Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và vận dụng vào việc thực hiện đòan kết tôn giáo tại tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay tt - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ GIA THẾ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
và vận dụng vào việc thực hiện đoàn kết
tôn giáo tại tỉnh Đồng Tháp trong
giai đoạn hiện nay

LUẬN VĂN THẠC SỸ
HÀ NỘI – 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 12
Chƣơng 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO
TRONG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH 12
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn
giáo 12
1.1.1. Cơ sở lý luận 12
1.1.2. Cơ sở thực tiễn 23
1.2. Quan điểm đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
25
1.2.1. Đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn
giáo 26
1.2.2. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau 30
1.3. Một số nguyên tắc và phương pháp về đoàn kết tôn giáo trong
tư tưởng Hồ Chí Minh 34
1.3.1. Một số nguyên tắc về đoàn kết tôn giáo trong tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh 34
1.3.2. Một số phƣơng pháp về đoàn kết tôn giáo trong tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh 39
Chƣơng 2: XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO THEO TƢ
TƢỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TỈNH ĐỒNG THÁP TỪ NĂM 1990 ĐẾN
NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP .49
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội, văn
hoá, tôn giáo ở tỉnh Đồng Tháp 49
2.1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá
49
2.1.2. Tình hình tôn giáo ở tỉnh Đồng Tháp 54 2

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hơn 80 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cả dân tộc ta tiến hành cuộc
đấu tranh trƣờng kỳ, gian khổ giành độc lập tự do, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Một trong
những yếu tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng nƣớc ta là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng
theo ngọn cờ chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Nhìn lại mấy chục năm qua, mỗi
khi dân tộc đứng trƣớc những thử thách hiểm nghèo tƣởng nhƣ không thể vƣợt qua, chính thiên tài
trí tuệ và tay lái vững vàng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng đã
dìu dắt dân tộc vƣợt qua mọi gian lao, sóng gió để tiến lên. Từ kinh nghiệm của lịch sử, từ yêu cầu
cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nƣớc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã
khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tƣ tƣởng và
kim chỉ nam cho hành động”.
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm khoa học về chính trị, quân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm hƣớng dẫn toàn Đảng, toàn dân ta đấu tranh, lao động, xây dựng,
sáng tạo, bảo vệ nƣớc Việt Nam độc lập, hòa bình, thống nhất, giầu mạnh. Xuyên suốt và nhất quán
trong tƣ duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tƣ tƣởng đại đoàn kết,
trong đó có đoàn kết tôn giáo nhằm tập hợp, phát huy sức mạnh dân tộc, quốc tế vì mục tiêu độc
lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Với tầm cao trí tuệ và chủ nghĩa nhân văn cộng sản, Hồ Chí Minh
đã giải quyết nhuần nhuyễn mối quan hệ vô cùng phức tạp giữa dân tộc với giai cấp, giữa tôn giáo
với dân tộc, quốc gia – quốc tế thuận theo xu thế khách quan của thời đại. Thiên tài của Hồ Chí
Minh là ở chỗ, Ngƣời đã khơi dậy và phát huy triệt để sức mạnh của cả cộng đồng xã hội – từ lực
lƣợng nòng cốt của cách mạng đến các tầng lớp nhân dân trên cơ sở khối liên minh công nông, xây
dựng khối đoàn kết tôn giáo để tạo thành hợp lực, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào các thế lực thù địch
ngoan cố nhất, phản động nhất. Tƣ tƣởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã trở thành một bộ phận hữu
cơ trong đƣờng lối chiến lƣợc của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã thấm nhuần vào tƣ tƣởng, tình cảm
của nhân dân và chuyển hóa thành sức mạnh vô địch; về thực chất, đó là chiến lƣợc đại đoàn kết Hồ Chí
Minh.
Sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xƣớng và lãnh đạo diễn ra gần ba
thập kỷ qua, đã và đang đạt đƣợc những thành tựu to lớn. Nƣớc ta đã thoát khỏi tình trạng khủng
hoảng kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân đƣợc cải thiện và đặc biệt, những tiền đề mới để đẩy

theo đạo nếu có nhu cầu thì đƣợc vay vốn, hƣớng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ các điều kiện cần thiết để sản
xuất, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống. Những việc làm đó đã thúc đẩy tín đồ tôn giáo tích cực
tham gia xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cƣ, góp phần ổn định vùng đồng bào có đạo. Tuy
nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của các cấp chính quyền và cấp ủy Đảng ở một số nơi còn chƣa chú
trọng vào việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo nên đã để xẩy ra tình trạng mất trật tự, an ninh xã
hội. Các thế lực thù địch lợi dụng tình trạng đó để kích động và chia rẽ nhân dân. Một số tín đồ và
chức sắc tôn giáo chƣa hiểu đầy đủ và đúng đắn các chính sách của Đảng và Nhà nƣớc nên vẫn còn
những băn khoăn cả về việc đạo và việc đời, một số phần tử thậm chí còn gây ra những vụ việc làm
mất an ninh trật tự, gây chia rẽ trong quần chúng nhân dân. Xuất phát từ tình hình thực tế và nhiệm
vụ chính trị của địa phƣơng đặt ra, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về

