi thúc đẩy các ngành công
nghiệp chế biến phát triển. Các cơ sở công nghiệp chế biến được hình thành và
phát triển dựa trên cơ sở phát triển của ngành chăn nuôi. Ngành chăn nuôi cung
cấp các nguyên liệu cho công nghiệp để sản xuất ra các mặt hàng tiêu dùng và
xuất khẩu có giá trị. Các sản phẩm phụ lò mổ được sử dụng với nhiều mục đích
khác nhau: bào chế thuốc, sản xuất bột máu, bột xương dùng trong chăn nuôi.
Thị trấn Đu là một thị trấn huyện lị nằm ở khu vực trung tâm của huyện
Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, được thành lập cách đây 20 năm. Trong những
năm qua, theo chủ chương của Đảng và Nhà nước, chính quyền cấp trên, địa
phương đã thực hiện dồn điền đổi thửa, khuyến khích phát triển sản xuất nông
nghiệp nói chung và các mô hình kinh tế trang trại nói riêng, đặc biệt quan tâm
chú trọng phát triển các mô hình trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, thú rừng
nhằm khai thác tối đa tiềm năng vốn có của địa phương mang lại hiệu quả kinh
tế cao; đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn,
nâng cao khả năng sản xuất và sức cạnh tranh trong sản xuất nông nghiệp; giải
quyết một số vấn đề khó khăn và tạo nguồn thu nhập ổn định cho hộ tham gia;
tạo sức hút phát triển trong và ngoài địa phương. Vài năm gần đây, địa phương
đã thực hiện nhiều hoạt động khuyến khích các trang trại chăn nuôi mạnh dạn
đầu tư vốn, con người, công nghệ vào sản xuất; khuyến khích sản xuất theo mô

2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được đầy đủ, chính xác thực trạng sản xuất, hoạt động tiêu thụ
sản phẩm, hiệu quả kinh tế của các TTCN trên địa bàn trong thời gian qua. Từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi
và bảo đảm mục đích SXKD và phát triển lâu dài của các TTCN.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng sản xuất của các TTCN ở thị trấn Đu
- Đánh giá thực trạng tiêu thụ sản phẩm của các TTCN.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các TTCN.
- Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đến hoạt động tiêu thụ của các
TTCN.
- Phân tích SWOT cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm của các TTCN trên
địa bàn.
- Đề xuất các giải pháp tiêu thụ sản phẩm đầu ra của các TTCN ở thị trấn
Đu.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3

Qua những kết quả nghiên cứu của đề tài về các TTCN ở thị trấn Đu cho
thấy những hạn chế, tồn tại trong hoạt động sản xuất, đặc biệt là trong hoạt động
tiêu thụ sản phẩm của các TTCN, dựa vào kiến thức bản thân đã tiếp thu được
trong quá trình học tập đưa ra những nhận xét, đề xuất một số giải pháp nhằm
đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị cũng như tăng lợi nhuận
cho sản xuất ngành chăn nuôi theo mô hình trang trại.
4. Những đóng góp mới của đề tài
Phân tích và đánh giá được thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm và các
nhân tố bên trong ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm các TTCN trên
địa bàn thị trấn Đu.
5. Bố cục của khóa luận


1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số lý luận về trang trại, trang trại chăn nuôi
1.1.1.1. Khái niệm về trang trại
Trang trại là một trong năm hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp cơ
bản nhất xét về mặt quan hệ sở hữu, đặc trưng của hình thức tổ chức sản xuất
dưới dạng trang trại gia đình: đất đai, tư liệu sản xuất, kể cả lao động thuộc sở
hữu của hộ gia đình.
Trang trại là:
- Cơ sở sản xuất hay doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp (gồm cả nông,
lâm, ngư nghiệp)
- Dựa trên nền tảng kinh tế hộ nông dân
- Mục đích sản xuất hàng hóa là chủ yếu
- Được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê phần lớn hoặc hầu hết lao động và
trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường.
- Được Nhà nước bảo hộ theo luật định [1].
1.1.1.2. Khái niệm về kinh tế trang trại
Theo Nghị định số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về
kinh tế trang trại, đã quy định: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản
xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình
nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng
trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và
tiêu thụ nông, lâm, thủy sản”

