then kỳ yên của người tày ở bắc quang, hà giang - tiếp cận từ góc độ văn học dân gian - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NÔNG THỊ NGỌC

THEN KỲ YÊN CỦA NGƢỜI TÀY
Ở BẮC QUANG, HÀ GIANG - TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ
VĂN HỌC DÂN GIAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS - TS. Nguyễn Hằng Phƣơng
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin trân trọng cảm ơn
Ban Giám hiệu, khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm, quý thầy, cô giáo khoa
Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và quý thầy, cô giáo trực
tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập.


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tư
liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung
thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn
Nông Thị Ngọc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 10
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƢỜI TÀY, THEN TÀY VÀ
THEN KỲ YÊN Ở BẮC QUANG, HÀ GIANG 10
1.1. Tổng quan về tộc người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang 10
1.1.1. Vài nét về cộng đồng người Tày ở Hà Giang 10
1.1.2. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, diện mạo văn hoá
của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang 11
1.2. Khái quát về Then Tày 17
1.2.1. Khái niệm Then 17

3.1. Thể thơ trong Then kỳ yên 73
3.1.1. Thể thơ thất ngôn 73
3.1.2. Thể thơ ngũ ngôn 77
3.2. Một số biện pháp tu từ nghệ thuật trong Then kỳ yên 80
3.2.1. Liệt kê 80
3.2.2. Điệp ngữ 84
3.2.3. Thủ pháp hư cấu kì ảo 89
3.3. Thời gian và không gian nghệ thuật trong Then kỳ yên 93
3.3.1. Thời gian nghệ thuật 93
3.3.2. Không gian nghệ thuật 96
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 115

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống,
mỗi dân tộc ở từng vùng, miền lại có những nét độc đáo riêng về văn hoá tinh
thần và văn hoá vật chất. Chính những nét riêng độc đáo của mỗi dân tộc đó
đã tạo nên một nền văn hoá Việt Nam đa dang, phong phú nhưng thống nhất.
Cùng nằm trong vùng văn hoá Việt Bắc, nhắc đến Hà Giang người ta nghĩ
ngay đến những làn điệu, câu hát trữ tình mượt mà như: Sli, Lượn, Coi, Iếu,
Then, Quan làng , đã làm xao xuyến, đắp say biết bao tâm hồn bao chàng
trai, cô gái dù chỉ một lần được nghe. Trong những làn điệu, câu hát mượt mà
đó phải kể đến hát Then, không chỉ là loại hình sinh hoạt văn hoá - văn nghệ
quần chúng mà Then còn là loại hình sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng. Do vậy,

vẹn như trước nữa.
Từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn “Then kỳ yên của người Tày ở
Bắc Quang, Hà Giang - Tiếp cận từ góc độ văn học dân gian” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn của mình. Với mong muốn khám phá những khía
cạnh độc đáo của Then và cùng đồng bào Tày lưu giữ vốn văn hoá quý báu
của dân tộc mình trước những biến thiên của lịch sử.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những công trình nghiên cứu về Then nói chung
Then là một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian mang tính tổng hợp
gồm lời ca, múa, nhạc và hội hoạ , ngoài ra Then còn gắn với văn hoá tín
ngưỡng lâu đời của người Tày ở miền núi phía bắc Việt Nam. Vì lẽ đó mà
Then đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu dân gian.
Theo dòng thời gian một số công trình sưu tầm, khảo cứu có liên quan đến đề
tài nghiên cứu xuất hiện:
Công tác sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu văn hoá dân gian Việt Bắc đã
được nhen nhóm từ sau khi cách mạng tháng Tám thành công, đặc biệt từ sau