3
đoàn kết tôn giáo và vận dụng vào việc thực hiện đoàn kết tôn giáo tại tỉnh Đồng Tháp trong giai
đoạn hiện nay” để triển khai nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
2. Tổng quan nghiên cứu đề tài
Có thể nói, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là di sản lý luận quý báu và đặc biệt quan trọng không
chỉ với cách mạng Việt Nam, mà còn với phong trào cách mạng thế giới. Thực tế cho thấy, trong
những năm qua cả ở Việt Nam lẫn ở nhiều nƣớc trên thế giới đã có nhiều tổ chức, tập thể và cá
nhân các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa có công trình hay đề tài khoa học nào nghiên cứu tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và vận dụng vào việc thực hiện đoàn kết tôn giáo tại tỉnh Đồng
Tháp trong giai đoạn hiện nay.
Với thái độ cầu tiến trên tinh thần học hỏi, tiếp thu và kế thừa những kết quả của những
công trình nghiên cứu đi trƣớc vào thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của mình, tác giả luận văn tiếp
tục đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu một cách có hệ thống tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo,
phân tích sự vận dụng tƣ tƣởng đó để xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Đồng Tháp; đồng thời
luận giải một số giải pháp nhằm củng cố và phát triển khối đoàn kết tôn giáo trong giai đoạn hiện
nay trên địa bàn tỉnh.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Mục đích

Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng tƣ tƣởng đó để xây dựng khối
đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Đồng Tháp từ khi có Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị 1990 đến
nay.
6. Những đóng góp của đề tài
- Luận văn góp phần làm rõ một số nội dung cơ bản trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn
kết tôn giáo.
- Làm rõ sự vận dụng của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đồng Tháp trong việc xây dựng
khối đoàn kết tôn giáo trong những năm đổi mới vừa qua.
7. Kết cấu nội dung nghiên cứu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chƣơng, 6
tiết.
NỘI DUNG
Chƣơng 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO TRONG TƢ TƢỞNG
HỒ CHÍ MINH
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
1.1.1. Cơ sở lý luận
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo đƣợc hình thành, phát triển dựa trên cơ sở lý
luận vững chắc. Ngƣời đã kế thừa, tiếp thu truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong suốt
bốn nghìn năm lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc. Đây chính là cội nguồn tinh thần quý giá của dân
tộc đã giúp cho nhiều thế hệ ngƣời Việt Nam nói chung và Hồ Chí Minh nói riêng trong việc tổ
chức, xây dựng và tập hợp lực lƣợng toàn dân nhằm bảo vệ và xây dựng Tổ quốc; đồng thời cảnh
giác với các thế lực “thù trong, giặc ngoài” âm mƣu muốn chia rẽ, nô dịch và thống trị dân tộc Việt
Nam.

5
Vì vậy, cần khẳng định rằng tinh thần đoàn kết dân tộc là một giá trị tinh thần quý báu,
thiết thực và có ý nghĩa to lớn đảm bảo cho sự trƣờng tồn và phát triển lâu dài của dân tộc Việt
Nam. Tinh thần đoàn kết đã nhanh chóng trở thành một giá trị truyền thống, gắn bó một cách tự
nhiên nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác, ăn sâu vào tiềm thức của từng cá nhân trong cộng
đồng ngƣời Việt Nam và đƣợc hun đúc qua mọi thời đại.