Theo thông tư số 27/2011/TT-BNNPHNT ngày 03 tháng 04 năm 2011 của
BNNPTNT hướng dẫn tiêu chí xác định và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế
trang trại như sau:
“Điều 3. Phân loại trang trại
1. Các trang trại được xác định theo lĩnh vực sản xuất như sau:
a) Trang trại trồng trọt;

chủ yếu
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại được tiến hành trên cơ sở
các yếu tố sản xuất nhất là đất đai và vốn được tập trung với quy mô nhất định
đáp ứng theo yêu cầu của phát triển sản xuất hàng hóa.
- Có cách thức tổ chức và quản lý sản xuất tiến bộ trên cơ sở chuyên môn
hóa sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ KHCN, hoạch toán kinh doanh và
luôn tiếp cận với thị trường.
- Chủ trang trại là người luôn có ham muốn là giàu, có kinh nghiệm sản
xuất, có hiểu biết về KHCN và kiến thức nhất định về quản lý sản xuất phù hợp
với cơ chế thị trường.
- Các trang trại đều thuê mướn lao động [1].
∗ Vai trò của kinh tế trang trại chăn nuôi
Ở nước ta, kinh tế trang trại chăn nuôi có vai trò hết sức quan trọng trong

6

sự nghiệp đất nước. Mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây vai trò của
nó đã thể hiện rõ nét cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Về mặt kinh tế các TTCN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển
các loại vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân
tán, manh mún và thâm canh cao. Mặt khác thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế
biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn. Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế
TT ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác, sử dụng
một cách đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn so với
kinh tế nông hộ. Do vậy phát triển kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy sự tăng
trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số
hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập cho lao động.
Mặt khác phát triển kinh tế trang trại còn phát triển kết cấu hạ tầng trong nông

biện pháp kinh tế kỹ thuật nhằm đưa sản phẩm trở thành hàng hoá trên thị
trường.
Tiêu thụ sản phẩm (theo nghĩa hẹp) là việc chuyển hoá hình thái giá trị và
quyền sở hữu sản phẩm nhằm đáp ứng hiệu quả của sản xuất. Theo phạm vị này
thì tiêu thụ sản phẩm đồng nghĩa với bán hàng, ứng với mỗi cơ chế quản lý kinh
tế công tác tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng các hình thức khác [16].
* Mục đích của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
Quá trình tiêu thụ sản phẩm nhằm vào 3 mục đích chính như sau:
- Đảm bảo việc tiêu thụ sản phẩm theo đúng kế hoạch, đúng hợp đồng sản
xuất kinh doanh dựa trên quan điểm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khách hàng.
- Đảm bảo uy tín doanh nghiệp, tăng niềm tin và gắn bó lâu dài với
khách hàng.
- Thu hút nhiều khách hàng mới cho doanh nghiệp thông qua các công tác
như giao dịch, phương thức phân phối, thủ tục giao nhận, quảng cáo, … đối với
khách hàng dựa trên quan điểm “khách hàng là thượng đế”[16].
* Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm được xem xét trên 2 phương diện
đó là: HQKT và phương diện xã hội.
Về phương diện HQKT đối với DN: Tiêu thụ sản phẩm quyết định sự
thành bại và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của DN. Khi sản
phẩm của DN được tiêu thụ tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả
mãn nhu cầu nào đó, sức tiêu thụ sản phẩm của NTD phản ánh uy tín của DN.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm phản ánh đầy đủ, chính xác nhất năng lực tổ chức
sản xuất, những điểm mạnh và điểm yếu của DN. Tiêu thụ sản phẩm là yếu tố
quan trọng để DN đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh, tạo thế đứng vững
chắc trên thương trường. Nếu tiêu thụ bị đình trệ thì mọi hoạt động sản xuất
khác cũng bị đình trệ. Thông qua tiêu thụ sản phẩm, mối quan hệ giữa nhà sản
xuất và người tiêu dùng bền chặt hơn.
Về phương diện xã hội: Tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân đối
cung cầu vì nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất với những cân bằng

