MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
A. MỞ ĐẦU………………………………………………………………………...
1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………...
2. Mục tiêu của sáng kiến…………………………………………………………
3. Giới hạn của sáng kiến…………………………………………………………
B. NỘI DUNG……………………………………………………………………...
1. Cơ sở viết sáng kiến……………………………………….……………………
1.1. Cơ sở khoa học………………………………………………………………..
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lí………………………………………………………
2. Thực trạng của vấn đề………………………………………………………….
2.1. Hiện trạng vấn đề cần giải quyết….……………………………………….
2.2. Các nhân tố, điều kiện ảnh hưởng đến vấn đề cần giải quyết ………...
3. Các giải pháp thực hiện………………………………………………………...
3.1. Sử dụng bảng biểu khái quát kiến thức…………………………………...
3.2. Hệ thống hóa kiến thức theo sơ đồ………………………………………...
3.3. Ứng dụng trò chơi vào tìm hiểu kiến thức….……………………………
3.4. Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan tìm hiểu kién thức…………
4. Hiệu quả của sáng kiến………………………………………………………...
4.1. Ý nghĩa thực tiễn của sáng kiến……………………………………………
4.2. Đối tượng hưởng lợi của sáng kiến………………………………………..
C. KẾT LUẬN……………………………………………………………………..
1. Kết luận…………………………………………………………………………...
2. Kiến nghị…………………………………………………………………………
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
PPDHTC
30
30
32
33
33
34
THPT
GV
HS
Trung học phổ thông
Giáo viên
Học sinh
A. MỞ ĐẦU.
1. Lí do chọn đề tài.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế, xã hội trên toàn thế giới có nhiều
chuyển biến nhanh chóng. Ở nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, vấn
đề giáo dục luôn được coi là vấn đề quan trọng hàng đầu. Để đáp ứng được yêu cầu
của cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, đòi hỏi
ngành Giáo dục và đào tạo phải thay đổi cách dạy và cách học nhằm tạo ra nguồn
-2-
nhân lực mới có tri thức khoa học cao, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn và dễ dàng
thích ứng trong môi trường mới đầy năng động, sáng tạo để giải quyết tốt các vấn đề
trong cuộc sống.
Vì thế, chương trình giáo dục mới rất chú trọng đến việc phát huy tư duy tổng
kiến thức không chỉ giúp học sinh ghi nhớ được các sự kiện, hiện tượng mà còn giúp
các em nhận thức ra mối liên hệ biện chứng, logic giữa các sự kiện lịch sử.
Riêng đối với môn Lịch sử, bài tổng kết, ôn tập là một trong những bài khó
dạy, vì đây là bài tổng hợp với lượng kiến thức lớn. Chính vì lẽ đó giáo viên khi dạy
các tiết này thường gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị
công phu, kiến thức tổng hợp nhuần nhuyễn, kĩ năng phân tích thuần thục và phải có
phương pháp dạy học hợp lí, bên cạnh đó học sinh cũng phải có sự chuẩn bị đầy đủ
trước những nội dung ôn tập ở nhà thì tiết ôn tập mới không bị nhàm chán. Tuy
nhiên, khi tổ chức dạy học ở lớp, tiết ôn tập vẫn rất khó thành công; kết quả học sinh
không thích tiết ôn tập.
Hơn 10 năm trong nghề, tôi rất trăn trở về vấn đề này. Vì vậy đề tìm được
phương pháp nào hiệu quả vừa có khả năng truyền tải hết kiến thức bài học, vừa tạo
ra cho học sinh hứng thú học tập, vừa khắc sâu kiến thức, vừa làm cho các em yêu
thích môn học từ đó phát huy tính tích cực, tự giác và hứng thú học tập cho các em,
nhất là các em khối 12 để các em có đủ hành trang cho các kì thi tuyển (thi HSG, thi
THPT Quốc gia). Chính vì thế tôi đã chọn sáng kiến “Vận dụng một số phương
pháp, kỹ thuật dạy học tích cực vào bài tổng kết lịch sử lớp 12 nhằm tạo hứng thú
học tập cho học sinh trường THPT …." góp phần tổng hợp kiến thức nhanh gọn,
khái quát; đặc biệt hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh hiểu bài, khắc sâu hơn kiến
thức và hứng thú hơn trong học tập.