6
đây chính là cơ sở để lý giải rằng tại sao ở Việt Nam không xảy ra chiến tranh hoặc xung đột giữa
các tôn giáo; thay vào đó là sự kết hợp hài hoà của tam giáo đồng nguyên Nho - Phật - Lão thành
một khối thống nhất, hoà chung cùng dòng chảy chủ lƣu của dân tộc Việt Nam.
Sau nhiều năm, Ngƣời đã tìm ra con đƣờng cứu nƣớc giải phóng cho dân tộc Việt Nam, đó
là làm cách mạng vô sản. Nhƣng muốn làm cách mạng, theo Ngƣời, cần phải tổ chức, xây dựng và
lôi kéo đƣợc đông đảo lực lƣợng yêu nƣớc trong nhân dân tham gia làm cách mạng; tức phải xây
dựng thành công khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam. Hồ Chí Minh đã nhận
thấy những yếu tố tích cực, tiến bộ của các tôn giáo, nhận thức rõ âm mƣu và thủ đoạn chính trị của
thực dân Pháp xâm lƣợc. Do đó, Ngƣời đã chủ trƣơng xây dựng, thực hiện đoàn kết dân tộc và
đoàn kết tôn giáo nhằm phấn đấu cho nền độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân
1.2. Quan điểm về đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1. Đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo
Đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo có sự khác nhau về hệ tƣ tƣởng,
thế giới quan, đức tin, nhu cầu tín ngƣỡng, thực hành đạo đức xã hội Tuy nhiên, giữa họ có một
điểm chung là dƣới ách thống trị của thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ cùng với bè lũ tay
sai của chúng thì họ đều bị nô dịch, chà đạp, bóc lột thậm tệ. Chúng đã thực hiện các chính sách
phản động, nhƣ chính sách “ngu dân, nô dịch”, “chia để trị” nhằm chia rẽ đồng bào theo tín
ngƣỡng, tôn giáo và đồng bào không theo tín ngƣỡng, tôn giáo. Điều này đã gây ra những khó
khăn, tổn thất rất nghiêm trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trƣớc tình hình thực tiễn
trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ý thức rất sâu sắc về công tác xây dựng khối đoàn kết dân tộc, đoàn
kết đồng bào theo và không theo tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Ngƣời coi đoàn kết tôn giáo là
một bộ phận trong chiến lƣợc đại đoàn kết toàn dân tộc, có ảnh hƣởng lớn đến sự thắng lợi hay thất
bại của cách mạng Việt Nam. Cho nên, với Hồ Chí Minh, việc xây dựng tốt khối đoàn kết tôn giáo
vừa là cơ sở, điều kiện, vừa là một bộ phận quan trọng để xây dựng thành công khối đoàn kết toàn
dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp, vận dụng rất linh hoạt những yếu tố truyền thống, lịch
sử của dân tộc với bối cảnh hiện thực tôn giáo ở Việt Nam. Bên cạnh đó, trong suốt quá trình lãnh
đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Ngƣời luôn xác định và đặt nhiệm vụ đoàn kết dân tộc, đoàn kết

Minh
1.3.1. Một số nguyên tắc về đoàn kết tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ nhất, lấy lợi ích của toàn dân tộc và quyền lợi căn bản của con người là mẫu số
chung.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đƣa ra và sử dụng nguyên tắc trên với mong muốn quy tụ các tôn
giáo, các chức sắc, nhà tu hành, tín đồ và mọi lực lƣợng yêu nƣớc khác nhau trong xã hội Việt Nam
cùng hành động hƣớng tới mục tiêu chung của dân tộc, đó là “độc lập dân tộc, thống nhất Tổ
quốc”. Đây là nguyên tắc rất đúng đắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết tôn
giáo, đồng thời có giá trị to lớn đối với việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng giải phóng
dân tộc và công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Hồ Chí Minh xác định đó là nguyên tắc thống
nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng, thực chất là sự thống nhất giữa lợi ích của quốc gia

8
dân tộc với quyền lợi riêng của mỗi con ngƣời. Vì vậy, trong suốt quá trình vận động đồng bào
theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo tham gia xây dựng khối đoàn kết toàn dân và đoàn
kết tôn giáo, Ngƣời luôn chủ động tìm kiếm những điểm tƣơng đồng, dùng cái tƣơng đồng để khắc
phục cái dị biệt, không đặt các sự việc trong sự đối lập hoặc loại trừ nhau, không khoét sâu cái dị
biệt về thế giới quan, hệ tƣ tƣởng, nhu cầu tín ngƣỡng mà luôn tìm kiếm sự thống nhất, tƣơng
đồng về lợi ích chung cho toàn thể dân tộc, đó là độc lập cho dân tộc, thống nhất cho Tổ quốc, tự
do và hạnh phúc cho nhân dân.
Thứ hai, tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Tự do là một trong những quyền cơ bản của con ngƣời. Trong các quyền của con ngƣời có
quyền tự do tín ngƣỡng, tự do tôn giáo; tức tự xác lập theo hoặc không theo một đức tin tín
ngƣỡng, tôn giáo nhất định. Bởi lẽ, đây là nhu cầu tinh thần không thể thiếu đối với một bộ phận
không nhỏ quần chúng nhân dân lao động, là sự thiêng liêng trong tâm linh con ngƣời, không ai
đƣợc xâm phạm hoặc làm tổn hại. Ở Việt Nam, để làm cho quyền tự do tín ngƣỡng, tự do tôn giáo
trở thành hiện thực sinh động trong đời sống tinh thần của nhân dân, Ngƣời rất chú trọng tới pháp
luật, coi đó là công cụ để bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo của nhân dân.
Cho nên, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hoà
non trẻ vừa mới ra đời, Hồ Chí Minh đã chủ trƣơng hiện thực hoá quyền tự do tín ngƣỡng, tự do