đều buộc DN phải xem xét lại các quyết định sản xuất và tiêu thụ của mình. Có
5 loại khách hàng và tạo nên 5 loại thị trường khác nhau:
- Thị trường người tiêu dùng: là tập hợp tất cả các cá nhân, hộ gia đình,
nhóm người, tập thể hiện có và tiềm ẩn mua sắm hàng hóa, dịch vụ nhằm mục
đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
- Thị trường các nhà sản xuất: là tập hợp các cá nhân, tổ chức kinh tế,
doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ của những nhà sản xuất khác để tiêu dùng
cho sản xuất.
- Thị trường nhà buôn bán trung gian: là tập hợp các cá nhân, tổ chức mua
hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất về để bán lại kiếm lời.

9

- Thị trường các cơ quan Nhà nước và các tổ chức khác: khách hàng này
mua hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất để phục vụ cho tiêu dùng chung hoặc
chuyển giao nó cho tổ chức, đơn vị khác.
- Thị trường quốc tế: bao gồm các khách hàng là nước ngoài.
Sự tác động của các nhóm khách hàng này là khác nhau cho nên mang
tới những quyết định về sản xuất và tiêu thụ khác nhau. Đòi hỏi nhà SX phải
nghiên cứu kỹ [2].
∗ Nghiên cứu về giá cả
Trong Marketing định nghĩa rằng: “Giá là mối tương quan trao đổi trên thị
trường”. Giá là biểu tượng giá trị của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong hoạt
động tiêu thụ, trao đổi. Trao đổi qua giá là trao đổi dựa trên giá trị của những thứ
đem ra trao đổi. Đối với người mua thì giá là một khoản tiền nhất định mà người
mua phải bỏ ra để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm, dịch vụ nào đó của
người bán. Đối với người bán thì giá cả của hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập
người bán nhận được từ việc tiêu thụ sản phẩm đó.
Khái niệm về chiến lược giá cả
Chiến lược giá là đưa ra các loại giá cho một loại sản phẩm hàng hóa,

Theo quan điểm của Marketing định nghĩa rằng: Sản phẩm là tất cả những
cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán
trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm hay tiêu dùng.
Hàng hóa là thứ trải qua ít nhất một lần trao đổi trên thị trường.

Sơ đồ 1.1: Ba cấp độ các yếu tố cấu thành sản phẩm
Phân loại sản phẩm/ hàng hóa.
- Phân loại theo thời gian sử
d
ụng và hình thái tồn tại:
+ Hàng hóa lâu bền.
- Phân loại hàng hóa tiêu dùng theo
thói quen mua hàng:
+ Hàng hóa sử dụng thường ngày
Lắp đặt

tính
Sửa
chữa
Tín
dụng
Bảo hành
SP bổ sung
SP hiện
thực
Sản phẩm
theo ý
tưởng

11
+ Hàng hóa sử dụng ngắn hạn.
+ Dịch vụ.

+ Hàng hóa mua ngẫu hứng
+ Hàng hóa mua khẩn cấp
+ Hàng hóa mua có lựa chọn
+ Hàng hóa cho các nhu cầu đặc thù
+ Hàng hóa cho các nhu cầu thụ động.

