Thơ chữ Hán Cao Bá Quát - những điểm mới về nội dung và nghệ thuật - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TÍNH

THƠ CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. LÃ NHÂM THÌN Hà Nội, 2014

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận án xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng mình. Những kết quả và số liệu
trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố
trên bất cứ tài liệu nào. Nếu sai, tác giả xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm. Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Tính


10
1.1.3.2. Nghiên cứu những điểm mới về nghệ thuật
14
1.2. Cơ sở lí thuyết của đề tài
17
1.2.1. Lí thuyết liên văn bản
17
1.2.2. Lí thuyết nghiên cứu văn học sử về tác giả
18
Chương 2: NHỮNG TIỀN ĐỀ TẠO NÊN ĐIỂM MỚI TRONG THƠ
CHỮ HÁN CAO BÁ QUÁT
22
2.1.Tiền đề lịch sử, xã hội nhà Nguyễn đầu thế kỷ XIX
22
2.1.1.Những yếu tố truyền thống đã tỏ ra lỗi thời
22
2.1.2. Tầng lớp thị dân và tư tưởng phi Nho giáo
24
2.1.3. Ảnh hưởng bước đầu của tư tưởng, văn hoá phương Tây
25
2.2. Tiền đề văn hóa, văn học
2.2.1. Tiền đề văn hoá
29
29
2.2.1.1. Văn hóa dân gian và trào lƣu tƣ tƣởng nhân văn chủ nghĩa
2.2.1.2. Hoạt động chấn hƣng văn hoá của nhóm sĩ phu Hà thành
đầu thế kỉ XIX
29
31


3.2.1.2. Sự quan tâm tới rủi may của cuộc đời và tƣ tƣởng,
nhân tính con ngƣời trong hoàn cảnh sống khắc nghiệt
52
3.2.2. Ảnh hưởng của nước ngoài trong cách nhìn về xã hội,
về thế giới được phản ánh trong sáng tác
58
3.2.2.1. Thể hiện nhận thức mới ở sự khác lạ về con ngƣời
59
3.2.2.2. Thể hiện nhận thức mới về sự giàu sang và sức mạnh
của văn minh phƣơng Tây
61
3.2.2.3. Thể hiện nhận thức mới về khả năng xâm lƣợc của
phƣơng Tây
64
3.3. Điểm mới về chữ “tình”
69
3.3.1. Quan niệm về chữ “tình”
70
3.3.2 Thế giới tình cảm của Cao Bá Quát trong các mối quan hệ của
cuộc sống đời thường
72
3.3.2.1. Tình cảm gia đình
72
3.3.2.2. Tình cảm bạn bè
79
3.3.2.3. Tình cảm trong các mối quan hệ xã hội khác
85 3.4. Điểm mới trong chủ đề người phụ nữ

4.2.1. Sự nhiệt thành thể hiện cái tôi của tác giả
122
4.2.1.1. Sử dụng đại từ nhân xƣng ngôi thứ nhất
122
4.2.1.2. Nghệ thuật tự dẫn, chú giải
126
4.2.1.3. Biểu hiện lí sự, nghị luận, phân tích của lí tính
132
4.2.2. Sự gia tăng tính trần thuật, miêu tả tường tận, chi tiết
135
4.2.2.1. Cách đặt nhan đề tƣờng minh
135
4.2.2.2. Cách chú trọng các chi tiết cụ thể
137
4.2.2.3. Cách liên tƣởng, so sánh
142
KẾT LUẬN
148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
151
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
152
165

1

chƣơng của ông thể hiện “một tâm hồn nhạy cảm, một năng lực sáng tạo to lớn, trƣớc
chiều sâu suy tƣởng và dự cảm xã hội có ý nghĩa thời đại, trƣớc diện đề tài phong phú và