giáo. Nét nổi bật trong phƣơng pháp cách mạng của Ngƣời là sự tiếp thu có chọn lọc các tƣ tƣởng
nhân văn, đạo đức trong các tôn giáo trên nền tảng chủ nghĩa yêu nƣớc, chủ nghĩa cộng sản nhằm
hƣớng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngƣời. Thực tế cho
thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức rõ về ý nghĩa, tầm quan trọng của phƣơng pháp trên
trong việc tập hợp các tín đồ tôn giáo yêu nƣớc tham gia vào cuộc đấu tranh "giải phóng dân tộc,
thống nhất Tổ quốc". Cho nên, trong suốt quá trình vận động đồng bào tín đồ các tôn giáo, Ngƣời
luôn lấy tấm gƣơng và đức hy sinh của các nhà sáng lập các học thuyết tôn giáo, những điều
khuyên răn tiến bộ, hợp lý trong giáo lý, kinh Phật, kinh Thánh để thuyết phục, giáo dục và động
viên họ tham gia tích cực vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc.
Thứ ba, phân biệt giữa tổ chức, giáo dân chân chính với tổ chức và cá nhân giả danh tôn
giáo.
Hồ Chí Minh cho rằng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một yêu cầu tất yếu, có ảnh
hƣởng quyết định đến thành công hay thất bại của cách mạng Việt Nam. Do đó, để làm tốt nhiệm
vụ trên đòi hỏi ngƣời cách mạng phải biết phân biệt đƣợc bạn - thù, phân biệt rõ đâu là tổ chức giáo
dân chân chính và đâu là tổ chức giả danh tôn giáo muốn lợi dụng tôn giáo nhằm chia rẽ khối đoàn
kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo làm phƣơng hại đến sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân.
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh còn phân biệt rõ những ngƣời giáo dân chân chính với những kẻ giả
danh tôn giáo để có phƣơng pháp đấu tranh đúng. Tiêu chí để phân biệt không phải gì khác hơn là
quan điểm “hãy xem họ làm, và đừng vội nghe họ nói”, tức là phải căn cứ vào hành động cụ thể
chứ không dựa vào vài ba lời lẽ xu nịnh gây ra sự bất hoà trong Đảng và trong nhân dân Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã kiên trì đấu tranh chống lại những kẻ giả danh tôn giáo nhằm bảo vệ khối đoàn kết
dân tộc, đoàn kết tôn giáo
Chƣơng 2: XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ
MINH Ở TỈNH ĐỒNG THÁP TỪ NĂM 1990 ĐẾN NAY:

10
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá, tôn giáo ở tỉnh Đồng
Tháp
2.1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá

Đồng Tháp còn có những đặc điểm riêng mang đậm sắc thái địa phƣơng với những hệ phái, những

11
“ông đạo” mà nơi khác không có. Bên cạnh những tôn giáo lớn, phổ biến nhƣ Phật giáo, Thiên
Chúa giáo, Tin Lành, ở tỉnh Đồng Tháp cũng có một số tôn giáo địa phƣơng (nội sinh), nhƣ Cao
Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hƣơng, Tứ Ân Hiếu Nghĩa Ngoài ra, phần đông đồng bào
trong tỉnh dù có đạo hay không theo bất cứ đạo nào (ngoại trừ những ngƣời Thiên Chúa giáo và Tin
Lành) đều giữ tục thờ cúng ông bà tổ tiên.
Ở miền Nam trƣớc đây, nhất là sau năm 1945, để đƣơng đầu với phong trào đấu tranh
giành độc lập dân tộc của nhân dân ta dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày một
quyết liệt, bọn thực dân thống trị và tay sai chẳng những dùng thế quyền với súng đạn và nhà tù
nhằm đàn áp phong trào cách mạng mà còn sử dụng cả thần quyền của tôn giáo để khống chế,
cƣỡng bức nhân dân về mặt tinh thần. Kẻ thù lợi dụng những nghi thức tôn giáo có tính chất mê tín
dị đoan để ru ngủ, mê hoặc nhân dân, nhƣ an phận kiếp này để hƣởng hạnh phúc ở kiếp sau, hay ăn
ở hiền lành, cam chịu số phận hiện tại để tích phúc cho con cháu mai sau nhằm đầu độc quần
chúng trong bầu không khí đặc sệt thần quyền của tôn giáo. Ngoài ra, chúng còn nắm một số tổ
chức giáo hội thông qua việc mua chuộc những ngƣời cầm đầu và sử dụng đội ngũ này nhƣ một
công cụ đắc lực để cƣỡng bức tín đồ các tôn giáo chống lại nhân dân và cách mạng. Thực tế cho
thấy, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã bắt các tín đồ phải đi lính cầm súng chết thay
cho chúng dƣới danh nghĩa chống Cộng sản để bảo vệ đạo. Kẻ thù đã xây dựng ở Đồng Tháp cũng
nhƣ một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long các tổ chức chính trị, quân sự gồm những phần tử
phản đạo, phản dân hại nƣớc trong các tôn giáo nhƣ Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa
Chúng tài trợ tiền bạc, trang bị vũ khí cho các tổ chức phản động này chống lại công cuộc kháng
chiến giành độc lập và đấu tranh thống nhất Tổ quốc của dân tộc ta. Một số tồn tại trong lịch sử của
các tôn giáo khó đƣợc giải quyết cho đến ngày nay là do hậu quả của những âm mƣu thâm độc nói
trên. Vì vậy, cả hệ thống chính trị và nhân dân tỉnh Đồng Tháp phải phấn đấu giải quyết những khó
khăn vƣớng mắc trên bằng cách củng cố ngày càng vững chắc hơn khối đại đoàn kết dân tộc, trong
đó trọng tâm là xây dựng và củng cố khối đoàn kết tôn giáo.
Tính đến năm 2010 (theo báo cáo số liệu các tôn giáo của sở nội vụ Đồng Tháp), toàn tỉnh
có tất cả khoảng 370.000 tín đồ tôn theo các tôn giáo khác nhau.

