Tư tưởng hồ chí minh về phòng, chống lãng phí và vận dụng ở việt nam hiện nay - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THANH LƢƠNG

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ PHÒNG, CHỐNG LÃNG PHÍ
VÀ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THANH LƢƠNG

TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ PHÒNG, CHỐNG LÃNG PHÍ
VÀ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH HỒ CHÍ MINH HỌC
Mã số: 60 31 02 04

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS. LẠI QUỐC KHÁNH


1.1.1. Quan niệm về lãng phí ............................................................................ 9
1.1.2. Nội dung lãng phí .................................................................................. 14
1.1.3. Nguyên nhân và tác hại của lãng phí.................................................... 19
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về phòng, chố ng lañ g phí ......................... 27
1.2.1. Vai trò của viê ̣c phòng, chống lãng phí ................................................ 27
1.2.2. Lực lượng tham gia phòng, chống lãng phí .......................................... 32
1.2.3. Phương hướng và giải pháp phòng, chống lãng phí ............................ 35
TIỂU KẾT CHƢƠNG I ................................................................................ 54
Chƣơng 2 VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ PHÒNG ,

CHỐNG LÃNG PHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ...................................... 55
2.1. Thực trạng phòng, chố ng lañ g phí ở Việt Nam hiện nay......................... 55
2.1.1. Thực trạng ............................................................................................. 55
2.1.2. Nguyên nhân và vấn đề đặt ra .............................................................. 71


2.2. Giải pháp phòng, chố ng lañ g phí ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay theo tƣ tƣ ởng Hồ
Chí Minh ......................................................................................................... 78
2.2.1. Các giải pháp cơ bản ............................................................................ 78
2.2.2. Các giải pháp cụ thể ............................................................................. 93
TIỂU KẾT CHƢƠNG II .................................................................................. 99
KẾT LUẬN .................................................................................................. 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 102


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề lañ g phí và phòng , chố ng lañ g phí là vấ n đề lớn , hê ̣ tro ̣ng hiê ̣n nay .


1


với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong dƣ luận, ảnh hƣởng
đến niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nƣớc” [30, tr.185]. Vì vậy, việc tiếp tục
nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí, tổng kết thực tiễn để
đƣa ra giải pháp phù hợp là nhiệm vụ có ý nghĩa rất quan trọng.
Hiện nay, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
phòng, chống lãng phí và vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí
vào thực tiễn sự nghiệp đổi mới, nhƣng do tính thời sự, tầm quan trọng của vấn đề,
nhất là yêu cầu cấp bách của thực tiễn đặt ra, nên tác giả quyết định tiếp tục lựa
chọn và đi sâu nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
phòng, chống lãng phí và vận dụng ở Việt Nam hiện nay”, với mong muốn góp
thêm ý kiến từ góc tiếp cận Hồ Chí Minh học nhằm giải quyết vấn đề lý luận và
thực tiễn cấp bách này.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đề tài về phòng, chống lãng phí nói chung và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
phòng, chống lãng phí nói riêng đã đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu dƣới nhiều
cách tiếp cận khác nhau, có thể phân loại nhƣ sau:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng,
chống lãng phí, bao gồm:
Một là, các công trình nghiên cứu về các nội dung khác nhau trong hệ thống tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh, trong đó ít nhiều có đề cập đến tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phòng,
chống lãng phí. Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu nhƣ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh,
ngƣời chiến sĩ cộng sản kiên cƣờng” của Đại tƣớng Võ Nguyên Giáp, “Hồ Chí Minh
chân dung một tâm hồn và trí tuệ Việt Nam” của tác giả Trần Văn Giàu, “Hồ Chí Minh –
Nhà tƣ tƣởng lỗi lạc” của tác giả Song Thành, “Hồ Chí Minh ngôi sao sáng mãi trên bầu
trời Việt Nam” của tác giả Vũ Khiêu, “Phƣơng pháp và phong cách Hồ Chí Minh” của

thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đƣợc tác giả tiếp cận dựa trên tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh, tác giả khẳng định: “Tiết kiệm là dành dụm, không hoang phí. Chủ tịch Hồ
Chí Minh cho rằng: Tiết kiệm vốn là để giúp vào gia tăng sản xuất. Nói theo lối
khoa học thì tiết kiệm là tích cực chứ không phải là tiêu cực. Lãng phí là tiêu phí vô
ích. Nhƣ vậy, tiết kiệm là sử dụng hợp lý trong tổ chức cuộc sống, tổ chức công
việc còn lãng phí thể hiện sự bất hợp lý trong những hoạt động ấy” [80, tr.37].