2
những hình ảnh, tứ thơ thực sự sinh động, tân kì” [148,15]. Từ tƣ tƣởng quan điểm đề cao
mạnh mẽ vai trò sáng tạo của cá nhân, với tài năng của mình, Cao Bá Quát trở thành một
trong số rất ít cây bút trong văn học Việt Nam trung đại có phong cách sáng tác. Văn
chƣơng của ông có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại với những
đóng góp mang ý nghĩa đổi mới cả về nội dung và nghệ thuật. Đề tài làm sáng tỏ vị trí
của Cao Bá Quát - “nhân vật có tính chất tƣợng trƣng thực sự đứng giữa ngƣỡng cửa một
giai đoạn mới trong lịch sử Việt Nam”, “là ngƣời khởi xƣớng phong trào cải lƣơng vào
nửa sau thế kỉ XIX” (N.I.Nikulin). Mặt khác, đề tài góp phần làm sáng tỏ hơn đặc điểm
“ngã” và “phi ngã” trong văn học Việt Nam thời trung đại.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Thơ chữ Hán Cao Bá Quát -
những điểm mới về nội dung và nghệ thuật.
1.2. Về ý nghĩa thực tiễn
Tác phẩm của Cao Bá Quát đƣợc chú trọng giảng dạy rộng rãi từ hệ phổ thông, cao đẳng
đến đại học trong cả nƣớc. Nhiều tác phẩm đƣợc giảng dạy trong nhà trƣờng thể hiện
những đổi mới của Cao Bá Quát. Đề tài này góp phần phục vụ việc giảng dạy văn
chƣơng Cao Bá Quát nói riêng, văn học Việt Nam trung đại nói chung ở các cấp học hiệu
quả hơn.
Ngoài ra, luận án còn góp phần khẳng định tài năng của Cao Bá Quát một cách có
cơ sở, giúp cho việc nghiên cứu toàn diện về nhà thơ này có hệ thống hơn.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Đặt thơ chữ Hán Cao Bá Quát trong tiến trình của văn học dân tộc, so sánh thơ
ca của ông với thơ chữ Hán của các tác giả tiêu biểu trƣớc và cùng thời với ông, đề tài
nhằm tìm ra những điểm riêng, mang tính chất đổi mới của Cao Bá Quát.
- Từ đó, đề tài xác định, tìm hiểu những đóng góp của Cao Bá Quát đối với văn
học Việt Nam thời trung đại, thấy đƣợc vai trò dự báo cho sự phá cách của cả một thế hệ,
góp phần tạo nên đặc điểm giao thời của văn học trung đại với văn học hiện đại trong thế

các tác giả tiêu biểu trƣớc Cao Bá Quát (đặc biệt là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du) để thấy sự
kế thừa và đổi mới của Cao Bá Quát so với thi ca thời trƣớc ông.
Bên cạnh đó, chúng tôi kết hợp so sánh thơ chữ Hán Cao Bá Quát các tác giả cùng
thời với ông (nửa đầu thế kỉ XIX, trọng tâm là các tác giả Nguyễn Văn Siêu, Phan Thúc
Trực, Nguyễn Miên Thẩm) để tìm ra sự khác biệt, mới mẻ của Cao Bá Quát so với các
tác giả đƣơng thời.

4
Chúng tôi cũng đặt thơ chữ Hán Cao Bá Quát trong mối tƣơng quan với đặc điểm
thi pháp của văn học trung đại và văn học hiện đại Việt Nam để thấy đƣợc những đóng
góp của tác giả đối với văn học dân tộc, nhất là ở việc bƣớc đầu đặt nền móng cho sự
hiện đại hoá văn học dân tộc.
4.2. Phương pháp hệ thống
Phƣơng pháp hệ thống cung cấp cho ngƣời viết cái nhìn bao quát khi nghiên cứu
những điểm mới về nội dung, nghệ thuật thơ chữ Hán Cao Bá Quát, thấy đƣợc sự kế thừa
và sáng tạo của Cao Bá Quát.
Với phƣơng pháp hệ thống, chúng tôi sử dụng các thao tác khảo sát, thống kê,
phân loại…
4.3. Phương pháp lịch sử - cụ thể
Phƣơng pháp lịch sử nhằm nghiên cứu Cao Bá Quát trong mối quan hệ với hoàn
cảnh lịch sử cụ thể để làm cơ sở cho những phân tích, nhận định, đánh giá về tác giả.
4.4. Phương pháp tiếp cận liên ngành
Bằng phƣơng pháp tiếp cận liên ngành, chúng tôi vận dụng các thành tựu nghiên
cứu của các bộ môn khoa học xã hội nhƣ: văn bản học, sử học, văn hoá học, triết học,
lịch sử tƣ tƣởng, tâm lí học, xã hội học… nhằm nghiên cứu Cao Bá Quát trong mối quan
hệ với văn hoá, hoàn cảnh lịch sử cụ thể… để làm cơ sở cho những nhận định, đánh giá
mang ý nghĩa lí luận.
4.5. Phương pháp loại hình học tác giả
Với phƣơng pháp loại hình học tác giả, chúng tôi đặt Cao Bá Quát trong hệ thống
các nhà nho tài tử, các tác giả “chủ tình”, “quý chân”… trong văn học cuối thế kỉ XVIII

