Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
0
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÁI NGUYÊN
ĐÀM THÙY LINH
HÁT QUAN LANG CỦA NGƢỜI TÀY Ở THẠCH AN -
CAO BẰNG TIẾP CẬN DƢỚI GÓC ĐỘ VĂN HỌC DÂN
GIAN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN HẰNG PHƢƠNG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
0
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 0
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ................................................................................. 1
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ........................................................................................ 2
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU .............................................. 6
3.1. Mục đích nghiên cứu ...................................................................... 6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 6
4. PHẠM VI ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU ..................................................... 6
4.1. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 6
4.2. Đối tượng nghiên cứu..................................................................... 7
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................. 7
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN .................................................................... 7
7. BỐ CỤC LUẬN VĂN .................................................................................... 8
NỘI DUNG ............................................................................................................ 9
Chƣơng 1: HÁT QUAN LANG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA
NGƢỜI TÀY Ở THẠCH AN - CAO BẰNG ........................................................ 9
1.1. Vài nét về cộng đồng ngƣời Tày ................................................................. 9
1.1.1. Cộng đồng ngƣời Tày Cao Bằng ............................................... 9
1.1.2. Cộng đồng ngƣời Tày Thạch An - Cao Bằng .......................... 10
1.1.2.1. Điều kiện tự nhiên của huyện Thạch An ........................... 10
1.1.2.2. Xã hội – Văn hoá.............................................................. 11
1.2. Một số vấn đề chung về hát Quan lang .................................................... 17
1.2.1. Khái niệm hát Quan lang ........................................................ 17
1.2.2. Nguồn gốc của hát Quan lang................................................. 20
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá đa dạng phong phú nhƣng
thống nhất. Đó là nền văn hoá đƣợc tạo bởi các dân tộc anh em cùng chung
sống xen kẽ khắp dải đất hình chữ S của Tổ quốc. Do vậy, bên cạnh việc tìm
hiểu văn hoá của ngƣời Việt cần chú trọng tìm hiểu văn hoá của các dân tộc
thiểu số, những bộ phận văn hoá làm nên vẻ đẹp phong phú đa dạng của văn
hoá dân tộc.
Sau một thời gian chƣa đƣợc chú ý sƣu tầm, nghiên cứu đúng với tầm
vóc của nó, mấy thập kỷ gần đây một số hình thức văn hóa dân gian có chức
năng nghi lễ sinh hoạt thực hành của các dân tộc ít ngƣời nhƣ: Mo Mƣờng,
hát cúng ma của ngƣời Mông, Then Tày, Hát Quan lang… đã đƣợc ngành văn
hoá, đặc biệt là ngành văn hoá dân gian chú ý khai thác.
Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu hát Quan Lang về nhiều
phƣơng diện: nguồn gốc, nội dung, hình thức nghệ thuật, phƣơng thức diễn
xƣớng... Song chƣa có công trình nào nghiên cứu về hát Quan lang ở Thạch
An - Cao Bằng một cách toàn diện hệ thống.
1.2. Hát Quan lang là loại hình văn hoá, văn nghệ mang đậm tính sinh
hoạt quần chúng, nhƣng mặt khác nó còn là loại hình sinh hoạt văn hoá phong
tục. Vì thế để giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Tày ở Thạch An nói riêng và ở
Cao Bằng nói chung, chúng ta cần quan tâm khai thác nghiên cứu phong tục
hát Quan lang một cách khoa học, nhằm phát huy thế mạnh của nó trong đời
sống hiện đại.