2. Mục tiêu của sáng kiến.
Xuất phát từ thực tế dạy và học Lịch sử ở nhà trường cũng như của bản thân,
một vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Lịch sử.
Trong mỗi tiết học trò phải hứng thú, say mê, thầy phải phát huy được tính tích cực ở
trò, phải khơi dậy được niềm đam mê ở trò. Để đáp ứng được yêu cầu đó và yêu cầu
-4-
đổi mới phương pháp dạy học thì việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
trong dạy và học Lịch sử là phương pháp tối ưu nhằm tạo hứng thú cho học sinh.
viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay
đổi cách dạy và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọcchép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn
được gọi là dạy và học tích cực. Trong cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động,
giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa
người dạy và người học.
Bài Tổng kết, ôn tập lịch sử nhằm mục tiêu:
+ Về kiến thức: Học sinh nhận thức một cách hệ thống, khái quát về quá
trình phát triển của lịch sử, đặc điểm lớn của từng thời kì. Đồng thời hiểu rõ nguyên
nhân cơ bản đã quyết định quá trình phát triển của lịch sử.
+ Về kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa, lựa chọn sự kiện lịch sử cơ
bản, kĩ năng phân tích, xác định những đặc điểm lớn của từng thời kì.
Rèn luyện và vận dụng phương pháp tư duy phân tích, tổng hợp khái quát
các sự kiện, các vấn đề quan trọng đã diễn ra.
+ Về thái độ: Trên cơ sở nắm chắc quá trình phát triển của lịch sử dân tộc,
hiểu rõ nguyên nhân của quá trình phát triển lịch sử, củng cố niềm tự hào dân tộc,
niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự tất thắng và tiền đồ của cách mạng
1.1.1. Một số phương pháp dạy học tích cực.
* Phương pháp vấn đáp: Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo
viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và
với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính
chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức
đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Vấn đáp tái hiện không được
-6-
xem là phương pháp có giá trị sư phạm. Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối
liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.
khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả
lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một
đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho
nhóm là khá phức tạp.
* Phương pháp đóng vai: Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực
hành một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Phương pháp đóng
vai có những ưu điểm sau :
- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ
trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh.
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh.
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi
đạo đức và chính trị – xã hội.
* Phương pháp động não: Động não là phương pháp giúp học sinh trong một
thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.
Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm
tiền đề cho buổi thảo luận.
1.1.2. Kiểu bài ôn tập, tổng kết.
- Bài ôn tập, tổng kết được tiến hành khi hoàn thành nghiên cứu một giai đoạn
hay một thời kỳ hoặc một quá trình lịch sử.
- Nhiệm vụ của bài tổng kết, ôn tập là củng cố, hệ thống kiến thức cơ bản, rèn
luyện kĩ năng, kĩ xảo.
- Loại bài cung cấp cho học sinh một bức tranh toàn diện về hiện tượng hoặc
quá trình lịch sử đã học, hệ thống hóa kiến thức đã tiếp thu, dựa vào những sự kiện
cơ bản đã biết giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích bản chất các sự kiện lịch sử,
giải thích sâu hơn nữa những khái niệm phức tạp đã được hình thành nhằm nâng cao
trình độ nhận biết của học sinh khi hiểu các hiện tượng mới của xã hội.
-8-
Chất lượng dạy và học ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn thấp. Đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu”.
Trên cơ sở đó Đại hội cũng đề ra giải pháp để thực hiện phương hướng phát
triển kinh tế- xã hội 5 năm 2016- 2020: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách,
giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo
hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát triển toàn diện năng lực, thể
chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật và trách nhiệm công
dân”. “Đổi mới mục tiêu, nội dung, hình thức kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo
dục và đào tạo”.
Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới giáo dục
trung học hiện nay. Luật Giáo dục (Điều 28) đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui và
hứng thú học tập cho học sinh”.