Chƣơng 2: Những tiền đề tạo nên điểm mới trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát
Chƣơng 3: Những điểm mới về nội dung
Chƣơng 4: Những điểm mới về nghệ thuật
Ngoài ra, luận án còn có phần Phụ lục - bao gồm các bảng thống kê tƣ liệu sử
dụng trong luận án.

6
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu, tìm hiểu về Cao Bá Quát đã đƣợc bắt đầu ngay từ trƣớc cách
mạng tháng Tám 1945. Khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi thấy những vấn đề
liên quan đến đề tài đã đƣợc đề cập trên các phƣơng diện sau:
1.1.1. Lịch sử văn bản thơ chữ Hán Cao Bá Quát
Lịch sử văn bản thơ chữ Hán Cao Bá Quát đã đƣợc nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc
Quận tìm tòi, xác định công phu, chi tiết trong các bài: Vài nhận xét về tập Thơ văn Cao
Bá Quát [128], Văn bản tác phẩm Cao Bá Quát [129], Vấn đề văn bản tác phẩm Cao Bá
Quát [131]. Trên cơ sở các công bố khoa học của nhà nghiên cứu, chúng tôi xin tóm lƣợc
nhƣ sau:
- Năm 1970, Công trình tập thể Thơ chữ Hán Cao Bá Quát do nhóm Vũ Khiêu
tuyển dịch và biên soạn có 161 bài tính theo lần in thứ nhất (1970). Bấy giờ, số bài thơ
chữ Hán đƣợc xác định của Cao Bá Quát là 1353 bài.
- Năm 1984, nhân lần in thứ 3, tập sách đổi tên thành Thơ văn Cao Bá Quát. Cuốn
sách này đăng 156 bài, rút bỏ 5 bài do nhóm biên soạn phát hiện các bài thơ ấy là của tác
giả khác. Tuy nhiên, cuốn sách “vẫn còn khoảng 5 bài nữa không phải của Cao Bá Quát”
[128,15].
- Theo kết luận của nhà nghiên cứu, số lƣợng thơ chữ Hán của Cao Bá Quát là
1335 bài. Tuy nhiên, tác giả cũng nói rõ, trong 1335 bài ấy, “có 8 bài không thấy chép
trong toàn bộ tƣ liệu thơ chữ Hán” mà tác giả thu thập đƣợc, “46 bài chỉ tìm thấy trong
bản D (Cao Bá Quát thi tập, ký hiệu A.210) là bản có nhiều ghi chép rối rắm”, “không

Thứ nhất là các ý kiến về quan niệm sáng tác của Cao Bá Quát.
Trƣớc hết là ý thức về vai trò của nghệ sĩ. Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Trần
Ngọc Vƣơng khẳng định: Trong lịch sử văn học Việt Nam, “chỉ đến thế kỉ XVIII mới có
hiện tƣợng có những nhà nho coi văn chƣơng (hiểu theo nghĩa sáng tác văn học) là sự
nghiệp chính của đời mình” và nhà nghiên cứu đã xếp Cao Bá Quát vào số 11 nhà thơ tài
tử tiêu biểu “đã lấy văn chƣơng, coi tài năng văn học là thƣớc đo quan trọng” [199,124].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Quận đánh giá: “Trong ý thức về ngƣời làm thơ, Cao Bá
Quát thuộc số rất hiếm tác gia văn học Việt Nam trung đại tự nhận mình là nhà thơ, tự
xác định tƣ cách nhà thơ của mình [130,131]. Điều này có ý nghĩa đặc biệt. Vì lẽ, “Khẳng