3


Gắn với Nghị quyết Trung ƣơng 5 (khóa XI) tác giả Trần Mai Ƣớc có bài
nghiên cứu “Từ tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng chống tham nhũng đến
cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Trung
ƣơng 5 (khóa XI)”. Công trình đi sâu vào phần tích nội dung của tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về chống tham nhũng theo hai nội dung cơ bản: Thứ nhất, muốn thức tỉnh
quần chúng nhân dân, tiến hành vận động cách mạng cần tập trung vào đấu tranh, tố
cáo tham nhũng. Thứ hai, tích cực phát huy dân chủ trong đấu tranh phòng chống
tham ô, tham nhũng – nét đặc sắc trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Từ tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về phòng, chống tham nhũng, tác giả đƣa ra suy nghĩ đến cuộc đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Trung ƣơng 5 khóa
XI từ đó đƣa ra giải pháp cần tập trung giải quyết.
Đề cập đến Đảng với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí, tác
giả Cao Văn Thông trong công trình “Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 4
khóa XI về chống tham nhũng, lãng phí theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh” khẳng định:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu là những “thứ
giặc nội xâm” bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân mà ra. Vì vậy, muốn cho Đảng trong
sạch, vững mạnh, Ngƣời yêu cầu phải “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ
nghĩa cá nhân”. Công trình đề cập đến hai nội dung chính: phòng, chống “giặc nội
xâm” theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chống
tham nhũng, lãng phí để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 4

nhũng, lãng phí chƣa đƣợc đẩy lùi, đang tác động làm xói mòn lòng tin của cán bộ,
nhân dân, ảnh hƣởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nƣớc, đe dọa sự tồn vong
của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống
tham nhũng, lãng phí đặt ra cho lực lƣợng Công an nhân dân rất nặng nề. Từ đó, tác
giả đƣa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, lãng phí đáp ứng với kỳ vọng của Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân. Trong đó có
giải pháp cơ bản: trong chỉ đạo cũng nhƣ tổ chức thực hiện công tác phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, công an các đơn vị, địa phƣơng đều phải quán triệt tinh thần
lấy kết quả của việc học tập, làm theo tấm gƣơng đạo đức Hồ Chí Minh và thực
hiện 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân.

5


Gắn liền lý luận với thực tiễn, tác giả Trƣơng Giang Long cho ra đời công
trình “Quán triệt sâu rộng kết luận của Hội nghị Trung ƣơng 5 (khóa XI) đẩy mạnh
cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí” [45]. Tác giả đã đƣa ra thực chất
nguyên nhân tệ tham nhũng, lãng phí hiện nay: thứ nhất, có một bộ phận cán bộ,
đảng viên hƣ hỏng, thoái hóa biến chất trƣớc áp lực và mặt trái của cơ chế thị
trƣờng. Thứ hai, cốt lõi của vấn đề tham nhũng, lãng phí vẫn là sự bất cập của cơ
chế, chính sách.Thứ ba, sự yếu kém và thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật.Thứ tƣ,
vai trò của các đoàn thể quần chúng chƣa đƣợc phát huy đúng mức. Từ đó, tác giả
gắn công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí với Kết luận số 21-KL/TW của Hội
nghị Trung ƣơng 5 (khóa XI) nhằm tăng cƣờng hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng về
công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Công trình “Tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn 30 năm đổi mới
(1986 – 2016) về tƣ pháp – nội chính phòng, chống tham nhũng, lãng phí” [8], Ban
Nội chính Trung ƣơng đã đề cập đến sự phát triển nhận thức của Đảng về phòng,
chống tham nhũng, lãng phí. Từ đó, đƣa ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân
và bài học kinh nghiệm; một số kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả công tác