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Hội nghị bàn về công tác sưu tầm văn hoá văn hoá dân gian ở miền Bắc được
tổ chức vào tháng 2 năm 1964. Hưởng ứng phong trào này, các nhà sưu tầm,
nghiên cứu đã đi điều tra, điền dã ở khu vực Việt Bắc, kết quả nhận được là
những cuốn sách Then viết bằng chữ Nôm Tày - Nùng lưu truyền ở một số
địa phương của các tỉnh. Cũng trong thời gian này có một số bài viết về Then
được công bố trên sách, báo, tạp chí, nhưng ở khía cạnh nghệ thuật biểu diễn
trên sân khấu, qua làn sóng phát thanh truyền hình. Như vậy, Then đã được
chú ý nhưng mới chỉ ở góc độ nghệ thuật biểu diễn.
Sang thập niên 70 của thế kỉ XX việc nghiên cứu Then mới thực sự
khởi sắc ở các địa phương Việt Bắc. Công trình đầu tiên sưu tầm và nghiên

xét thưởng Hội văn nghệ dân gian Việt Nam. Các công trình sưu tầm văn bản
Then đã được xuất bản như: Khảm Hải - Vượt biển của Vi Hồng [10], Bộ
Then tứ bách của Lục Văn Pảo [37], Then và những khúc hát [2] và Lễ hội
Dàng Then [1] của tác giả Triều Ân , đây là các công trình tập hợp những
khúc hát Then hành lễ có kèm theo những lời giới thiệu về nội dung, nghệ
thuật, ý nghĩa và đặc điểm nghi lễ gắn với khúc hát Then, những công trình
này rất hữu ích cho việc tìm hiểu các dòng Then.
Cố tác giả Hoàng Đức Chung với Lẩu Then Bjoóc mạ của người Tày
huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (1999) [5] đã nghiên cứu công phu với cái
nhìn toàn diện về lễ cấp sắc trong Then ở Hà Giang, đây là công trình góp
phần vào gìn giữ những đặc sắc trong Then ở Hà Giang nói chung. Tuy nhiên,
tác giả chỉ nghiên cứu ở lĩnh vực mang tính văn hoá, chưa đi sâu vào tìm hiểu
phần nội dung văn học.
Các luận văn Nghệ thuật hát Then của người Tày ở Lạng Sơn của
Dương Thị Lâm [24] và Khảo sát nghi lễ Then "Hắt khoăn" (giải hạn) của
người Tày huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn của Nguyễn Thị Hoa bảo vệ năm
2002 [15], và Khảo sát phần lời ca trong Then cầu tự của người Tày Cao
Bằng của Nguyễn Thanh Hiền bảo vệ năm 2007 [12] đã góp phần làm rõ sự

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
đa dạng, phong phú của Then tại các địa phương khác nhau ở Việt Bắc, đặc
biệt là luận văn nghiên cứu về Văn hoá tâm linh của người Tày qua lời hát
Then của Hà Anh Tuấn bảo bệ năm 2008 [54] cho thấy tâm linh có một vị trí
quan trọng trong đời sống tinh thần của người Tày, giúp người Tày có niềm
tin trong cuộc sống. Các luận văn nghiên cứu về Then ở những khía cạnh
khác nhau, nhưng cũng đã cung cấp một cái nhìn đầy đủ về những giá trị vốn
có trong Then.
Cuốn Nét chung và nét riêng của âm nhạc trong diễn xướng Then Tày