∗ Nghiên cứu về cạnh tranh
Khi tham gia vào thị trường, đôi khi dù chỉ là một đoạn thị trường nhưng
DN vẫn có thể gặp phải các đối thủ cạnh tranh, với quy mô thị trường có hạn và
mục tiêu kinh doanh của các nhà sản xuất đều là vì lợi nhuận cao nhất có thể nên
các đối thủ cạnh tranh không ngại ngần trong việc đưa ra các “độc chiêu” để
giành khách hàng. Dưới con mắt của các nhà quản trị Marketing họ phân ra 4
cấp độ cạnh tranh:

khách hàng; hoàn thiện hàng hóa; tài trợ và cuối cùng là san sẻ rủi ro liên quan
đến phân phối.
Các kênh phân phối được phân loại theo số cấp cấu thành chúng gồm:
- Kênh tiêu thụ trực tiếp; là từ DN bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng.
- Kênh 1 cấp: bao gồm 1 trung gian, trên các thị trường người tiêu dùng
thì trung gian thường là người bán lẻ, trên thị trường tư liệu sản xuất thì trung
gian thường là đại lý tiêu thụ và môi giới.
- Kênh 2 cấp: gồm 2 trung gian, thường trung gian là người bán sỉ, bán lẻ.
- Kênh 3 cấp: là kênh dài nhất gồm 3 trung gian [2].
* Lựa chọn thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu
- Thị trường mục tiêu là một hoặc vài đoạn thị trường mà DN lựa chọn và
quyết định tập trung nỗ lực marketing vào đó nhằm đạt được mục tiêu kinh
doanh của mình.
Đánh giá các đoạn thị trường cần dựa trên các tiêu chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn 1: Quy mô và tốc độ tăng trưởng của đoạn thị trường.
- Tiêu chuẩn 2: Mức độ hấp dẫn về cơ cấu thị trường
Sơ đồ 1.2: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh
- Tiêu chuẩn 3: Các mục tiêu và khả năng của DN
Các phương án lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu
- Tập trung vào một đoạn thị trường
- Chuyên môn hóa tuyển chọn

trở thành yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
mọi DN [2].
1.1.2.3. Các nhân tố bên trong ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm
∗ Sản xuất
Sản xuất hàng hóa là quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm để trao đổi với
người khác hay với xã hội thông qua thị trường trước khi đi vào lĩnh vực tiêu
dùng và nhằm mục tiêu lợi nhuận. Sản xuất chính là một trong những nhân tố
then chốt quyết định đến việc tạo ra sản phẩm hàng hóa hay cung cấp dịch vụ
cho xã hội. Từ việc đưa ra một quyết định đúng đắn về sản xuất đến việc điều
hành và quản lý sản xuất tốt và hợp lý với năng lực của doanh nghiệp sẽ tạo ra
một nền móng vững trãi cho doanh nghiệp trên thương trường [16].
* Khối lượng sản phẩm sản xuất, tiêu thụ
Khối lượng sản phẩm sản xuất ra có ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng
sản phẩm tiêu thụ và từ đó ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ. Khối lượng sản
phẩm tiêu thụ là khối lượng hàng hóa đem bán trên thị trường. Điều cần lưu ý là
phải nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng tình hình nhu cầu thị trường, cần phải tuân
theo các quy luật kinh tế: quy luật cung- cầu, quy luật cạnh tranh,… Vì vậy,

14
trong công tác tiêu thụ sản phẩm cần phải đánh giá chính xác nhu cầu của thị
trường và năng lực sản xuất của DN mình để chuẩn bị khối lượng sản phẩm đưa
ra tiêu thụ một cách hợp lý và hiệu quả nhất [16].
∗ Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm ảnh hưởng hai lần tới doanh thu tiêu thụ sản phẩm.
Cụ thể: Chất lượng ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm do đó ảnh hưởng trực tiếp tới
doanh thu, vì vậy chất lượng là giá trị được tạo thêm. Mặt khác, chất lượng sản
phẩm là một vũ khí cạnh tranh sắc bén, dễ dàng đè bẹp mọi đối thủ, nhờ đó khối
lượng sản phẩm tiêu thụ được sẽ tăng lên. Chất lượng sản phẩm không phải
hoàn toàn do NSX quyết định mà còn do NTD kiểm nghiệm.
Chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc tạo uy tín