chống lãng phí ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiê ̣m vụ
+ Nghiên cƣ́u, làm rõ nội dung cơ bản c ủa tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về lãng phí
và phòng, chố ng lañ g phí.
+ Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí để phân tích, đánh
giá thƣ̣c tra ̣ng, xác định nhƣ̃ng vấn đề đă ̣t ra trong phòng, chố ng lañ g phí ở Viê ̣t Nam
hiê ̣n nay.
+ Đề xuấ t m ột số giải pháp nh ằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong
phòng, chố ng lañ g phí ở Việt Nam hiện nay theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phòng, chố ng lañ g phí và v ận dụng ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tôi xác định phạm vi nghiên cứu là tập
trung hệ thống hóa, khái quát hóa tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí
trên cơ sở các quan điểm, luận điểm về phòng, chống lãng phí đƣợc Hồ Chí Minh
phát biểu trong các bài nói, bài viết của Ngƣời cũng nhƣ sự thể hiện tƣ tƣởng đó

7


trong thực tiễn Ngƣời tiến hành phòng, chống lãng phí. Đối với vấn đề vận dụng tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh, tôi cũng giới hạn phạm vi ở sự vận dụng của bản thân đối với
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh để phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp
nhằm giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong phòng, chống lãng phí ở Việt Nam
hiện nay.
5. Cơ sở lý luâ ̣n, thƣc̣ tiễn và phƣơng pháp nghiên cƣ́u
5.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn
+ Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác

1.1.1. Quan niệm về lãng phí
Hồ Chí Minh không đƣa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về lãng phí, nhƣng
Ngƣời tiếp cận vấn đề này một cách khá toàn diện, và qua đó, ta cũng có thể thấy
đƣợc quan niệm của Ngƣời về lãng phí.
Thứ nhất, Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề lãng phí từ hiện thực cuộc sống,
những biểu hiện trong xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, lãng phí là hiện tƣợng đang tồn tại khá phổ biến trong xã
hội. Sở dĩ là hiện tƣợng phổ biến vì mọi ngƣời đều có thể gây lãng phí ít hay nhiều,
trực tiếp hay gián tiếp. Nếu nhƣ tham ô gắn chặt với sự tồn tại và phát triển của bộ
máy nhà nƣớc và quyền lực công, thì lãng phí lại hoàn toàn có thể xảy ra ngoài Nhà
nƣớc, tách khỏi bộ máy quản lý, cai trị, khỏi cơ quan quyền lực. Chính vì lẽ đó,
phạm vi gây ra lãng phí rộng lớn, không phân biệt chủ thể gây ra hành vi, trình độ
chính trị, không kể quốc gia đó giàu hay nghèo, đang ở trình độ phát triển kinh tế
nhƣ thế nào; xảy ra ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó tồn tại và phát triển
thƣờng xuyên hàng ngày hàng giờ và đụng chạm đến lợi ích của hầu hết dân cƣ. Hồ
Chí Minh chỉ rõ “Không phải là không nắm tiền, nắm quyền trong tay thì không là
phí, là lạm. Nhƣng có tiền trong tay thì trực tiếp lãng phí và dễ thấy” [56, tr.7].
Có nhiều dạng lãng phí khác nhau nhƣng xét về mặt lợi ích, hành vi gây ra
lãng phí có hai dạng cơ bản đó là lãng phí tổn hại đến lợi ích riêng của cá nhân và
lãng phí tổn hại đến lợi ích chung của tập thể, cộng đồng. Trong tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh, Ngƣời đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh đến dạng lãng phí gây tổn hại đến lợi
ích chung, coi đó là căn bệnh nguy hiểm, gây ra hậu quả hết sức tai hại về mặt kinh
tế, chính trị, văn hóa xã hội, cản trở sự phát triển đi lên của xã hội.
Trong nhiều bài nói chuyện, bài báo, bài viết Hồ Chí Minh đã đề cập cụ thể
đến những hành vi lãng phí: Chẳng hạn nhƣ ngƣời nấu ăn cho tập thể, chức và