Đối với dân tộc Tày ở Bắc Quang hát Then vừa là một loại hình sinh
hoạt văn hoá, văn nghệ quần chúng vừa là loại hình sinh hoạt văn hoá tín
ngưỡng lâu đời của người Tày nơi đây. Những bài hát Then cổ và những bài
Then dùng trong nghi lễ được người dân lưu truyền qua nhiều thế hệ ở khắp
các địa phương có người Tày sinh sống. Trải qua năm tháng Then vẫn luôn
sống mãi trong lòng những người yêu thích loại hình sinh hoạt văn hoá này.
Dù đã được biết đến, nhưng Then của dân tộc Tày vẫn còn là mảnh đất
nguyên sơ chưa được nhiều người quan tâm, nghiên cứu.
Hiện nay, tư liệu về Then chủ yếu là do những người là nghề cúng bái
cao tuổi lưu giữ (nhưng rất ít), chữ viết chủ yếu lại bằng chữ Nôm Tày nên
nhiều người không đọc được. Những người có "căn số" làm Then khi ngồi
trước mâm hương nghi ngút khói là họ tự nhớ, tự thuộc nếu có đến nhà thầy
Then để học chủ yếu bằng con đường truyền khẩu. Điều đó cho thấy, nguy cơ
mai một của hình thức sinh hoạt văn hoá độc đáo này.
Người có công sưu tầm, nghiên cứu về Then kỳ yên ở Bắc Quang là ông
Hoàng Định (80 tuổi) là người Tày ở Bắc Quang, cán bộ công tác trong ngành
văn hoá nay đã nghỉ hưu. Công trình sưu tầm, nghiên cứu này chuẩn bị in
thành sách, dài 2.078 nghìn câu Then, qua những chuyến đi điền dã chúng tôi
chưa thấy có thêm công trình nghiên cứu nào về Then ở Bắc Quang. Do nhiều
lí do khác nhau mà cho đến nay việc sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu về Then
ở Bắc Quang nói riêng ở Hà Giang nói chung chưa được chú ý. Do vậy, việc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
tìm hiểu Then của người Tày ở địa phương Bắc Quang (từ góc độ văn học dân
gian) là một việc làm thiết thực trong đời sống hiện nay, góp phần bảo tồn,
gìn giữ và phát huy nền văn học nghệ thuật vô cùng quý giá của cả dân tộc.
3. Mục đích nghiên cứu
- Mục tiêu bao trùm luận văn là tìm hiểu đặc điểm Then kỳ yên của

yên để phân tích. Tuy nhiên, Then là loại hình diễn xướng tổng hợp và tồn tại
không tách rời khỏi đời sống văn hoá của người Tày. Do vậy, tiếp cận vấn đề
nghiên cứu theo quan điểm văn hoá học là rất cần thiết, song cần phải nghiên
cứu theo quan điểm tiếp cận liên ngành, xem xét đối tượng từ nhiều góc độ,
ngành khoa học khác nhau.
- Để hoàn thành đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
+ Phương pháp điền dã văn học
+ Phương pháp nghiên cứu liên ngành
+ Phương pháp khảo sát, thống kê
+ Phương pháp phân tích tổng hợp
+ Phương pháp đối chiếu so sánh
7. Những đóng góp của luận văn
- Là công trình nghiên cứu đầu tiên một cách có hệ thống về những giá
trị cơ bản về nội dung và nghệ thuật trong Then kỳ yên của người Tày ở Bắc
Quang, Hà Giang. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc giữ gìn và phát
huy nét đẹp văn hoá của dân tộc Tày.
- Trong quá trình điền dã, khảo sát, nghiên cứu tác giả đề tài cũng thu
thập được một số lượng nhất định về những lời hát Then cổ, bài cúng sử dụng
lời Then trong các nghi lễ còn đang lưu truyền trong đời sống dân gian ở Bắc
Quang và một số địa phương lân cận của tỉnh Hà Giang.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
- Từ kết quả khảo sát thực tế trên cơ sở khoa học, tác giả luận văn bước
đầu đề xuất hướng bảo tồn và phát huy, gìn giữ những nét đẹp, giàu bản sắc văn
hoá dân tộc Tày nói chung trong đó có dân tộc Tày ở Bắc Quang, Hà Giang.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội

cổ có các cư dân sinh sống, trong đó có dân tộc Tày. Cụ thể là tấm bia ở chùa
Sùng Khánh (huyện Vị Xuyên) dựng năm 1367 khắc ghi công lao của quan
phủ đạo người Tày họ Nguyễn là Nguyễn Thiếp đã có công bảo vệ giới phía
Bắc, xây dựng làng xã ổn định phát triển, là nơi tin cậy của triều đình ở vùng
biên viễn xa xôi.
Trong số 22 dân tộc anh em cùng sinh sống ở Hà Giang, thì người Tày
cư trú lâu đời, sống chủ yếu tập trung ở những vùng thấp, thung lũng nơi gần
nguồn nước. Theo tổng điều tra dân số năm 2009 thì dân tộc Tày có 168.719
nghìn người chiếm 27% dân số trong toàn tỉnh, là dân tộc đông thứ hai sau