Hát Quan lang là loại hình dân ca độc đáo đƣợc hát trong lễ cƣới của
ngƣời Tày Thạch An nói riêng và ngƣời Tày Cao Bằng nói chung. Tìm hiểu
hát Quan lang của ngƣời Tày ở Thạch An là công việc hữu ích góp phần vào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Đến năm 1973, trong cuốn “Dân ca đám cƣới Tày - Nùng”, Nông Minh
Châu đã tập hợp hơn 100 bài hát đám cƣới Tày – Nùng. Tác giả sƣu tầm và
dịch từ nguyên văn thơ Tày - Nùng ra tiếng Việt. Bên cạnh giá trị sƣu tầm,
cuốn sách đã khá thành công trong việc dịch thơ: lời thơ, hình ảnh khá sát
thực, sinh động. Bởi vậy gần nhƣ không có khoảng cách đáng tiếc giữa thơ
nguyên bản và thơ tiếng Việt. Cuốn sách là tƣ liệu quý giá cho tất cả những ai
muốn tìm hiểu về “Dân ca đám cƣới Tày - Nùng”. Tác giả Vi Quốc Bảo đã
viết lời giới thiệu cho cuốn sách này. Bài giới thiệu có những nhận xét, đánh
giá, phát hiện xác đáng về diễn xƣớng, về nội dung và cả nghệ thuật của dân
ca đám cƣới Tày - Nùng: “Những bài hát đó kéo dài suốt quá trình đám cƣới
và chỉ kết thúc khi các nghi thức đám cƣới đã đƣợc thực hiện đầy đủ”, “Các
bài hát đám cƣới là một yêu cầu về sinh hoạt văn hoá văn nghệ”, “giá trị của
những bài hát đám cƣới là đã phản ánh, miêu tả xã hội và đời sống của dân
tộc Tày”. [5]
Nhƣ vậy, cuốn sách “Dân ca đám cƣới Tày - Nùng” của Nông Minh
Châu xuất bản đã cho ta những tƣ liệu quý giá và những hiểu biết ban đầu rất
cần thiết, đặc biệt là về phƣơng diện diễn xƣớng dân ca Tày - Nùng.
Năm 1974, trong cuốn “Bƣớc đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc”, [33 ]
có bài viết của Lƣờng Văn Thắng “Tìm hiểu nội dung của một số bài thơ
Quan lang”, của Vi Quốc Bảo “Những bài hát đám cƣới - Những bài thơ trữ
tình”. Trong bài viết của tác giả Lƣờng Văn Thắng có đoạn nhận xét: “Thơ
Quan Lang của dân tộc Tày chẳng qua cũng là một phƣơng thức phản ánh
một quan niệm sống, một sự biết ơn, một sự ca ngợi, một sự khiêm tốn đáng
quý... phản ánh truyền thống đạo đức của dân tộc một cách kín đáo, duyên
dáng nhƣng đậm đà.” [33, tr. 83]. Nhận xét có tính khái quát, nếu triển khai
ta sẽ thấy đúng với nội dung của dân ca đám cƣới Tày - Nùng. Vi Quốc Bảo
cũng thấy rõ: “Trong dân ca đám cƣới Tày - Nùng, đôi bên nam nữ giãi bày
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Sli, Lƣợn: Lƣợn Quan Lang; Sli, Lƣợn lề lối và điệu lƣợn Phong Slƣ và một
số yếu tố nghệ thuật tạo ra phong cách riêng của Sli và Lƣợn nói chung “Đó
là phong cách hài hòa giữa lý trí và tình cảm, giữa cảm xúc thi ca hồn nhiên
và sự thông minh linh hoạt về trí tuệ”.
Năm 2002, Hoàng Thị Cành với đề tài nghiên cứu “Phong tục hôn nhân
ngƣời Tày Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng” [6] cũng đã giới thiệu khá toàn diện
về phong tục hôn nhân của ngƣời Tày Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng và văn bản
thơ Quan Lang đƣợc ghi chép, sƣu tầm bằng chữ Nôm, phiên âm Tày và dịch
ra tiếng Việt.