9


quyền chỉ là nấu ăn, nhƣng có thể lãng phí. Không khéo bố trí, xếp đặt nấu nƣớng là



dân, cho nƣớc. Ngƣời tiết kiệm trong ăn, ở, mặc, chi tiêu hằng ngày. Ngƣời vẫn
thƣờng xuyên có sổ tiết kiệm từ dành dụm tiền lƣơng, tiền nhuận bút để mua quà
tặng mọi ngƣời, nhất là quà cho các cháu thiếu niên, nhi đồng, các cụ già, những
ngƣời đau yếu, bệnh tật. Hồ Chí Minh thƣờng viết trên những tờ giấy viết hoặc in
một mặt, còn một mặt trắng. Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân tháng 12-1944 đƣợc Hồ Chí Minh viết trên vỏ bao thuốc lá. Đó là một
chỉ thị cực kì quan trọng, và đúng nhƣ dự đoán của Ngƣời trong những lời viết ở vỏ
bao thuốc lá đó: Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhƣng tiền đồ của nó rất vẻ
vang. Nó là khởi điểm cho giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp
đất nƣớc Việt Nam. Những trang viết Tài liệu Tuyệt đối bí mật (sau này gọi là bản
Di chúc) bắt đầu từ năm 1965 của Hồ Chí Minh nhiều tờ đƣợc viết trên mặt giấy
của bản tin Thông tấn xã Việt Nam. Hồ Chí Minh ăn cơm không để rơi một hạt,
thức ăn vừa đủ là do ý thức tiết kiệm và sự tôn trọng lao động của nhân dân. Ngƣời
kêu gọi mọi ngƣời tiết kiệm từng đồ vật, từng mảnh giấy ở công sở và Ngƣời luôn
gƣơng mẫu thực hành. Ngƣời thƣờng chơi chữ rằng, đừng biến tiết kiệm thành tiết
canh. Tiết kiệm, theo Hồ Chí Minh, còn là tiết kiệm cả thời gian, là tăng năng suất
lao động chứ không phải bớt xén thời gian làm việc Hồ Chí Minh đã thực hiện tinh
thần tiết kiệm một cách nghiêm khắc nhất nhƣng đây không phải là chủ nghĩa khổ hạnh
tôn giáo, mà là nguyên tắc khoa học và chuẩn mực giá trị đạo đức, xuất phát từ cái tâm
của một con ngƣời “ăn không ngon, ngủ không yên khi đồng bào còn chịu khổ”.
Tiết kiệm trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh hoàn toàn trái ngƣợc với sự hà tiện,
keo kiệt, bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng cũng không nên tiêu. Khi có
việc đáng làm, việc có lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn
bao nhiêu của, cũng phải lo cho đƣợc. Nhƣ thế mới đúng là kiệm. Việc đáng tiêu
không tiêu là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.
Nhƣ vậy, thực hành tiết kiệm tức là phòng, chống lãng phí. Đây là mối quan
hệ biện chứng và xuyên suốt trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí.


thể thiếu trong xã hội mới. Kiệm là tôn trọng sức lao động, mồ hôi và nƣớc mắt của
nhân dân. Vì lẽ đó, lãng phí là trái ngƣợc với tiết kiệm, là trái với đạo đức. Muốn