8
định và tự hào về tƣ cách của ngƣời làm thơ, của chính mình là biểu hiện của ý thức cá
tính, về vai trò của văn chƣơng” [130,132].
Về sự coi trọng “chân” và “tình” của thơ, các tác giả Nguyễn Lộc, Nguyễn Ngọc
Quận,… từ bài thơ Vị mính tiểu kệ đồng Phan Sinh dạ toạ (Bài tiểu kệ “Uống chè” làm
trong khi ngồi khuya với Phan Sinh) đã nhận ra sự liên hệ của Cao Bá Quát giữa việc
uống trà với làm thơ: Uống chè cốt nhất là giữ đƣợc chân vị chè, nghệ thuật làm thơ cũng
vậy, cái hay không phải ở sự diêm dúa, hào nhoáng. Các tác giả Nguyễn Lộc, Nguyễn Tài
Thƣ, Nguyễn Ngọc Quận, Phạm Quang Trung… cùng chú ý tới phát biểu của Cao Bá
Quát: “Bàn về thơ, tuy phải chú trọng về quy cách, song làm thơ thì phải gốc ở tính tình”.
Nguyễn Tài Thƣ viết: “Xem “tính tình” là gốc của thơ, Cao Bá Quát đã đề cập một vấn
đề cơ bản của sáng tác nghệ thuật, đó là sự rung cảm của nghệ sĩ; nghệ sĩ có rung cảm
thật sự thì tác phẩm mới có hồn, mới có khả năng truyền tải và có tính độc đáo”
[181,324]. Nguyễn Ngọc Quận khẳng định: “Ông đã hƣớng đến vấn đề nội dung và hình
thức của thơ ca”. “Xác định phải chú trọng về quy cách” là Cao Bá Quát muốn nói đến
những luật lệ thi pháp và câu chữ, vần điệu. Và xác định: “làm thơ phải gốc ở tính tình”
tức là xác định cái căn cốt nhất của thơ” [96,32], “Chú trọng đến cảm xúc riêng của chủ
thể sáng tạo, rõ ràng Cao Bá Quát đã nhấn mạnh đến cá tính, đến sắc thái riêng của chủ
thể trữ tình” [130,133]…
Về quan niệm văn chƣơng phải có sự sáng tạo của Cao Bá Quát, Nguyễn Tài Thƣ

ngƣời làm thơ phải từng trải”, “ngƣời làm thơ phải có kiến văn phong phú mà sự thực
học cần phải trải qua công tôi luyện, hiểu biết không thể lờ mờ, nửa vời” [130,137-138].
Tác giả Phạm Quang Trung nhận xét: Cao Bá Quát nói tới các điều kiện: “Một là, đi
nhiều, vết chân đã in khắp trên non sông muôn dặm. Cũng có nghĩa là trải đời nhiều
để kim cổ sự đa tu thức định (việc kim cổ có nhiều, cần phải nhận định vững chắc). Hai
là, đọc nhiều, trong bụng chứa đầy sách vở. Cũng có nghĩa là biết thâu thái, chắt lọc để
giúp cho sức nghĩ của bản thân: khán thư song nhãn vạn niên đăng (xem sách, đôi mắt
nhƣ ngọn đèn muôn năm - Bài Bệnh trung). Ba là, biết sáng tạo theo đặc trƣng của nghệ
thuật, lời nói bi tráng, văn viết thì trầm hùng, những cái đó khác nào như bụi bặm, cám
bã mà đã đem hun đúc thành gạch ngói. Và bốn là (điểm này thật là sáng suốt) rất cần sự
cảm thông, chia sẻ của ngƣời sáng tạo” [188,54-55]. Nhiều tác giả nữa cũng có chung sự
đánh giá trên.
Không chỉ quan tâm đến nội dung quan niệm sáng tác, các tác giả còn có ý kiến
đánh giá về quan niệm sáng tác của Cao Bá Quát trong tiến trình văn hoá dân tộc.
Nguyễn Tài Thƣ khẳng định: “Nhờ có tinh thần nhƣ thế, nên thơ ca ông từ trƣớc đến sau,
từ đầu đến cuối đều tỏ ra nhất quán, và hình thành một phong cách riêng biệt, gây chấn
động trong làng thơ đƣơng thời” [181;326]. Nguyễn Ngọc Quận đánh giá: “Đặt vấn đề