như: thanh toán hàng đổi hàng, thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán bằng
chuyển khoản, thanh toán ngay, trả chậm,… sẽ làm cho khách hàng cảm thấy
thoải mái, tự do, có cơ hội lựa chọn phương thức thanh toán thuận lợi nhất, do
đó có thể thu hút được nhiều khách hàng ở xa hay gần đến với DN làm cho quá
trình tiêu thụ diễn ra nhanh, gọn.
Các dịch vụ kèm theo khi tiêu thụ: DN muốn tạo điều kiện thuận lợi cho
khách hàng, tăng sức mạnh cạnh tranh trong công tác tiêu thụ sản phẩm,
thường họ có tổ chức dịch vụ kèm theo như vận chuyển, hướng dẫn cách sử
dụng, giới thiệu kèm theo… để tạo ra tâm lý thoải mái, yên tâm cho khách
hàng khi mua sản phẩm, đồng thời cũng khuyến khích khách hàng tiêu thụ
sản phẩm nhiều hơn.
Quảng cáo, giới thiệu sản phẩm: Quảng cáo là công cụ Marketting và là
phương tiện thúc đẩy quá trình bán hàng rất quan trọng đối với DN. Mục đích
của quảng cáo là phải đưa ra những thông tin đến NTD về một mặt hàng nào dó,
giải thích được lợi ích của mặt hàng này và so sánh ưu thế của nó với mặt hàng
tương tự [16].
1.1.2.3. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành chăn nuôi
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, đối
tượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm dinh
dưỡng đáp ứng nhu cầu trực tiếp của con người song lại có đặc điểm rất khác
với ngành trồng trọt:
Thứ nhất, đối tượng tác động là cơ thể sống, có hệ thần kinh cao cấp, có
những tính quy luật sinh vật nhất định.
Thứ hai, chăn nuôi có thể phát triển tĩnh, tập trung mang tính chất sản
xuất như ngành công nghiệp hay cũng có thể di động, phân tán mang tính chất
như sản xuất nông nghiệp.
Thứ ba, chăn nuôi là ngành sản xuất cho ra đồng thời nhiều sản phẩm như:
thịt, trứng, sữa, mật, nọc, con giống, sức kéo,… và phụ phẩm ngành chăn nuôi,
sản phẩm ngành có giá trị kinh tế cao phục vụ cho tiêu dùng hàng ngày, cho sản
xuất nông nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và

triển, chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng sơ chế, ít chế biến, giá trị nông nghiệp
không cao so với năng lực sản xuất, chưa có khung tiêu chuẩn chất lượng chung.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Quá trình phát triển của kinh tế trang trại trên Thế Giới
Trang trại gia đình là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia
đình, hình thành và phát triển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường từ khi
phương thức sản xuất tư bản thay thế cho phương thức sản xuất phong kiến và
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bắt nguồn từ Châu Âu vào cuối thế kỷ
thứ 18.
Vào cuối thế kỷ 19, các ngành công nghiệp xây dựng, giao thông vận tải,
dịch vụ thương mại phát triển với tốc độ nhanh, vấn đề cơ giới hóa trong sản