12


xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, mọi ngƣời cần có tinh thần làm chủ tốt, phải
đề cao tinh thần trách nhiệm. Lãng phí là chƣa có tinh thần trách nhiệm, không quý
trọng sức lao động, thời gian, của cải của chính mình và của xã hội.
Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ
vang, nhƣng nó là một nhiệm vụ rất nặng nề. Sức có mạnh mới gánh đƣợc nặng và
đi đƣợc xa. Ngƣời cách mạng phải có đạo đức làm nền tảng mới hoàn thành đƣợc
nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Đạo đức cách mạng ấy là Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi
đua ái quốc. Lãng phí là không có đạo đức cách mạng.
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phƣơng: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Ngƣời có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa, thì không thành trời.
Thiếu một phƣơng, thì không thành đất.
Thiếu một đức, thì không thành ngƣời” [54, tr.117].
Theo Hồ Chí Minh, trong xã hội có trăm công nghìn việc, nhƣng khái quát
lại, những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc Chính và việc Tà. Làm việc
Chính là ngƣời Thiện. Làm việc Tà là ngƣời Ác. Siêng năng, tằn tiện, trong sạch,
tiết kiệm là Chính, là Thiện. Lƣời biếng, xa xỉ, lãng phí, tham lam là Tà, là Ác.
Cũng nhƣ chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần, chữ Liêm luôn phải đi đôi với
chữ Kiệm. Có Kiệm mới có Liêm, một ngƣời xa xỉ, lãng phí thì không bao giờ Liêm
đƣợc. Bởi vậy, muốn chống lãng phí phải kiên quyết chống xa xỉ: Việc đáng làm
trong một giờ mà kéo dài 2, 3 giờ là xa xỉ. Hao phí vật liệu là xa xỉ. Ăn mặc đẹp
trong lúc đồng bào đang thiếu cơm, thiếu áo là xa xỉ. Ăn không ngồi rồi trong lúc

là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai. Nhƣng để chữ Cần mang lại hiệu quả phải
có kế hoạch cho mọi công việc. Nghĩa là phải tính toán cẩn thận và sắp đặt gọn
gàng. Chữ Cần phải đƣợc qua giáo dục và rèn luyện, có tính toán cẩn trọng. Điều đó
làm nên sự khác biệt của con ong xây tổ với nhà kiến trúc sƣ. Mạnh Tử có câu:
Ngƣời thợ muốn khéo, thì phải sắp sẵn công việc của mình. Có siêng năng, chăm
chỉ nhƣng không khoa học, không có quản lý, sắp xếp “lãng phí sức lao động: Vì
kém tinh thần phụ trách, vì tổ chức sắp xếp vụng, việc gì ít ngƣời cũng làm đƣợc mà

14


vẫn dùng nhiều ngƣời” [55, tr.356] sẽ dẫn đến mất nhiều công sức nhƣng hiệu quả
không cao, thậm chí hỏng việc.
Lãng phí sức lao động còn xảy ra phổ biến khi chữ “Cần” có kế hoạch nhƣng
không đi đôi với chữ “Chuyên”. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không
chuyên, nếu một ngày Cần mà mƣời ngày không Cần thì cũng vô ích. Nhƣ thế
chẳng khác nào một tấm vải phơi một hôm mà ngâm nƣớc mƣời hôm, ƣớt vẫn hoàn
ƣớt. Vậy là công sức phơi của một ngày phơi đó cũng bị bỏ xuống sông, xuống bể.
Siêng năng, kế hoạch lại phải đi liền với phân công. Phân công nhằm vào hai
điều: thứ nhất là phân công công việc: việc gì gấp làm trƣớc, việc gì hoãn làm sau,
phân công công việc cho phù hợp với hoàn cảnh. Trong xã hội, việc phân bổ công
việc không hợp lý cũng là một dạng lãng phí sức lao động. Hồ Chí Minh nhận thấy
rằng, định kiến xã hội cũ trƣớc giờ chỉ nói đến có lao động thì có ăn, không lao
động thì không có ăn chứ không nhận thấy rằng lao động là vẻ vang; tâm lý “Vạn
ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thƣ cao”, nghĩa là trong xã hội chỉ có ngƣời đọc
sách, tức ngƣời trí thức là cao hơn hết thảy, dẫn đến việc coi trọng lao động trí óc,
cố gắng phấn đấu để ra nhập đội ngũ lao động trí óc. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn
đến việc dƣ thừa lao động gián tiếp, trong khi đó theo Hồ Chí Minh, muốn Nhà
nƣớc giàu mạnh, nhân dân no ấm, phải luôn luôn cố gắng sắp xếp để có thật nhiều
ngƣời trực tiếp sản xuất. Còn số ngƣời không trực tiếp sản xuất thì càng ít càng tốt,