Cũng trong thời gian này, ở Trƣờng đại học sƣ phạm Thái Nguyên có
một đề tài nghiên cứu khoa học cũng đã bƣớc đầu nghiên cứu về thơ Quan
lang ở xã Phƣơng Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
Năm 2004, Lộc Bích Kiệm với luận văn “Đặc điểm dân ca Tày - Nùng
xứ Lạng” [21] đã xác lập đƣợc những đặc điểm căn bản của dân ca đám cƣới
Tày - Nùng trên các phƣơng diện: diễn xƣớng, nội dung, thi pháp. Đặc biệt
ngƣời viết đi sâu vào phần thi pháp để thấy đƣợc sự độc đáo của bộ phận dân
ca này.
Trong sách “Thơ Quan lang” [49] xuất bản năm 2008, Nguyễn Thiện Tứ
đã giới thiệu trình tự những lời thơ Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng, song
chƣa nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc nội dung và hình thức nghệ thuật
của văn bản ngôn từ.
Hát Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng hiện nay vẫn chƣa đƣợc khai
thác, nghiên cứu một cách triệt để trong một công trình khoa học nào.
Hiện nay, hát Quan lang vẫn còn tồn tại trong đời sống văn hoá tinh thần
của ngƣời Tày ở Việt Bắc nói chung và ở Thạch An - Cao Bằng nói riêng. Nó
trở thành một nhu cầu sinh hoạt văn hoá của đồng bào dân tộc vào dịp đám
cƣới. Hát Quan lang vẫn tiếp tục đƣợc các thế hệ ngƣời Tày ở nhiều địa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Phạm vi tƣ liệu nghiên cứu, khảo sát: Nguyễn Thiện Tứ, sƣu tầm,dịch
(2008), Thơ Quan Lang, Nxb Văn hóa dân tộc, H. và những lời hát Quan lang
đã sƣu tầm thêm đƣợc trong quá trình đi điền dã
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu chính là lời hát Quan lang ở Thạch An – Cao Bằng
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Trên bình diện phƣơng pháp luận là tiếp cận chủ yếu theo quan điểm
nghiên cứu ngữ văn (hay ngữ văn học), tức là dựa vào thành tố ngôn từ (lời
hát Quan lang) để phân tích.
- Tuy nhiên, hát Quan lang là một sinh văn hóa cộng đồng hiện vẫn còn
tồn tại trong đời sống văn hóa của ngƣời Tày ở Thạch An - Cao Bằng. Vì vậy,
việc nghiên cứu hát Quan lang là nghiên cứu một hiện tƣợng văn hóa dân gian
đang tồn tại và phát triển trong môi trƣờng văn hóa. Cho nên, nghiên cứu hát
Quan lang không phải chỉ là nghiên cứu văn bản đã đƣợc sƣu tầm mà còn
phải đặt văn bản trong môi trƣờng diễn xƣớng của nó. Thực hiện đề tài này,
chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp cụ thể:
+ Phƣơng pháp điều tra điền dã.
+ Phƣơng pháp khảo sát thống kê.
+ Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Hệ thống hóa những vấn đề đã đƣợc nhiều ngƣời nghiên cứu.
- Làm sâu sắc hơn một số vấn đề mà ngƣời nghiên cứu trƣớc mới bắt đầu
tìm hiểu.
- Góp phần tìm hiểu những truyền thống văn hóa tốt đẹp của ngƣời Tày
qua lời hát Quan lang ở Thạch An - Cao Bằng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
7. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm
thành ngƣời Tày .
- Nhánh ngƣời Kinh hoá Tày là con cháu các viên quan và binh lính
ngƣời kinh dƣới xuôi lên cai quản bảo vệ biên giới, họ lấy vợ ngƣời Tày, con
cháu họ lập nghiệp ở địa phƣơng lâu dần chuyển thành ngƣời Tày, Kinh dƣới
xuôi lên đồng hoá với ngƣời Tày nhiều nhất là khi nhà Mạc lên lập Vƣơng
triều ở Cao Bằng (1594-1677).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
1.1.2. Cộng đồng người Tày Thạch An - Cao Bằng
1.1.2.1. Điều kiện tự nhiên của huyện Thạch An
Huyện Thạch An nằm ở phía Đông nam tỉnh Cao Bằng cách trung tâm
thị xã Cao Bằng về hƣớng Nam theo đƣờng số 4, có toạ độ địa lý:
Từ 22
0
21’,22’’ đến 22
0
36’16’’ vĩ Bắc (Từ bản Nà Vài, xã Trọng Con đến
bản Pác Pẻn, xã Canh Tân).