17
xuất nông nghiệp được chú trọng. Song sức phát triển nóng của ngành công
nghiệp đã thu hút một lượng lớn lao động từ nông nghiệp chuyển sang dẫn đến
tình trạng thiếu lao động nông nghiệp, các TT lớn mất dần lợi thế, thúc đẩy các
trang trại theo hộ gia đình phát triển nhanh. Điều này kéo dài sang đến đầu thế
kỷ 20, lúc này chỉ còn các TT trung bình vẫn duy trì tiếp tục sản xuất nhưng đã
có sự biến đổi như: ít thuê lao động, chủ yếu sử dụng lao động gia đình hoặc
không thuê lao động, sử dụng nhiều máy móc, thiết bị, phân bón, thuốc hóa học
vào sản xuất.
Sau chiến tranh Thế giới 2, số lượng trang trại ở các nước phát triển
giảm đi nhưng qui mô trang trại lại tăng, một xu thế phát triển KTTT thịnh hành
là trang trại gia đình với qui mô từ 40-65 ha, thuê từ 3-4 lao động, tích cực sử
dụng nguồn lao động gia đình.
Ở Mỹ năm 1950 có 5.648.000 trang trại có diện tích bình quân từ 86ha
và có 2.954.000 trang trại có diện tích bình quân 151ha và cho đến năm 1992
còn 1.925.000 trang trại có diện tích bình quân 198ha/ trang trại
Ở Anh là nước phát triển hình thức KTTT sớm nhất, năm 1950 có
453.000 trang trại với diện tích bình quân 36ha, đến năm 1987 còn 254.000

Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, KTTT đã phát triển theo hướng
kinh doanh tổng hợp sau đó đi sâu vào sản xuất tập chung, chuyên môn hóa.
- Trong tương lai, KTTT vẫn tồn tại và có nhiều khả năng phát triển hơn
nữa vì nó mang nhiều thế mạnh hơn hẳn các hình thức sản xuất khác.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụ thuộc
vào các yếu tố đất, lao động mà chủ yếu là vốn, trình độ KHCN.
- Nâng cao trình độ cho chủ trang trại là một trong những nhân tố quan
trọng nhất đối với sự thành công của KTTT ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
- Sự tồn tại và phát triển KTTT phải gắn liền với quá trình CNH-HĐH và
sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường, cạnh tranh. Nhất là
trong bối cảnh hiện nay, các nước chạy đua nhau về trình độ công nghệ sản xuất,
phát triển theo khối, tổ chức hoặc hợp tác quốc tế.
- Gắn sản xuất với công nghiệp chế biến và dịch vụ tại nông thôn.
- Phát triển kinh tế hợp tác trang trại là một yêu cầu tất yếu để hỗ trợ, thúc
đẩy phát triển KTTT.
- Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và
thúc đẩy phát triển KTTT [5].
1.2.2. Quá trình phát triển của kinh tế trang trại ở Việt Nam
∗ Bối cảnh ra đời của kinh tế trang trại ở nước ta
Ngay từ đầu những năm của thập niên 80 đến nay, trên phạm vi cả nước,
Đảng và Nhà nước đã và đang thực hiện những chủ chương, đường lối và đưa ra
một loạt những biện pháp nhất quán theo hướng khuyến khích và tạo mọi điều
kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại ra đời và không ngừng phát triển.
Kể từ năm 1986, Đảng đã công nhận sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần,
khẳng định các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần.
Điều đó đã tạo cơ hội ra đời và hình thành KTTT được thể hiện ở các mặt chủ
yếu sau:
- Bằng các chủ chương và biện pháp thích hợp thay đổi về sở hữu và sử
dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; thừa nhận và


14/CP về việc vay vốn của hộ nông dân; các dự án sử dụng đất, đồi núi trọc,
rừng, bãi bồi ven biển, mặt nước theo Nghị định số 327/CP [1].
∗ Tình hình chung về phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phú Lương
trong những năm gần đây
Phong trào làm kinh tế trang trại đã và đang phát triển mạnh ở huyện Phú
Lương. Hiện trên địa bàn huyện có gần 300 trang trại, gia trại (trồng trọt, chăn nuôi,
tổng hợp, lâm nghiệp), trong đó trang trại, gia trại chăn nuôi chiếm đa số.

Trích đoạn Phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố bên trong TTCN đến Phân tích SWOT về hoạt động tiêu thụ sản phẩm với các loại hình
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status