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
dân tộc Mông (31%) [7]. Người Tày sống rải rác ở 10 huyện thị trong tỉnh,
nhưng tập trung đông nhất là ở huyện Vị Xuyên, Bắc Quang. Quan hệ xã hội
giữa các cư dân Tày mang tính chất cộng đồng thuần nhất, họ luôn giữ được
truyền thống đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau trong lao động
sản xuất, chung tay, góp sức làm những việc lớn của thôn xóm, làng xã
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, cùng với người Tày trên cả nước,
người Tày ở Hà Giang chẳng những góp phần quan trọng vào sự nghiệp dựng
nước và giữ nước mà còn sớm hình thành một nền văn hoá đặc sắc, làm
phong phú thêm cho nền văn hoá truyền thống của các dân tộc Việt Nam.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội, diện mạo văn hoá
của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang
1.1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Bắc Quang là một huyện vùng thấp, huyện cửa ngõ của tỉnh Hà Giang,
nằm trên quốc lộ số 2, cách thành phố Hà Giang 60km về phía Bắc. Toàn
huyện có 23 đơn vị hành chính gồm 21 xã và 2 thị trấn, có tổng diện tích tự
nhiên là 108.366 ha, số dân là 102.293 người, với 19 dân tộc anh em cùng
chung sống. Trong đó, người Tày chiếm 50% dân số của cả huyện [7]. Là một

năm. Do cuộc sống mang tính tự cung, tự cấp nên các ngành nghề thủ công
cũng được phát triển, đồng bào tự làm lấy những thứ cần thiết cho cuộc sống
như: đan lát, làm đồ gỗ, nuôi tằm dệt vải, làm nghề rèn , các chợ phiên ở
nông thôn được mở ra để mua bán, trao đổi những mặt hàng thiết yếu.
Nhờ vào môi trường tự nhiên thuận lợi, đã tạo cho đồng bào nơi đây nhiều
khả năng phát triển kinh tế toàn diện, một nền kinh tế đa dạng, kết hợp giữa
nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển lâu dài và bền vững.
Nhìn chung, hoạt động kinh tế của người Tày Bắc Quang đã dần thoát
khỏi tình trạng tự cung, tự cấp, ngày càng phát triển toàn diện hơn, góp phần
cùng với các dân tộc anh em xây dựng một Bắc Quang văn minh, giàu đẹp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
- Đời sống xã hội:
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, đời sống xã hội của người Tày ở
Bắc Quang còn gặp nhiều khó khăn bởi sự thống trị của chế độ thực dân
phong kiến, gọi là chế độ "quăng" (thổ ty), bị thực dân phong kiến lợi dụng,
khiến đồng bào nơi đây bị bóc lột nặng nề về kinh tế, áp bức về chính trị.
Nhưng từ sau Cách mạng tháng Tám, cùng với sự đổi thay chung của cả dân
tộc, cuộc sống của đồng bào Tày Bắc Quang có nhiều biến đổi lớn lao. Chế
độ phu phen, tạp dịch được xoá bỏ, nhân dân các dân tộc trong toàn huyện đã
ra sức khôi phục, phát triển kinh tế, văn hoá, cải thiện đời sống để phục vụ
đắc lực cho hai cuộc kháng chiến. Đời sống của đồng bào những ngày đầu tuy
còn khó khăn nhất định nhưng dần từng bước đã được nâng lên, những hủ tục,
tập quán lạc hậu, mang nặng yếu tố mê tín, dị đoan đang dần được xoá bỏ.
Hiện nay đời sống xã hội của người Tày Bắc Quang đang có những chuyển
biến rất mạnh, con em đồng bào ngày càng được nâng cao về trình độ, nhiều
cán bộ người Tày được cử đi đào tạo, nâng cao về chuyên môn và giữ những
trọng trách quan trọng trong các cấp uỷ Đảng, chính quyền của huyện, góp