sách tự do tín ngƣỡng của chính quyền cách mạng, chăm lo đời sống nhân dân cả việc đạo và việc
đời, nên dần dần đa số các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong tỉnh tự hóa giải đƣợc những ngộ nhận
trƣớc đây về cách mạng, về Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa dần mặc cảm cũ và ngày càng tin tƣởng
vào quan điểm và đƣờng lối đúng đắn của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, hăng hái
đẩy mạnh sản xuất cải thiện đời sống, tham gia công tác xã hội, làm tốt các nghĩa vụ công dân.
Ngày nay, đa số các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ở Đồng Tháp tu tại gia, thờ cúng tại nhà, không bị
bọn xấu lợi dụng. Phật giáo Hòa Hảo cũng đã đƣợc Nhà nƣớc công nhận và hoạt động bình đẳng
với các tôn giáo khác; vì vậy, đồng bào ngày càng tham gia tích cực vào hoạt động từ thiện, lao
động sản xuất để xây dựng quê hƣơng ngày một phát triển. Đến năm 2010, Phật giáo Hòa Hảo tại
Đồng Tháp có khoảng 173.253 tín đồ với 22 cơ sở thờ tự.
2.2. Thực trạng quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng khối
đoàn kết tôn giáo tại tỉnh Đồng Tháp từ năm 1990 đến nay
2.2.1. Những thành tựu trong công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng
Hồ Chí Minh tại tỉnh Đồng Tháp

13
Thứ nhất, tỉnh Đồng Tháp tích cực quán triệt và cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của
Đảng và chính sách của Nhà nước về xây dựng khối đoàn kết tôn giáo.
Đảng bộ, UBND, Mặt trận Tổ quốc, Ban Tôn giáo tỉnh Đồng Tháp xác định thực tế tình
hình tôn giáo ở Đồng Tháp là một trong những vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm. Việc giải
quyết vấn đề tôn giáo, đặc biệt là những nội dung liên quan đến quyền lợi, lợi ích cho các chức sắc,
nhà tu hành và các tín đồ có đạo đòi hỏi phải dựa trên những chủ trƣơng của Đảng và chính sách
pháp luật của Nhà nƣớc Việt Nam. Xuất phát từ tình hình thực tế của địa phƣơng, Đảng bộ, UBND,
Mặt trận Tổ quốc, Ban Tôn giáo tỉnh Đồng Tháp đã quán triệt đƣờng lối của Đảng và chính sách,
pháp luật của Nhà nƣớc về tôn giáo nói chung và xây dựng khối đoàn kết tôn giáo nói riêng; đồng
thời, tích cực, chủ động triển khai nghiên cứu và ban hành các nghị quyết, chỉ thị, chƣơng trình
hành động phù hợp với đặc điểm của địa phƣơng nhằm xây dựng tốt khối đoàn kết toàn dân, đặc
biệt là đoàn kết tôn giáo tạo ra sự đồng thuận cao trong Đảng và trong nhân dân.
Tỉnh đã cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với những người
theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo. Các chủ trương, chính sách đoàn kết tôn giáo của