1.2.2. Cơ sở pháp lý.
Xác định nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016-2017 của ngành Giáo dục, chỉ thị
số 3031/CT-BGDĐT đã chỉ rõ: “Năm học 2016-2017, ngành Giáo dục và đào tạo
đứng trước những thuận lợi, thời cơ, khó khăn và thách thức đan xen, đòi hỏi toàn
ngành phải quyết tâm,nỗ lực phấn đấu hơn nữa để thực hiện có hiệu quả Chương
trình hành động của chính phủ thực hiện nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị
quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020, tiếp tục
triển khai chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29/NQTW của Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”.
Trên cơ sở đó, công văn số: 1100/SGDĐT-GDPT về hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ Giáo dục trung học năm học 2016-2017 của Sở GDĐT Sơn La đã chỉ rõ:
“Thực hiện thường xuyên, hiệu quả các phương pháp, hình thức và kỹ thuật dạy học
- 10 -
những câu hỏi do thầy cô đưa ra. Điều này sẽ dẫn đến sự rập khuôn máy móc trong
các giờ học, tạo tâm lí ỷ lại, bị động trong học sinh. Chính vì thế, việc vận dụng các
phương pháp dạy học tích cực vào bài Tổng kết sẽ khắc phục được những hạn chế
trên, tạo sự mới mẻ, hưng phấn với học sinh và cả người giáo viên đứng lớp.
Tuy nhiên, hiện nay, việc đưa vận dụng các phương pháp dạy học tích cực
vào trong quá trình dạy học đối với môn học Lịch sử vẫn còn là vấn đề còn nhiều
lúng túng đối với giáo viên, cụ thể như trong việc tổ chức, thiết kế các hoạt động dạy
học với việc sử dụng các phương pháp, các kỹ thuật dạy học tích cực. Qua dự giờ,
trao đổi kinh nghiệm chuyên môn đối với các đồng nghiệp trong tổ, tôi nhận thấy,
hầu hết các giáo viên chưa đã vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực
vào bài giảng, tuy nhiên còn vận dụng ít, chưa khai thác được hết những ưu điểm
của phương pháp, chưa phát huy hết được khả năng tích cực của học sinh
Không chỉ đối với giáo viên mà ngay học sinh trong trường có nhiều em chưa
thể đáp ứng được với các phương pháp dạy học tích cực, các em vẫn còn thụ động
trong tiếp thu kiến thức
Qua theo dõi, quan sát đồng nghiệp trong tổ chuyên môn về việc sử dụng các
phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào các tiết học tôi nhận thấy:
+ Các thầy cô sử đã sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực vào
giảng dạy song chưa thường xuyên chủ yếu vẫn là trong các tiết dạy chuyên đề, dạy
đổi mới phương pháp, tiết dự giờ…
+ Các thầy cô chưa thực sự nắm chắc về các phương pháp, kỹ thuật dạy học
tích cực, nên dẫn đến việc vận dụng vào bài dạy còn lúng túng.
+ Các thầy cô chưa dành nhiều thời gian cho viẹc nghiên cứu, tìm hiểu các
phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực.
Về lí do vì sao các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực chưa được sử dụng
rộng rãi trong việc dạy học môn Lịch sử; các thầy cô đều cho rằng đặc trưng của
môn lịch sử, lượng kiến thức trên một bài là rất nhiều, học sinh nhận thức còn yếu,
cơ sở vật chất của đơn vị còn hạn chế, nên vận dụng thường xuyên các phương pháp
- 13 -
Có biện pháp chỉ đạo, tổ chức thực hiện đổi mới dạy học có hiệu quả, thường
xuyên kiểm tra, đánh giá các hoạt động dạy học theo định hướng bám sát chuẩn kiến
thức kĩ năng. Đã tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên nâng cao trình độ tay nghề qua
đẩy mạnh sinh hoạt tổ chuyên môm, sinh hoạt cụm chuyên môn, thực hiện có hiệu
quả hoạt động dạy học; Cử CB, GV tham gia tập huấn đổi mới PPDH, KTĐG thoe
chỉ đạo của Sở, và của Bộ GD&ĐT tổ chức, triển khai; tổ chức tập huấn cấp trường
các chuyên đề ứng dụng CNTT; biên soạn đề kiểm tra; đổi mới đồng bộ PPDH và
PPKTĐG; hướng dẫn học sinh tự học tích cực…, các Hội thi giáo viên dạy giỏi, thi
làm đồ dùng dạy học,…nhân rộng các điển hình thực hiện tích cực sáng tạo có hiệu
quả.