Mông, Dao Nhìn chung cư dân sống xen kẽ trong một bản là hiện tượng phổ
biến của người Tày ở Bắc Quang, ở các khu như trung tâm xã, thị trấn cư dân
đông đúc, nhà san sát nhau, trông không khác gì những vùng trù mật ở miền
xuôi. Bà con trong thôn bản sớm tối có nhau, giống như câu tục ngữ Tày đã
ví: " Pí noọng tam tó bố táy pi noọng xó rườn" (anh em ở xa không bằng anh
em làng xóm ở gần). Tính cộng đồng của làng bản xưa kia đóng vai trò quan
trọng trong đời sống của đồng bào Tày, nay vẫn được giữ gìn và phát huy.
Trang phục nam, nữ Tày ở đây thường nhuộm vải màu chàm để may
quần áo. Trang phục cổ truyền của nam giới Tày gồm áo năm thân buông
chùm qua cạp quần xuống đến đầu gối; quần cạp rộng, ống rộng, buông trùng
đến mắt cá chân, khăn đội đầu nhỏ, dài, quấn hay chít khăn kiểu chữ Nhân
trên trán. Trang phục của nữ nhiều loại và kiểu cách phức tạp hơn, vào những

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
dịp lễ tết, hội hè , chị em mặc áo dài năm thân, trùng đến mắt cá chân, ống
tay hẹp, xẻ nách phải, cài năm khuy, được thắt eo bằng một dải dây lưng bằng
vải lanh hay đũi màu xanh, đỏ dài khoảng hai sải tay để tăng thêm vẻ duyên
dáng, nhất là đối với thanh nữ. Thường ngày thì mặc áo ngắn bốn thân, cổ
tròn, xẻ ngực cài cúc, có túi nhỏ ở hai vạt áo, may bó tạo eo; ống quần nhỏ
hoặc váy dài đến mắt cá chân. Khăn đội đầu là một vuông vải chàm, không
thêu, buộc theo vấn tóc, chân đi giày vải hoặc dép, đầu đội nón tự làm. Ngoài
quần áo, khăn, thắt lưng, chị em còn đeo thêm vòng cổ, vòng tay và mang xà
tích bằng bạc, vàng để làm đồ trang sức. Trang phục cổ truyền của đồng bào
Tày nơi đây đang có xu hướng hiện đại hoá, nam giới, trẻ em hầu như không
mặc y phục truyền thống nữa, thay vào đó là những trang phục như người
Kinh do đồng bào tự may hoặc mua ở chợ, chỉ còn trang phục nữ còn giữ
được khá nguyên vẹn.
Ẩm thực của người Tày rất phong phú, trước kia ở một số vùng đồng