10
nhƣ vậy trong bối cảnh Cao Bá Quát đang sống, thời kì mà văn chƣơng hƣớng vào việc
ca ngợi thiết chế phong kiến, công đức của các bậc đế vƣơng, ca ngợi sự linh thiêng, thần
thánh, đất trời… thì mới thấy hết quan niệm của Cao Bá Quát” [119,32]…
Ngoài các nội dung chính trên, nhiều tác giả còn đề cập đến những ý kiến của Cao
Bá Quát về truyền thống và kế thừa, vai trò của văn chƣơng và việc sử dụng chữ Nôm
trong sáng tác…
Nhƣ vậy, việc bàn tới quan niệm sáng tác của Cao Bá Quát đã khá toàn diện. Các
tác giả cho thấy Cao Bá Quát có quan niệm khá hệ thống về văn học từ bản chất, đặc
trƣng, chức năng của văn chƣơng cho đến vai trò của ngƣời sáng tác. Nói chung, các nhà
nghiên cứu đều khẳng định quan niệm nghệ thuật của Cao Bá Quát là mới mẻ và ảnh
hƣởng rõ rệt đến sáng tác của ông.

cảm nhƣ thế nào” [11,70]. Nói chung, đây cũng là ý kiến đánh giá khá thống nhất của
nhiều tác giả khác (Lê Trí Viễn, Bùi Đức Tịnh, Vĩnh Sính, Trần Nho Thìn…).
Theo quan niệm của chúng tôi, nội dung trên trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát quả
là có mới so với văn chƣơng giai đoạn trƣớc, nhƣng với các tác giả cùng thời, sự phản
ánh hiện thực xã hội của Cao Bá Quát nằm trong quan niệm sáng tác chung của văn
chƣơng thời kì này.
Điểm khác lạ, mới mẻ của Cao Bá Quát so với các tác giả đƣơng thời chính là sự
nhìn nhận thế giới phƣơng Tây để rồi nhận thấy tình trạng lạc hậu của đất nƣớc mình.
Các tác giả Nguyễn Tài Thƣ, Vĩnh Sính, Claudine Salmon và Tạ Trọng Hiệp,
N.I.Nikulin, Trần Nho Thìn… bàn khá sâu sắc về thơ và tƣ tƣởng của Cao Bá Quát khi
ông đi “dƣơng trình hiệu lực”. Vĩnh Sính có bài “Thử tìm hiểu về chuyến đi công vụ ở Hạ
Châu của Cao Bá Quát”. Bài viết phân tích mục đích của chuyến đi và ấn tƣợng về văn
minh Tây phƣơng của Cao Bá Quát qua “Hồng mao thuyền hoả ca”, “Hình ảnh ngƣời
phụ nữ Tây phƣơng”, “Ý thức đồng văn đồng chủng đối với ngƣời Trung Quốc”. Từ đó,
tác giả kết luận: “qua những bài thơ Cao Bá Quát sáng tác trong thời kì xuất dƣơng và
sau khi về nƣớc, ta thấy tác giả không chỉ là một nhà thơ đa tài mà còn là một trí thức
mẫn cảm trƣớc thời cuộc” [144,198]. “Trên thực tế, Cao Bá Quát là một trong số ít ngƣời
Việt Nam đã cảm nhận rất sớm - ngay giữa thập niên 1840 - về mối hiểm hoạ Tây xâm và
chế độ khoa cử lỗi thời chỉ dựa trên từ chƣơng và hƣ văn. Những vấn đề này sẽ đƣợc tiếp
tục là đề tài nóng bỏng đối với đất nƣớc trong suốt hơn một thế kỉ sau đó”, “Trong mảng
thơ văn đi sứ hay đi công cán ở nƣớc ngoài của các sứ thần Việt Nam vào thế kỉ XIX, bài
thơ của Cao Bá Quát về ngƣời phụ nữ Tây phƣơng là một trƣờng hợp rất hiếm hoi và có
ý nghĩa bởi lẽ điều này nói lên cá tính phóng khoáng của Cao Bá Quát- không chịu bó
mình trong khuôn phép Nho giáo”, “Trong chữ Hán, danh từ “tiên giác” dùng để chỉ