Về phía giáo viên: Thực hiện sự chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy,
kiểm tra đánh giá của Bộ giáo dục và Đào tạo, của các cấp lãnh đạo, giáo viên
đã thực hiện chương trình và kế hoạch dạy học theo quy định của Bộ, ngành. Đặc
biệt lưu ý đến việc dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng bộ môn; đã quan tâm đặc
biệt tới việc soạn bài theo hướng đổi mới, phát huy tính tích cực, chủ động của học
sinh, thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lí hoạt động của thầy và trò, hệ thống
câu hỏi hợp lí, lô gíc không làm phá vỡ tính chỉnh thể, thống nhất của bài học; tập
trung vào trọng tâm (nhất là với bài dài, bài khó, bài nhiều đơn vị kiến thức mới);
chú trọng đến bồi dưỡng năng lực suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học; giáo
viên tích cực nghiên cứu, học tập, cập nhật kiến thức nâng cao tay nghề, chủ động
tiếp cận với công nghệ thông tin, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong
dạy học, coi đó là công cụ hỗ trợ tích cực cho hoạt động dạy học có hiệu quả giúp
cho bài giảng của mình thêm phong phú.
Cùng với việc đổi mới PPDH là đổi mới KTĐG. Có thể nói đánh giá kết quả
học tập của học sinh là một trong những vấn đề được coi trọng trong hoạt động dạy học là công cụ quan trọng, chủ yếu để xác định năng lực nhận thức của người học,
điều chỉnh quá trình dạy - học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp
không thể trực tiếp quan sát được. Lịch sử được phản ánh qua các nguồn sử liệu, vấn
đề đặt ra là làm sao để các em nhận thức được lịch sử một cách chính xác, chân thực
- 15 -
như nó đã tồn tại. Vì vậy, qua khảo sát tại đơn vị, bản thân nhận thấy công tác giảng
dạy của giáo viên lịch sử đối với bài Tổng kết và nhận thức của học sinh về kiểu bài
này còn nhiều hạn chế.
Thứ nhất, nội dung kiến thức môn Lịch Sử lớp 12 bao gồm cả lịch sử thế giới
và lịch sử Việt Nam rất nhiều giai đoạn, nhiều sự kiện. Đặc biệt trong hai bài tổng
kết với nội dung khá dài: Tổng kết lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 đến 2000 phải hệ
thống lại kiến thức cho học sinh từ bài 1 đến bài 10; Tổng kết lịch sử Việt Nam từ
1919 đến 2000 phải tổng kết toàn bộ quá trình lịch sử Việt Nam từ sau chiến tranh
thế giới thứ nhất đến nay (1919-2000) với khối lượng kiến thức tương ứng 32 tiết lí
thuyết đã được cung cấp qua 16 bài. Trong khuôn khổ 1 tiết, với lượng kiến thức lớn
cần khái quát (mà đã học từ lâu) đòi hỏi giáo viên phải hệ thống một lượng kiến thức
lớn, phân tích, kết nối các sự kiện lịch sử…trong khi giáo viên rất khó có thể lược
dạy hay cho học sinh tự học vì sợ thi vào học sinh không làm được và ảnh hưởng đến
chất lượng chuyên môn. Nên sẽ khiến học sinh khó nhớ, khó hiểu và dễ gây ra tâm lí
nhàm chán, khó thu hút được học sinh vào nội dung của bài học
Thứ hai, Bài tổng kết lịch sử là kiểu bài mà nội dung và phương pháp tiến
hành khác với kiểu bài cung cấp kiến thức mới. Nhưng đã số giáo viên vẫn chưa đổi
mới về phương pháp, chưa xác định đúng phương pháp khi vận dụng vào bài, vẫn
vận dụng lối dạy học truyền thống, thầy đọc, trò chép, thầy hỏi, trò liệt kê lại các nội
dung trong sách; câu hỏi thầy đưa ra vẫn chủ yếu là câu hỏi mức độ nhận biết, thông
hiểu, rất ít các câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng, liên hệ…Chính vì vậy, với cách
dạy như lối cũ sẽ biến giờ tổng kết lịch sử thành dạy lại kiến thức; chỉ sau khi tiết
học kết thúc là kiến thức cũng trả cho giáo viên không có gì đọng lại trong các em.