dịp tết nguyên đán và rằm tháng bảy. Hệ thống điện thờ của người Tày đã
phát triển khá cao, có đủ mặt các vị thần từ Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu,
mẹ Hoa (mẹ Bjoóc) , đến thần sông, thần núi, thần sấm, thần sét , cho tới
các loại thần thánh, ma quỷ ở địa phương. Người Tày còn quan niệm con
người có hồn, có vía, có ma lành và ma dữ. Ma lành thì được thờ phụng để
phù hộ, ma dữ nếu quấy nhiễu thì phải cúng tế, tống chúng đi. Công việc này
được thông qua hệ thống các thầy cúng, thầy bói như thầy Tào, thầy Mo, thầy
Then, Pụt Ở Bắc Quang vẫn duy trì được lễ hội Lồng tồng (xuống đồng)
được tổ chức khoảng từ mùng 4 đến 15 tháng giêng hàng năm, để cầu mưa
thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Ngoài phần lễ long trọng là phần hội tưng
bừng với các trò chơi dân gian đặc sắc và những câu hát giao duyên Lượn,
Iếu, Cọi , làm đắm say bao tâm hồn từ người già đến người trẻ. Sau khi ăn
tết xong các gia đình chọn được ngày lành đến mời thầy Then về nhà làm lễ
với mục đích là giải hạn hay cầu chúc cho một năm mới mọi người trong gia
đình được khoẻ mạnh, làm ăn thuận buồm xuôi gió, mùa màng tốt tươi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Bên cạnh những yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng mang ý nghĩa tích cực, vẫn
còn không ít những rơi rớt lạc hậu từ chế độ cũ cần được hạn chế xoá bỏ.
Văn học, nghệ thuật dân gian:
Nếu gạt sang một bên những yếu tố tiêu cực của tín ngưỡng tôn giáo, ta
sẽ thấy những yếu tố lành mạnh, trong sáng như những hạt ngọc lấp lánh chứa
đựng các thể loại văn học nghệ thuật dân gian của dân tộc Tày, là vốn quý cần
được sưu tầm, khai thác, phát huy trong thời đại ngày nay. Vốn quý đó, một
phần nhỏ được lưu giữ qua các tài liệu mà các nhà nghiên cứu văn học nghệ
thuật dân gian sưu tầm, phần lớn được lưu giữ qua các "nghệ sỹ" dân gian,
tiêu biểu như: truyện cổ tích, truyện thơ, truyện kể địa danh, tục ngữ , ngoài
ra còn có một số thể loại nữa cần chú ý tới đó là hát Then, hát Lượn cọi, hát

của trời. Họ là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc hoàng và
Long vương" [34, tr.14]
- "Then là một loại hình nghệ thuật dân gian mang tính chất tổng hợp
và có phần tôn giáo, mê tín" [34, tr.12]
- "Then là những khúc hát thuộc về thờ cúng (chant cultued) do những
Then làm nghề (chan-teuse cultuelle) hát trong nghi lễ" [2, tr.7]
- Từ điển Tiếng Việt định nghĩa Then là: "1. Lực lượng siêu tự nhiên
sáng tạo ra thế giới, theo quan niệm của một số dân tộc thiểu số miềm Bắc
Việt Nam. 2. Người làm nghề cúng bái (thường là nữ) ở vùng các dân tộc
thiểu số nói trên. Bà Then, làm mo, làm Then. 3. Loại hình nghệ thuật tổng
hợp gồm đàn, hát, múa gắn liền với tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số nói
trên. Hát Then, múa Then." [38, tr.931]
Qua các công trình nghiên cứu về Then ở trên, chúng tôi thấy Then là
một trong những hình thức tín ngưỡng dân gian tiêu biểu của dân tộc Tày, nó
không chỉ chi phối đời sống tâm linh của người dân, mà còn để lại những dấu
ấn sâu đậm trong đời sống văn hoá nghệ thuật của dân tộc. Vì thế Then sản
sinh và tích hợp các giá trị văn hoá nghệ thuật và trở thành thứ "sân khấu tâm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
linh" thoả mãn nhu cầu tâm linh và thưởng thưởng thức văn hoá nghệ thuật
của quần chúng.
Từ góc độ nghiên cứu của mình, trên cơ sở tham khảo ý kiến của các
nhà nghiên cứu và qua khảo sát thực tế ở địa phương, chúng tôi bước đầu đưa
ra cách hiểu về Then như sau: Then là một hình thức sinh hoạt văn hoá tín
ngưỡng lâu đời của người Tày miền núi phía Bắc Việt Nam, là tên gọi một
hình thức nghi lễ có sử dụng nhạc cụ (đàn tính, chùm nhạc xóc) và những
khúc hát thờ cúng. Then còn là tên gọi chỉ hình thức hát dân ca của người
Tày là hát Then, thường được diễn ra trong những ngày lễ trọng đại của gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status