Từ 106
0
05’40’’ đến 106
0
34’02’’ Kinh Đông (từ Nà Pùng, xã Quang
Trọng đến Bản Mới, xã Đức Long).
Phía Nam giáp huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn. Phía Bắc giáp huyện
Hoà An. Phía Tây giáp huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Cạn. Phía Đông giáp huyện
Long Châu tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc. Huyện Thạch An hiện nay đƣợc
chia thành 16 đơn vị hành chính cấp xã: Kim Đồng, Thái Cƣờng, Vân Trình,
Lê Lai, Thị Ngân, Thụy Hùng, Đức Long, Danh Sỹ, Thƣợng Pha, Đức Xuân,
theo mùa và mƣa nhiều dẫn đến tình trạng mƣa lớn gây ra quá trình rửa trôi
xói mòn đất và lũ lụt.
Về mùa đông, Thạch An cũng chịu ảnh hƣởng của gió mùa Đông Bắc,
các hiện tƣợng thời tiết nhƣ sƣơng muối, băng giá đều gây ảnh hƣởng xấu đến
sản xuất và đời sống con ngƣời, nhất là ở thời xa xƣa khi cuộc sống của cƣ
dân Tày còn lạc hậu, thiếu thốn.
Phải chăng hình thức hát Quan lang ra đời và tồn tại là để đáp ứng nhu
cầu thƣởng thức văn nghệ và gửi gắm những khát vọng tinh thần của họ.
1.1.2.2. Xã hội – Văn hoá
* Về xã hội:
Thạch An là huyện có nhiều dân tộc anh em đang định cƣ và sinh sống,
trong đó đông nhất là dân tộc Tày, Nùng, Dao, còn lại là các dân tộc anh em
khác. Dân tộc Tày sống thành từng làng, bản có từ 40 - 60 gia đình trở lên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
sống đoàn kết quy tụ với nhau. Nhiều gia đình rất đông, có tới 4 - 5 thế hệ,
song phổ biến là 2 - 3 thế hệ trong một mái nhà. Hầu hết các gia đình ngƣời
Tày đều đƣợc xây dựng theo thể chế và tục lệ hôn nhân một vợ một chồng,
mang tính phụ hệ. Trong gia đình, vai trò ngƣời đàn ông đƣợc khẳng định và
đƣợc tôn trọng hơn so với đàn bà. Hai chữ “Phua – Mìa” và “ Pỏ - Mẻ” (có
nghĩa là chồng vợ và cha mẹ) tồn tại nhiều đời nay trong kho từ vựng cơ bản
của ngƣời Tày, là dấu ấn rõ nét về hiện tƣợng trên trong các gia đình Tày.
Theo các nhà nghiên cứu “Đây không phải là trật tự hình thức của từ, mà ẩn
dấu bên trong một ý nghĩa xã hội âm vang một thời xác nhận vai trò ngƣời
chồng - ngƣời cha trong gia đình ngƣời Tày, ngƣời Nùng.” [44, tr. 2].
Tuy nhiên, nếu đi sâu tìm hiểu mối quan hệ gia đình của ngƣời Tày,
chúng ta không thể phủ nhận “ở đó bao trùm một tinh thần tƣơng thân tƣơng
ái, bình đẳng, dân chủ nội bộ khá sâu sắc giữa Chồng và Vợ, giữa Nam và
Nữ. Ngƣời Tày (...) trân trọng, yêu quý ngƣời đàn bà, ngƣời mẹ, ngƣời vợ và
lòng ngƣời. Hát Sli là hát đối đáp nên tham gia vào cuộc Sli bao gồm ít nhất 2
ngƣời hoặc đông ngƣời (2 đám ngƣời), thƣờng là một bên nam và một bên nữ.