Hiện nay, học sinh có trình độ, học lực không đều, đối với học sinh trung bình, yếu
các em không thích học tiết tổng kết, ôn tập; riêng đối tượng học sinh cá biệt thì khả
+ Bản thân môn học với đặc trưng là nhiều giai đoạn, nhiều sự kiện, đặc biệt là
kiểu bài Tổng kết với khối lượng kiến thức lớn. Khiến cho việc vận dụng các phương
pháp, kỹ thuật dạy học tích cực chưa thực sự hiệu quả.
- Nguyên nhân chủ quan:
- 17 -
+ Bản thân giáo viên vẫn phải luôn trau dồi kiến thức mỗi ngày để đáp ứng
yêu cầu của công việc. Nhưng năng lực và thời gian tự học của người viết sáng kiến
có hạn.
+ Việc nghiên cứu khoa học một cách tỉ mỉ, và toàn diện chưa đảm bảo. Một
số vấn đề khoa học nghiên cứu còn hời hợt và đối phó dẫn đến hiệu quả học tập bộ
môn chưa cao.
+ Thời gian và chất lượng tự học của học sinh không đảm bảo. Trong khi đó
không có sự giám sát của gia đình. Việc chủ động tìm tòi, rở rộng kiến thức của học
sinh chưa cao, chưa được thường xuyên và hiệu quả nên khi giáo viên bận dụng các
phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh thì đa số học sinh chưa đáp ứng
được yêu cầu.
3. Các giải pháp thực hiện
Chương trình lịch sử lớp 12 chia làm 2 phần: Lịch sử thế giới và Lịch sử Việt
Nam. Chương trình lịch sử thế giới từ năm 1945 đến năm 2000 có thể khái quát
thành hai giai đoạn:
- Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1991.
- Giai đoạn từ sau năm 1991 đến năm 2000.
Chương trình lịch sử Việt Nam gồm 5 giai đoạn:
- Giai đoạn từ 1919-1930.
- Giai đoạn 1930-1945.
- Giai đoạn 1945-1954.
- Giai đoạn 1954 -1975.
- Giai đoạn 1975-2000
* Các thức tiến hành:
Bước 1: Giáo viên chia lớp thành các nhóm nhỏ (4 hoặc 6 học sinh/nhóm); có
thể chia nhóm trước để chuẩn bị ở nhà hoặc chia nhóm trên lớp để trực tiếp tìm hiểu
kiến thức.
Bước 2: Giáo viên đặt câu hỏi cho các nhóm (có thể là 1 câu hỏi chung hoặc
câu hỏi riêng cho từng nhóm)
- 19 -
Giáo viên đưa sẵn mẫu bảng biểu để học sinh thào luận và trả lời theo mẫu.
Bước 3: Các nhóm trao đổi, thảo luận và trình bày kết quả.
Bước 4: giáo viên nhận xét, phân tích thêm và chốt kiến thức.
Ví dục khi học bài tổng kết lịch sử thế giới, để giúp học sinh nắm được các
xu thế phát triển của thế giới sau chiến tranh lạnh, giáo viên có thể hướng dẫn học
sinh lập bảng niên biểu liệt kê các sự kiện, nội dung cơ bản của giai đoạn. Bảng niên
biểu sử dụng trong mục II- Xu thế phát triển của thế giới sau chiến tranh lạnh, chia
làm 2 cột dọc gồm: Xu thế, biểu hiện của xu thế. Giáo viên hướng dẫn học sinh hoàn
thiện theo mẫu:
TT
Xu thế
Biểu hiện
1
Tất cả các quốc gia đều ra sức điều - Các quốc gia xây dựng sức mạnh tổng
chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh hợp quốc gia, thay thế chạy đua vũ
tế làm trọng điểm.
trang.