- Mậu dịch không khéo tính toán sắp xếp, để hàng hóa hao hụt, lỗ vốn. Ngân
hàng không khéo sử dụng tiền bạc, để tiền bạc ứ đọng lại, không bổ ích cho việc
tăng gia sản xuất.
- Cơ quan kinh tế làm kế hoạch không thiết thực, không sát với hoàn cảnh,
để Chính phủ phải lỗ vốn.
- Bộ đội không biết quý trọng giữ gìn quân trang, quân dụng và chiến lợi phẩm.
- Nhân dân bỏ hoang ruộng đất, đốt vàng mã, bán trâu, cầm ruộng để làm
đám cƣới, đám ma, v.v…Trong lần nói chuyện với đồng bào tỉnh Yên Bái năm
1958, Hồ Chí Minh nêu cụ thể sự lãng phí tiền của cho đồng bào thấy rõ “Lúc đám
cƣới, mời họ nội, họ ngoại chè chén linh đình, 2 bữa say sƣa bằng thích. Nhƣng sau
đấy nhà trai, nhà gái phải bán trâu, bò, thóc, bán ruộng, đi vay nợ ” [59, tr.534];
“Đồng bào còn tục lệ ma chay, cƣới hỏi ăn uống lu bù. Mình ăn vài bữa nhƣng nhà

16


có con cƣới hỏi, có ngƣời chết thì mắc nợ phải đi vay. Phải bán trâu bán ruộng. Thế
là xa xỉ. Không tốt” [59, tr.551].
Trong bài Mừng tết nguyên đán thế nào? Hồ Chí Minh thẳn thắn phê bình sự
lãng phí trong dân chúng ở những ngày lễ tết. Mừng xuân phải mừng một cách vui vẻ
và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là
mừng xuân một cách lạc hậu, lãng phí, thế là không xuân.
Sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm, tránh vì đƣợc mùa mà tiêu sài phung phí.
Hồ Chí Minh nêu dẫn chứng cụ thể ở huyện Yên Thành, Nghệ An năm 1960 vì
đƣợc mùa to đã “liên hoan” hết 123 con lợn, 8 con bò, 3 con bê. Đó là chƣa kể số
chi tiêu vào việc muối, gạo, rƣợu, chè. Cũng chƣa kể những ngày lao động của bà
con 20 xã đã mất toi. Vừa lãng phí tiền của lại vừa lãng phí công sức. “Lạc bất khả
cực, lạc cực sinh ai” nghĩa là vui không nên quá mức, vui quá mức đi đến cái buồn.
Hồ Chí Minh làm một bài thơ nhắc nhở để nhân dân có một cái tết vui vẻ, tƣng
bừng, đồng thời là một tết tiết kiệm và thắng lợi.

nhất là trong lĩnh vực sản xuất là sự lãng phí tuy vô hình nhƣng gây tổn hại lớn:
“Thƣờng thƣờng còn một số công nhân, đến 2 giờ mới đổi kíp, nhƣng 1 giờ 45 phút
hay 1 giờ 40 phút đã nghỉ việc. Nhƣ vậy là ăn bớt của Nhà nƣớc, của công nhân,
của nhà máy mất 10 phút, 15 phút. Nếu mỗi ngƣời nghỉ trƣớc 6 phút thì 10 ngƣời là
1 tiếng, cứ thế tính cho nhiều ngƣời thì ảnh hƣởng không tốt đến sản xuất. Nhƣ vậy
là chƣa phải thái độ làm chủ” [58, tr.534].
Trong sản xuất, Hồ Chí Minh một mặt thấy đƣợc rằng, có trƣờng hợp làm
đúng định mức, vƣợt thời gian quy định (tức không lãng phí thời gian) nhƣng không
hiệu quả, không đảm bảo chất lƣợng phải làm lại, suy cho cùng đó là sự lãng phí
ngầm mà ít đƣợc chú ý tới. Nếu thi đua sản xuất chỉ chú ý thi đua làm nhiều, làm
nhanh, mà chƣa chú ý thi đua làm tốt vì bệnh “thành tích” là rất có hại, là lãng phí.
Cho nên:
“Làm nhanh mà không tốt
Có gì là vẻ vang?
Đã là ngƣời làm chủ,
Tính toán phải đàng hoàng:
Nhiều, nhanh, tốt, rẻ rõ ràng
Lợi dân, lợi nƣớc đôi đàng vẹn đôi” [60, tr.513].