Sli đƣợc ứng tác ngay tại chỗ nhƣng phải đảm bảo sự ăn khớp, cô đọng, hàm
súc. Ngƣời hát Sli vừa có thể sử dụng vốn hát truyền thống của dân tộc vừa có
thể tự ứng tác theo cách riêng của mình. Những bài ứng tác hay đƣợc giữ lại
làm phong phú thêm cho kho tàng hát Sli của dân tộc mình.
Điệu hát Lƣợn, theo tác giả Vi Hồng, Lƣợn là luận, là lặp lại, là luyến, là
ru… Ngƣời Tày dùng từ “lƣợn” để chỉ hầu hết nền dân ca của họ. Lƣợn
phong phú cả về nội dung và thể loại. Lƣợn có giai điệu vang xa tha thiết, lay
động lòng ngƣời, gợi cảm giác bâng khuâng thƣơng nhớ. Ngƣời Tày coi lƣợn
nhƣ một nhu cầu tinh thần không thể thiếu trong đời sống của họ.
“ Khắp các làng bản của ngƣời Tày, Nùng không mấy khi vắng tiếng hát,
tiếng Sli, tiếng Lƣợn. Chỉ trừ giấc ngủ và bữa ăn của họ, Sli, lƣợn vang lên từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
mọi nhà, khắp bản mƣờng, ngoài đồng, trên rẫy, ra chợ… Không chỉ có thanh
niên nam nữ mà ngƣời già, trẻ em đều Sli, Lƣợn, thích nghe Sli, Lƣợn.” [15]
Quả thực đã có một thời, tiếng Lƣợn ngập tràn làng bản, đồi núi và hoà vào
tận tâm hồn, huyết mạch đồng bào:
- Nửa đêm Nàng ới cháy lòng
Khiến em dừng đƣờng kim dừng vá
Khiến anh vở giữa trang ngừng đọc
- Tiếng Then thành tiếng then phơi phới
Tiếng Cọi thành tiếng cọi thiết tha
- Ra chợ đƣợc nghe tiếng Hà lều
Bát phở không cần mỡ cũng ngon
Phong Slƣ là những bức thƣ tình, một thể thơ hết sức đặc sắc của trai gái
Tày. Những bức thƣ này đƣợc viết bằng chữ Nôm Tày trên nền vải Sla đỏ.
Ngày xƣa con trai con gái Tày ít đƣợc học chữ, không biết chữ bởi thế thƣờng
áo dài năm thân bằng vải chàm hay vải lụa đen, gấu áo phủ quá đầu gối, áo
cài cúc bên ngực trái, loại áo dài này mang tính nghi lễ chỉ mặc trong dịp lễ
tết, hội hè... loại áo này có nguồn gốc từ các tộc ngƣời vùng Đông Á, quần
(khoá) khăn đội đầu (khân) đƣợc may bằng vải sợi bông hay sợi tơ tằm và tất cả
đều đƣợc nhuộm màu chàm.
Bộ nữ phục Tày gồm: áo cánh ngắn, áo dài, váy quần, thắt lƣng, khăn
đội đầu, giày vải, và các đồ trang sức khác nhƣ nón, ô, vòng cổ, vòng tay, dây
xà tích, túi thổ cẩm... về phƣơng diện loại hình, hai loại áo của nữ giới Tày là
áo cánh ngắn và áo dài 5 thân không khác gì mấy so với hai loại áo của nam
giới nhƣ đã trình bày áo ngắn may từ vải bông nhuộm chàm hay để trắng, xẻ
tà... áo dài dài của phụ nữ may vừa vặn cơ thể hơn: hơi nhấn thêm eo, ống tay
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
cũng nhỏ để sao cho tôn những đƣờng nét của cơ thể phụ nữ, cài khuy bên
nách phải nhƣ áo dài của ngƣời Kinh.