năm phải đƣợc phép của cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền.
Thứ ba, các cuộc tĩnh tâm của linh mục trong giáo phận, của các tu sỹ tập trung từ các cơ
sở, dòng tu của Thiên Chúa, Tin Lành, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài và những hoạt động
tƣơng tự của các tôn giáo khác thực hiện theo quy định của cơ quan quản lý nhà nƣớc cấp tỉnh về
tôn giáo. Đại hội, hội nghị của các tổ chức tôn giáo các cấp ở địa phƣơng phải đƣợc Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp cấp phép.
Thứ tư, việc in ấn các loại kinh, sách và các xuất bản phẩm tôn giáo, việc sản xuất, kinh
doanh, xuất nhập khẩu văn hoá phẩm tôn giáo, đồ dùng trong việc thực hiện truyền đạo, phải theo
quy chế của Nhà nƣớc và của UBND tỉnh Đồng Tháp về in, xuất bản, sản xuất kinh doanh, xuất
nhập khẩu văn hoá phẩm, hàng hoá.
Thứ năm, nghiêm cấm việc in ấn, kinh doanh, lƣu hành và tàng trữ sách báo, văn hoá phẩm
có nội dung chống lại Đảng, Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính quyền các
cấp trong tỉnh gây chia rẽ tôn giáo, chia rẽ dân tộc, ảnh hƣởng đến khối đoàn kết trong nhân dân.
Thứ sáu, các đại hội, hội nghị của các tổ chức tôn giáo ở địa phƣơng phải đƣợc Chủ tịch
UBND tỉnh Đồng Tháp cấp phép.
Về chính sách đối với nơi thờ tự và tài sản của các tổ chức tôn giáo, tỉnh Đồng Tháp quy
định rõ:
Thứ nhất, Nhà nƣớc bảo hộ nơi thờ tự của các tôn giáo. Tổ chức tôn giáo có trách nhiệm
giữ gìn, tu bổ nơi thờ tự.
Thứ hai, nhà, đất và các tài sản của các tổ chức và cá nhân tôn giáo đƣợc cơ quan nhà nƣớc
và chính quyền các cấp trong tỉnh Đồng Tháp quản lý, bảo hộ theo pháp luật.
Thứ ba, việc tu bổ, sửa chữa nhỏ không làm thay đổi cấu trúc, kiến trúc công trình thuộc cơ
sở thờ tự thì tổ chức thực hiện sau khi đã thông báo cho UBND cấp xã sở tại.

15
Thứ tư, việc sửa chữa làm thay đổi cấu trúc, kiến trúc công trình tại cơ sở thờ tự; việc khôi
phục công trình thờ tự bị hoang phế, bị huỷ hoại do chiến tranh, thiên tai, rủi ro; việc tạo lập cơ sở
thờ tự mới, xây dựng công trình thờ tự (nhà, tƣợng, bia, đài, tháp ) phải đƣợc phép của UBND
tỉnh.
Thứ năm, việc tạo nguồn tài chính từ sự ủng hộ của cá nhân, tổ chức, từ những thu nhập

Thứ hai, tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong nƣớc mời tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nƣớc
ngoài tham gia các hoạt động tôn giáo hoặc có liên quan đến các tôn giáo ở nƣớc ngoài phải thực
hiện theo đúng quy định của Ban Tôn giáo Chính phủ.
Thứ ba, tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nƣớc ngoài, kể cả tổ chức và cá nhân tôn giáo vào Việt
Nam để hoạt động ở các lĩnh vực không phải là tôn giáo thì không đƣợc tổ chức, điều hành hoặc
tham gia tổ chức, điều hành các hoạt động tôn giáo, không đƣợc truyền bá tôn giáo.
Thứ tư, các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong nƣớc muốn nhận viện trợ thuần tuý tôn giáo
phải xin phép Thủ tƣớng Chính phủ.
Tóm lại, Đảng bộ, UBND, Mặt trận Tổ quốc, Ban Tôn giáo tỉnh Đồng Tháp, một mặt, quán
triệt việc thực hiện đúng đƣờng lối, chính sách và những nguyên tắc chung của Đảng, của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Chính phủ về tôn giáo; mặt khác, tỉnh Đồng Tháp đã chủ động nghiên cứu, ban
hành những nguyên tắc riêng theo Chƣơng trình hành động của Tỉnh ủy nhằm giải quyết đúng đắn
tình hình thực tiễn tôn giáo ở địa phƣơng hiện nay trên cơ sở đảm bảo quyền tự do tín ngƣỡng và
không tín ngƣỡng, tôn giáo của mọi công dân theo đúng tinh thần của pháp luật Việt Nam. Ngoài
ra, Tỉnh uỷ, UBND, MTTQ và Ban Tôn giáo tỉnh Đồng Tháp còn chủ động nghiên cứu, đề xuất
những giải pháp cụ thể nhằm xây dựng và củng cố khối đoàn kết tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Thứ hai, các tôn giáo tại tỉnh Đồng Tháp tích cực, chủ động tham gia xây dựng, củng cố và
phát triển khối đoàn kết tôn giáo.
Cùng với những chủ trƣơng, chính sách của tỉnh về công tác tôn giáo nói chung, về xây
dựng khối đoàn kết tôn giáo nói riêng, các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp cũng có những
hoạt động cụ thể nhằm củng cố, xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó có đoàn
kết tôn giáo.
Hƣởng ứng cuộc vận động xây dựng nông thôn mới do Ủy ban nhân dân tỉnh phát động,
các chức sắc tôn giáo và các giáo dân đã thực hiện nhiều phong trào tích cực, nhƣ vận động gây
quỹ từ thiện, đoàn kết tƣơng thân tƣơng ái Trong những năm qua, (2001 - 2006) tỉnh Đồng Tháp
đã xây dựng đƣợc hơn 1.700 căn nhà tình thƣơng các loại, tổng giá trị lên tới 90 tỷ đồng trong đó
các tổ từ thiện cƣa xẻ gỗ do ban trị sự Phật giáo Hoà Hảo chủ trì xây dựng đƣợc là 1.553 căn, giá
trị hơn 70,7 tỷ đồng. Đặc biệt năm 2006 là năm huy động nguồn lực cao nhất từ trƣớc đến nay và
đã xây dựng đƣợc 5.848 căn, công tác xây dựng nhà tình thƣơng đã khơi dậy và phát huy tốt các
nguồn lực trong nhân dân theo phƣơng châm lấy sức dân để bồi dƣỡng cho dân.