18


Qua các dạng lãng phí mà Hồ Chí Minh đề cập, có thể thấy lãng phí là hiện
tƣợng xã hội phổ biến hiện hữu trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Lãng
phí sức lao động, thời gian hay tiền của đều có điểm chung nhƣ sau:
Một là, những chi phí, tổn hao và sử dụng nguồn lực tài chính, nhân lực và
các nguồn lực khác trên mức hợp lý, phải có và cần thiết;
Hai là, không đạt đƣợc mục tiêu, kết quả nhƣ đã xác định hoặc nếu có thì
hiệu suất ở mức thấp;
Ba là, những tổn hao, tổn thất không đáng có hoặc không đƣợc phép có;

khắc của giai cấp phong kiến. Đó là đạo đức cá nhân chủ nghĩa ích kỉ cực đoan của
giai cấp tƣ sản…Với bản chất của kẻ đi bóc lột, đạo đức về tiết kiệm, phòng, chống
lãng phí quả là một điều vô cùng xa lạ.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, thực dân phong kiến tuy bị tiêu diệt, nhƣng cái nọc độc
xấu xa của nó (tham ô, lãng phí, quan liêu) vẫn còn, thì cách mạng vẫn chƣa hoàn
toàn thành công, vì cái nọc xấu ấy ngấm ngầm ngăn trở, ngấm ngầm phá hoại sự
nghiệp xây dựng của cách mạng, “…chúng ta sinh trƣởng dƣới chế độ nô lệ của
thực dân và phong kiến, bị văn hóa, giáo dục thực dân, phong kiến thấm vào đã sâu.
Nó làm cho nhiều ngƣời tê mê quên cả nhân dân, quên cả Tổ quốc. Nó đã làm cho
những bệnh thối nát hủ bại (nhƣ chủ nghĩa cá nhân, tự tƣ tự lợi, tham ô, lãng phí…)
ăn sâu vào con ngƣời nhƣ những bệnh kinh niên…” [56, tr.143].
Không ai có thể có ý thức tiết kiệm, chống lãng phí đầy đủ khi họ chƣa
thật sự biết trân trọng thành quả lao động do đồng loại tạo ra. Hồ Chí Minh nhận
ra nguyên nhân của sự xa xỉ, lãng phí do chƣa xây dựng đƣợc đạo đức trong lao
động ở chế độ cũ. Trong xã hội Việt Nam thời xƣa, đối với thành phần bóc lột và
đối với tầng lớp trung gian thì lao động và những ngƣời lao động là những thứ
đáng kinh rẻ. Địa vị xã hội và tƣ tƣởng của họ đã dẫn đến “hai cái khinh là:
khinh lao động chân tay và khinh ngƣời lao động chân tay và hai sợ là: sợ khó
nhọc và sợ khổ” [59, tr.399].
Ngƣời ta chƣa thể tìm thấy hạnh phúc trong lao động, chƣa thể có tình cảm
đầy đủ đối với thành quả lao động, cho dù là của chính mình, khi còn giữ tƣ tƣởng
và thói quen lao động làm thuê đã đƣợc hình thành qua nhiều năm dƣới chế độ cũ.
Hồ Chí Minh từ lâu đã dự báo về những căn bệnh mà cán bộ ta dễ mắc phải
khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Sự tác động của môi trƣờng mới, sự lôi kéo

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status