Màu sắc của áo dài Tày là màu vải chàm sậm đen ánh sắc hay màu tím,
hồng. Xƣa kia cũng nhƣ hiện nay, một số phụ nữ Tày dùng vải lụa hay nhƣng
đen để may áo dài, càng tôn thêm vẻ đẹp duyên dáng của phụ nữ.
Cùng màu sắc với xống áo là chiếc thắt lƣng: thắt lƣng không phải cắt
khâu từ bất cứ mảnh vải nào, mà đã đƣợc phụ nữ Tày dệt nguyên bằng sợi
bông hay bằng tơ tằm nhuộm chàm phụ nữ Tày thắt lƣng ra ngoài áo dài, để
xoã mối ra phía sau. [56, tr. 66-67]
Ngƣời Tày giao tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Tày – Thái.
Đây là nhóm ngôn ngữ rất gần với tiếng Việt về hệ thống ngữ pháp và thanh
âm. Tuy nhiên, chỉ những từ ngữ về thiên nhiên, về sự vật hiện tƣợng trong
sinh hoạt giao tiếp mới là của ngƣời Tày, số còn lại thƣờng vay mƣợn của
tiếng Việt, tiếng Hán hoặc từ Hán Việt.
Về chữ viết: Ngƣời Tày không có chữ viết riêng nên lịch sử thành văn
của dân tộc Tày rất ít ỏi và gần nhƣ không có. Có thể chia lịch sử chữ viết của
Thạch An nói riêng và ở Cao Bằng nói chung, đƣợc quần chúng nhân dân ƣu
thích, hát Quan lang khác với các loại hình dân ca khác nhƣ Phong Slƣ, Sli,
Lƣợn, Then... nó cũng có tính chất sinh hoạt văn nghệ quần chúng, nhƣng mặt
khác nó cũng là loại hình sinh hoạt theo phong tục nghi lễ cƣới xin của ngƣời
Tày. Cho đến nay nhiều ngƣời vẫn chƣa định nghĩa đƣợc rõ ràng về loại hình
nghệ thuật này. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhƣng tất cả các cách giải
thích đều đi đến khái niệm chung gần thống nhất về “Hát Quan lang” nhƣ sau:
Một là: Thơ Quan lang là loại thơ hôn lễ của dân tộc Tày. Theo nghĩa cổ
“Quan” là ngƣời con trai đã lớn tuổi mà chƣa có vợ “Lang” là con rể. Nhƣng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Quan lang ở đây lại chỉ nhiệm vụ dẫn chàng rể đi đón dâu, Quan lang thƣờng
chỉ ngƣời có trách nhiệm chính trong đoàn ngƣời đƣa chàng rể đến nhà gái.
Ngƣời này thƣờng đƣợc gọi là ông Quan Lang. Đi đến nhà gái, ông Quan lang
thƣờng phải ngâm các bài thơ làm mọi nghi thức của việc hôn nhân, nên các
bài thơ này đƣợc gọi là thơ Quan lang [37, tr. 76].
Hai là: Hát Quan lang là hát trong đám cƣới, cuộc vui của đám cƣới có
say sƣa, tƣng bừng hay không là nhờ ở tài thơ ca và giọng hát của ông Quan
lang. Có lẽ chính vì thế mà ngƣời ta thƣờng gọi dân ca này là hát Quan lang
và cũng có ngƣời gọi là “dân ca đám cƣới” hay “thơ lẩu” (thơ đám cƣới ),
“lƣợn lẩu” (lƣợn rƣợu, Lƣợn đám cƣới ). [14, tr. 203].