12
ngƣời thấy sớm hơn những ngƣời cùng thời các sự kiện chƣa xảy ra. Tiên đoán về tiền đồ
u ám của đất nƣớc ngay vào giữa thế kỉ XIX, Cao Bá Quát đáng đƣợc xếp vào trong số
những nhà tiên tri tiên giác rất hiếm hoi ở Việt Nam vào thời điểm đó” [144,198].
Claudine Salmon và Tạ Trọng Hiệp có bài “Sứ thần Việt Nam Cao Bá Quát và

nhìn cuộc sống của thi sĩ họ Cao là cái nhìn xác thực, có dáng vẻ “khách quan”, lệnh sắc,
tinh tế của lí trí, có suy tƣ, phân tích”. “Và nếu nhƣ trong các tác gia thời trung đại có
một ai mà cách nhìn, cách quan sát thể hiện con ngƣời, cuộc sống đã có những nét gần
gũi với hiện đại thì phải kể đến Cao Bá Quát. Điều đó cũng góp phần làm nên sức sống
lâu bền của thơ ông.” [163;87].
Bên cạnh những nội dung trên, nhiều nhà nghiên cứu còn đề cập đến nội dung tình
cảm với thiên nhiên, với bạn bè, gia đình… của Cao Bá Quát. Các tác giả đều nhằm
hƣớng tới khẳng định: khác với các giai thoại đều có khuynh hƣớng chứng tỏ Cao Bá
Quát là ngƣời ngông nghênh, tự phụ, thực tế ông là ngƣời rất mềm yếu, ngập tràn tình
cảm. Cao Bá Quát kết giao nhiều, ông yêu thƣơng chân thành mẹ già, con nhỏ, vợ hiền.
Ông yêu thiên nhiên, “thƣờng thích cảnh rộng lớn”
Tuy nhiên, đề cập đến phƣơng diện tình cảm của Cao Bá Quát, các tác giả mới chỉ
dựng lên chân dung con ngƣời cá nhân Cao Bá Quát đằm thắm, chân thành, mà chƣa có
kết luận về sự mới lạ của Cao Bá Quát trong tiến trình văn học dân tộc.
Nói chung, qua thơ chữ Hán, Cao Bá Quát đƣợc tất cả các học giả đánh giá là một
trí thức mẫn cảm với thời cuộc. Điều này đã đƣợc tác giả Nguyễn Hữu Sơn khẳng định:
“Ông sống với lí tƣởng chung của Nho giáo nhƣng cá tính con ngƣời cá nhân trong ông
lại luôn luôn li tâm, luôn tỏ thái độ hoài nghi, luôn vƣợt lên bộc lộ xúc cảm riêng tƣ, luôn
phá cách để tự khẳng định mình. Cũng có thể coi ông là đứa con ngỗ nghịch của chế độ
phong kiến đƣơng thời” [145,484], “Cao Bá Quát đã trở thành một hiện tƣợng lịch sử,
hiện thân cho sự dự cảm yêu cầu một cuộc canh tân và là mầm triệu báo hiệu cho sự ra
đời những tiếng nói canh tân quyết liệt của một thế hệ nối tiếp ngay sau đó” [145,494].
1.1.3.2. Nghiên cứu những điểm mới về nghệ thuật
Vấn đề nghệ thuật thơ chữ Hán Cao Bá Quát cũng đƣợc nhiều tác giả quan tâm.
Các tác giả đã chỉ ra đặc điểm cơ bản của phong cách thơ chữ Hán Cao Bá Quát: hào
sảng, lãng mạn, vƣợt ra ngoài quy tắc luật lệ nghiêm ngặt của lối văn thơ trƣờng ốc. Tác
giả Nguyễn Tài Thƣ nhận định: “Thơ ca Cao Bá Quát đã hình thành một phong cách mới
mẻ ít thấy trong lịch sử cũng nhƣ đƣơng thời” [181,331]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc
viết: Cao Bá Quát “chịu ảnh hƣởng sâu sắc phong cách Lí Bạch” [77,387]… Ông Ngô
Văn Phú đánh giá: “thơ Cao Bá Quát thoát ra hùng khí”, “thơ Cao là của Cao mà trong

thấm đƣợm” [181,348].
Đáng kể nhất là sự phát hiện về bút pháp tự sự khi viết về hiện thực của Cao Bá
Quát. Nguyễn Lộc viết: “Trong các bài miêu tả những cảnh khổ của con ngƣời, hay
những bài viết về quê hƣơng Phú Thị của ông, ngòi bút của Cao Bá Quát lại có tính chất