hoá tôn giáo ngày 24 - 11 - 1946 về xây dựng đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân. Trong đó,
Ngƣời cho rằng, phải làm thế nào cho văn hoá thấm sâu vào đời sống của quốc dân, nghĩa là văn
hoá phải sửa đổi đƣợc thói lƣời biếng, phù hoa, xa xỉ ; đồng thời, văn hoá phải làm thế nào cho
mỗi ngƣời dân Việt Nam từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và
biết hạnh phúc của mình nên đƣợc hƣởng; rằng, văn hoá phải soi đƣờng cho quốc dân đi. Ngoài ra,
tỉnh Đồng Tháp còn quán triệt, vận dụng sáng tạo đƣờng lối của Đảng xác định văn hoá vừa là mục
tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển của xã hội; trong đó, tôn giáo đƣợc xem nhƣ một bộ phận
cấu thành nền văn hoá vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính nhân văn, đạo đức gắn liền với nhu
cầu tinh thần không thể thiếu đƣợc của một bộ phận quần chúng nhân dân lao động ở địa phƣơng.
Chính vì vậy, Đảng bộ và chính quyền chủ động kết hợp với các tổ chức chính trị - xã hội các cấp
trong toàn tỉnh phát động và triển khai nhiều phong trào nhằm xây dựng khối đoàn kết toàn dân,

18
đoàn kết tôn giáo tăng cƣờng sự đồng thuận trong Đảng và trong nhân dân. Chẳng hạn, Đồng Tháp
đã phát động rộng rãi các phong trào, nhƣ xây dựng dòng họ, tổ dân phố và làng xã văn hóa,…
Những phong trào này do MTTQ tỉnh khởi xƣớng, có sự phối kết hợp với các ban ngành, đoàn thể
các cấp ở tỉnh, huyện, xã, thôn nhằm xây dựng nếp sống văn hoá trong cộng đồng dân cƣ nói chung
và trong đồng bào giáo dân nói riêng. Các cuộc vận động trên đã đƣợc đông đảo các linh mục, chức
sắc tôn giáo, các họ giáo và các tín đồ ủng hộ, đăng ký tham gia.
* Nguyên nhân đạt được những thành tựu trong việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo
Thứ nhất, Đảng bộ, chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị- xã hội các cấp trong tỉnh
đã quán triệt việc học tập, vận dụng sáng tạo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh cùng với đƣờng lối, chính sách
của Đảng và Nhà nƣớc vào công tác xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo.
Thứ hai, công tác tham mƣu, đề xuất phƣơng hƣớng giải quyết tình hình tôn giáo cho Đảng bộ
và UBND tỉnh đƣợc coi trọng và thực hiện tốt. Công tác phối hợp đƣợc thực hiện thƣờng xuyên và nề
nếp ở ba cấp giữa các ngành chức năng liên quan, đặc biệt là các cuộc trao đổi hoạt động nghiệp vụ với
đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở từng cấp.
Thứ ba, công tác tuyên truyền phổ biến quan điểm, đƣờng lối của Đảng và chính sách,
pháp luật của Nhà nƣớc đƣợc tiến hành kịp thời, thƣờng xuyên đến các chức sắc, nhà tu hành và tín
đồ. Đặc biệt là có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ và hiệu quả giữa các ngành, các địa phƣơng trong