Ba là: Thơ vấn đáp hát khi cƣới còn gọi là thơ “Quan lang” “Pả Mẻ”
vì ngƣời diễn xƣớng chủ yếu là các vị đại diện cho hai đoàn nhà trai (rể)
nhà gái (dâu) hát khi đón dâu, đƣa dâu, đó là Quan lang (đàn ông) Pả mẻ
(đàn bà) [6, tr. 42].
Bốn là: Thơ Quan lang là loại thơ dân gian truyền miệng của đồng bào
Tày đƣợc thể hiện qua lối hát đối đáp trong khi xin dâu và đƣa dâu giữa hai
bên: Quan lang (đại diện nhà trai) và Pả mẻ slống lùa (đại diện nhà gái).
“Quan lang” là cách phát âm theo phƣơng ngữ Tày vùng Cao Bằng, còn nhiều
Hát Quan lang có cách gọi khác nhau nhƣng tựu chung đó là những bài
hát dành riêng cho đám cƣới, chỉ cất lên trong đám cƣới, chủ yếu là ngƣời
Quan lang (đại diện cho nhà trai) hát đối với ngƣời Pả mẻ (đại diện cho nhà
gái) nên ngƣời ta gọi là hát Quan lang. Đây là điểm khác với những bài ca
xuất hiện ở chợ phiên, trên những con đƣờng vào bản, nƣơng rẫy hoặc trong
lễ hội. Những bài hát Quan lang mang chức năng trao đổi tình cảm, lại diễn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
xƣớng theo nghi lễ truyền thống nên nó cũng không nằm ngoài nhu cầu về
tinh thần, trí tuệ, thẩm mỹ của ngƣời Tày. [21]
1.2.2. Nguồn gốc của hát Quan lang
Thơ Quan lang là một loại dân ca trữ tình của dân tộc Tày đƣợc lƣu
truyền lâu đời trong dân gian. Những bài thơ vấn đáp hát khi cƣới lƣu truyền
qua nhiều nơi, nhiều thế hệ đã dân gian hoá, đến nay cũng khó nhận bài nào
có tác giả, bài nào của dân gian lƣu truyền, bổ sung, sửa chữa...
Tƣơng truyền những bài thơ vấn đáp hát khi cƣới, đƣợc một thầy dạy học
giỏi tên là Lê Thế Khanh ghi chép lại bằng chữ Nôm biên soạn bổ sung truyền
cho các đời sau, đến ngày nay. Lê Thế Khanh ngƣời Tày ở Thạch Lâm - Cao
Bằng, khi còn trẻ đã từng về học ở Kinh đô Giao Châu (đất nƣớc ta lúc đó) là
Long Biên (nay thuộc Bắc Ninh). Ông mở trƣờng dạy chữ Hán ở nhiều nơi,
học trò đến học rất đông, có ảnh hƣởng lớn đến mở mang dân trí, nâng cao
đời sống văn hoá. Ông còn dạy cả lễ nghi ma chay, cƣới xin, dạy làm thơ bảy
chữ vốn có của dân tộc...
Trong cuốn “Thực lục Cao Bằng” Bế Văn Cung là Đốc trấn tỉnh Cao
Bằng năm 1978 cũng đã ghi tổng hợp đầy đủ về lời hát Quan lang .
Nhƣng hiện nay, chúng ta chƣa thể biết chính xác hát Quan lang xuất
hiện vào thời kỳ nào. Nhƣng qua nội dung và hình thức của các bài thơ, chúng
ta có thể phỏng đoán, thơ Quan lang bắt nguồn từ một loại dân ca trữ tình của
dân tộc Tày, và chỉ có thể xuất hiện vào thời kỳ chế độ kinh tế cá thể đã phát
đám cƣới nào không có thì thật “nhạt” và buồn. [2. tr. 7]
Có thể nói, hát Quan lang đã in sâu vào đời sống sinh hoạt của ngƣời
dân. Thơ Quan lang thuộc loại văn vần nên tất cả mọi ngƣời từ cụ già cho đến
em nhỏ đều có thể đọc thuộc lòng vanh vách.