15
hiện thực. Ở đây, nhà thơ không sử dụng lối hƣ cấu có tính chất phóng đại, không dùng
những ẩn dụ, hoán dụ, mà sử dụng nhiều chi tiết chân thực, gợi cảm. Trong những bài
viết về con ngƣời đau khổ, để đảm bảo tính chất khách quan trong việc thể hiện, Cao Bá
Quát thƣờng cho nhân vật tự nói lên cảnh ngộ của họ” [77,388]. Nguyễn Huệ Chi từ việc
phân tích chủ đề những con ngƣời khốn khổ trong thơ Cao Bá Quát cũng đã khẳng định:
“Thơ ông có những cách tân táo bạo, không còn là loại thơ “kỉ sự” của thế kỉ XVIII mà
đã chuyển sang một giai đoạn mới, kết hợp tự sự với đối thoại cho nên lời thơ hàm súc,
đa nghĩa và mạch thơ hƣớng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng” [14, 457]. Tác
giả Nguyễn Ngọc Quận nhận định: “Điểm độc đáo của Cao Bá Quát là ông thƣờng xuất
hiện trong thơ với tƣ cách là ngƣời trần thuật, và điểm nhìn trần thuật của ông cũng
thƣờng dịch chuyển linh động”, “chất tự sự trong thơ Cao Bá Quát nhƣ một dấu hiệu sự
cách tân trong thơ, tạo điều kiện cho thơ hƣớng đến những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu
rộng, là điều nhận thấy đƣợc”, “chất tự sự nhƣ là một trong những dấu hiệu khá đặc trƣng
trong thơ Cao Bá Quát góp phần làm rõ hơn cá tính sáng tạo của nhà thơ” [130,171]…
Cùng với yếu tố tự sự này, bút pháp cụ thể hoá cũng đã đƣợc tác giả Thuần Phong
phát hiện: “Một ngón văn đặc biệt của Cao Bá Quát là phép cụ thể hoá, làm cho câu văn
linh hoạt phi thƣờng” [112,327], Nguyễn Lộc nhận thấy: “Trong những bài viết về quê
hƣơng, nhà thơ trực tiếp miêu tả, thì ông cũng miêu tả một cách tỉ mỉ, chi tiết [77,390].
Từ tự sự, dùng lối cụ thể, tác giả Vũ Khiêu khái quát: “Thơ Cao Bá Quát dù tả
cảnh hay tả tình đều có những xúc động chân thành, nhiều lúc có những nét rất sinh động
và cụ thể của chủ nghĩa hiện thực” [57,35].
Một phƣơng diện nữa trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát là sự kết hợp tả thực và
lãng mạn. Nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Thƣ kết luận: “Cảnh đối với Cao Bá Quát là hiện
thực khách quan với tính chất xác định và thuộc tính thẩm mĩ của nó, là đối tƣợng cảm

ám ảnh khắc khoải về sự phi lí và kết luận: “Sự bế tắc của đƣờng thế lộ gian nan, sự vô
vọng của công việc tiến lên rồi lại lùi lại trên con đƣờng cát rõ ràng là cách thể hiện nhận
thức về sự tồn tại đầy phi lí của con ngƣời cá nhân trong cái xã hội triều Nguyễn vốn
cũng đầy rẫy những điều phi lí” [9,175].
Từ những quan niệm và phong cách trên, các nhà nghiên cứu cũng khẳng định, vì
thế mà Cao Bá Quát cũng có sự lựa chọn thể thơ thích hợp. Tác giả Nguyễn Lộc nhận
định: “So với các nhà thơ khác, Cao Bá Quát là ngƣời sử dụng khá nhiều loại thơ cổ thể
trƣờng thiên. Đối với ông, thể tài này tƣơng đối tự do và có dung lƣợng lớn, thích hợp với
những tứ thơ hào mại, sảng khoái. Nhƣng nhà thơ cũng sử dụng nhiều thể thơ Đƣờng
luật. Trong trƣờng hợp này ta thấy nhiều khi một đề tài ông phải làm đến năm ba bài thơ
Đƣờng luật. Đó cũng là một biểu hiện nữa về sự phong phú, dồi dào trong cảm xúc của
nhà thơ” [77,383]…