khăn, thậm chí họ còn nảy sinh tƣ tƣởng “cổng cao, rào kín”.
Trên lĩnh vực chính trị - xã hội, do những âm mƣu và thủ đoạn chính trị nhằm lợi dụng tôn
giáo của các thế lực phản động, đặc biệt là âm mƣu “diễn biến hoà bình” nhằm chia rẽ khối đoàn kết
toàn dân, đoàn kết tôn giáo cũng gây những tác động xấu và khó khăn nhất định đến công tác xây
dựng khối đoàn kết đoàn toàn dân, đoàn kết tôn giáo ở Đồng Tháp.
Trong lĩnh vực văn hóa. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống về lối sống, nhƣ sự chung thủy,
tinh thần đoàn kết “tối lửa, tắt đèn có nhau” ở trong mỗi gia đình, các thôn, làng, tổ dân phố đã và
đang có sự rạn nứt. Ngoài ra, mặt trái của nền kinh tế thị trƣờng với sự cạnh tranh khốc liệt đã tạo
ra nhiều khuyết tật xấu tác động đến tƣ tƣởng, niềm tin, đạo đức, lối sống của ngƣời dân. Đặc biệt,
trong đời sống xã hội đã xuất hiện nhiều loại hình mê tín dị đoan, nhƣ tà đạo, bùa chú, bói toán,
tranh giành đức tin , làm ảnh hƣởng không nhỏ đến niềm tin tôn giáo, đạo đức, lối sống trong nhân
dân. Có thể nói, những hiện tƣợng đó đã gây nhiều khó khăn cho công tác xây dựng khối đoàn kết
toàn dân, đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Đồng Tháp trong thời gian qua.
* Nguyên nhân của những hạn chế trong việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo
Thứ nhất, do sự khác biệt về nguồn gốc lịch sử bản thân, lợi ích, thu nhập, địa vị xã hội,
trình độ nhận thức giữa các gia đình, dòng họ, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp trong xã hội đƣa đến
những khó khăn trong công tác xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo.
Thứ hai, do sự khác nhau về thế giới quan, nhu cầu tín ngƣỡng. Trong đó, có thế giới quan
duy vật và duy tâm, có đồng bào đi theo tôn giáo này nhƣng lại có đồng bào đi theo tôn giáo khác
hoặc có đồng bào không theo tôn giáo.
Thứ ba, do công tác vận động, tuyên truyền và sự phối kết hợp giữa các ban ngành, Mặt
trận, đoàn thể và chính quyền các cấp trong việc triển khai học tập, vận dụng sáng tạo tƣ tƣởng Hồ

20
Chí Minh cùng với các quan điểm chính sách, văn bản pháp luật, nghị định của Nhà nƣớc về tôn
giáo và xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở nhiều cơ sở trong tỉnh thực tế còn kém hiệu quả, chƣa có
sự thống nhất, đồng bộ.
Thứ tư, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở cấp cơ sở còn thiếu và yếu về kinh nghiệm
thực tiễn, nghiệp vụ xử lý tình huống còn kém.
Thứ năm, cán bộ tại nhiều cơ sở vẫn chƣa đi sâu, đi sát trong việc thực hiện chức năng,

tôn giáo ở tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn mới, theo tôi, cần tập trung thực hiện tốt một số giải
pháp cơ bản sau:
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm và trách nhiệm của hệ thống
chính trị ở địa phƣơng trong việc xây dựng khối đoàn kết tôn giáo.
Hai là, tăng cƣờng công tác vận động quần chúng nhân dân, trong đó có các tín đồ và các
tổ chức tôn giáo trong tỉnh Đồng Tháp tham gia xây dựng khối đoàn kết tôn giáo.
Ba là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác vận động tôn giáo.
Bốn là, tập trung nâng cao đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, tinh thần của nhân dân trong
tỉnh, đặc biệt là ở những vùng có đông tín đồ theo các tôn giáo đang còn khó khăn, đồng thời giải
quyết tốt vấn đề theo đạo và truyền đạo ở những nơi có nhu cầu.
Năm là, tăng cƣờng và nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của công tác quản lý nhà nƣớc về tôn
giáo.
Sáu là, tăng cƣờng công tác tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh có chuyên môn về
lĩnh vực tôn giáo làm công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo.
KẾT LUẬN
Đoàn kết tôn giáo là bộ phận trong chiến lƣợc đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, chiến lƣợc
này đã quyết định lớn đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo
cách mạng, Ngƣời luôn quan tâm đến công tác xây dựng khối đoàn kết toàn dân và đoàn kết tôn
giáo.
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo đƣợc hình thành trên cơ sở kế thừa truyền
thống đoàn kết, truyền thống yêu nƣớc, lòng khoan dung, thực tiễn đấu tranh chống giặc ngoại xâm
và những âm mƣu chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo ở Việt Nam. Tƣ tƣởng ấy còn đƣợc soi rọi bằng
lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa
Mác – Lênin về tôn giáo, dân tộc, thời đại cùng với những tinh hoa văn hoá của nhân loại ở
phƣơng Đông và phƣơng Tây.
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh mãi mãi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho toàn Đảng, toàn dân ta học
tập, vận dụng sáng tạo vào quá trình xây dựng khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo trong giai
đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc. Đảng và Nhà nƣớc ta luôn tôn trọng và đảm bảo quyền tự do
tín ngƣỡng, tôn giáo của nhân dân trên tinh thần không phân biệt đối xử đối với đồng bào theo hoặc
không theo tín ngƣỡng, tôn giáo; đồng thời xử lý nghiêm đối với những trƣờng hợp vi phạm quyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status