17
Nói chung, các tác giả đã nhận thấy Cao Bá Quát có những điểm mới táo bạo về
nghệ thuật: có bút pháp kì vĩ khác thƣờng, có chất tự sự, suy tƣởng
1.2. Cơ sở lí thuyết của đề tài
1.2.1. Lí thuyết liên văn bản
Lí thuyết liên văn bản đƣợc gợi ý từ chủ nghĩa đối thoại của nhà lí luận văn học
Nga M. Bakhtin, và đƣợc phát triển bởi nhiều ngƣời: Kristeva, Bloom, Miller, Genette,
Riffater… Từ khi ra đời, lí thuyết liên văn bản đã làm thay đổi hệ hình nghiên cứu văn
học, làm nảy sinh những cách tiếp cận văn học mới. Trong luận án này, chúng tôi lấy
quan niệm về đối thoại của lí thuyết này làm cơ sở lí thuyết của đề tài.
Về đặc tính đối thoại của văn bản, các nhà tƣ tƣởng của lí thuyết liên văn bản quan
niệm: Từ trong bản chất, lời nói mang tính đối thoại, giao tiếp đối thoại chính là môi
trƣờng đích thực của đời sống ngôn ngữ. Từ những phát ngôn đơn giản của đời sống cho
đến những tác phẩm thông thái của khoa học hoặc nghệ thuật của văn học, không phát
ngôn nào tồn tại một mình, cô lập mà dƣờng nhƣ luôn có mối quan hệ giữa văn cảnh của
mình với văn cảnh ngƣời. Do đó, với tƣ cách là một kiểu lời nói, tác phẩm văn học tất
yếu có quan hệ đối thoại với những tác phẩm khác ra đời trƣớc đó và trong tƣơng lai, nó

đóng góp gì mới về tƣ tƣởng nghệ thuật” [38,11]. Nghiên cứu văn học sử có nhiệm vụ
nghiên cứu quy luật sinh thành và phát triển của các hiện tƣợng và quá trình văn học diễn
ra trong những điều kiện xã hội - lịch sử nhất định trên nhiều phƣơng diện: tác phẩm, tác
giả, thể loại, trào lƣu, giai đoạn, tiến trình văn học… Luận án này chủ yếu vận dụng lí
thuyết nghiên cứu văn học sử về tác giả.
Là ngƣời sáng tạo ra các giá trị văn học mới trong sự kết hợp với sự sáng tạo độc
đáo của cá nhân, tác giả văn học là một đơn vị, một điểm nhìn, một bộ phận hợp thành
quá trình văn học, là một gƣơng mặt không thể thay thế tạo nên diện mạo chung của một
thời kỳ hoặc một thời đại văn học. Về tác giả Cao Bá Quát, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu
trên những bình diện sau:
1.2.2.1. Nghiên cứu tác giả Cao Bá Quát trong mối tương quan với thời đại, gia
đình, cuộc đời - con người tác giả.
Thời đại bao gồm các yếu tố về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa tƣ tƣởng. Các
đặc điểm tình hình lịch sử, xã hội nhà Nguyễn đầu thế kỷ XIX trong bối cảnh khu vực
và thế giới cho thấy sự tác động nhiều mặt của hoàn cảnh, môi trƣờng đến tƣ tƣởng, tâm
hồn Cao Bá Quát tạo tiền đề cho sự đổi mới thơ ca của ông. Những phƣơng diện về văn
hoá văn học chứng tỏ những thành tựu mà Cao Bá Quát có đƣợc một phần là nhờ tiếp
nối đƣợc sự vận động của văn hoá, văn học và không khí chấn hƣng văn hoá Bắc Hà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status