- Xây dựng nền tài chính vững chắc,
nền công nghệ cao, quốc phòng hùng
mạnh.
2
Giáo viên đưa cho nhóm bảng mẫu và yêu cầu:
Phong
trào Nội dung
1930-1931
1936-1939
1939-1945
Chống phong kiến Chống đế quốc và phong Đánh đổ đế quốc và tay sai.
và đế quốc.
kiến .
Độc lập dân tộc Tự do – cơm áo- hòa bình. Tịch thu ruộng đất của đế quốc
Khẩu hiệu
người cày có
và việt gian chia cho dân cày
ruộng.
Mặt trận dân tộc Mặt trận nhân dân phản đế Mặt trận thống nhất dân tộc
Mặt trận
thống nhất chống
Đông Dương.
phản đế Đông Dương.
đế quốc và tay sai.
Đấu tranh chính trị Kết hợp các hình thức Đấu tranh đánh đổ chính quyền
Hình thức,
là chủ yếu.
công khai và bí mật, hợp
của đế quốc và tay sai.
phương pháp
Đại hội lần thứ VI của Đảng- mở đầu công cuộc đổi mới đất nước.
Việt Nam và Mĩ bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia ĐNA
(ASEAN)
- 21 -
2008-2009
Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ
Ví dụ, khi dạy bài 27: Tổng kết lịch sử Việt Nam từ 1919-2000, tìm hiểu về
giai đoạn 1930-1945, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh hệ thống kiến thức một
cách tổng quan, hiểu rõ được quy luật phát triển của lịch sử, thấy được mối quan hệ
lôgíc giữa các giai đoạn lịch sử và đặc biệt hiểu được một cách khái quát nhất trọng
tâm kiến thức của cả chương, từ đó xác định được những vấn đề cơ bản của từng bài
và tránh được tình trạng nhầm lẫn kiến thức giữa bài này với bài kia.
CM tháng Tám
thành công
CTTG2 bùng nổ, Pháp
thực hiện chính sách thời
chiến-> Đảng chuyển
hướng chỉ đạo chiến lược
cách mạng trong HN6,
HN8
-Nguy cơ chiến tranh
phát xít
- Chính sách tiến bộ của
Phong trào CM
1932-1935
- Tác động khủng hoảng
kinh tế 1929 -1933
- Pháp khủng bố trăng sau
khởi nghĩa Yên Bái
- Đảng Cộng sản Việt Nam
Phong trào CM
1930-1931
ra đời
- Đấu tranh giữ vững lập
rường của Đảng
- ĐH lần 1 của Đảng
(3/1935); –Phong trào CM
được phục hồi
- Khẳng định đường lối của
Đảng
- Xây dựng liên minh công –
nông
- Thành lập chính quyền Xô
viết
- Là cuộc diễn tập đầu tiên
Đảng CS Việt Nam
ra đời (3/2/1930)
- Vẽ sơ đồ tư duy hệ thống lý thuyết phần đọc hiểu:
* Các điều kiện thực hiện:
- Máy tính xách tay hoặc máy tính bàn có kết nối internet; phòng học có máy
chiếu.
- GV nghiên cứu, tìm hiểu phần mềm vẽ sơ đồ tư duy Imindmap 9.0
* Các thức tiến hành:
Bước 1: GV hệ thống hóa kiến thức thuyết bằng vẽ sơ đồ tư duy (Thực hiện
khi thiết kế bài học)
Bước 2: Cách khai thác, sử dụng Sơ đồ tư duy trong tiết học: Theo nội dung
bài tổng kết, ôn tập lịch sử; GV sử dụng một cách linh loạt trong giảng dạy, hướng
dẫn học sinh.
Lưu ý: Để khai thác, sử dụng hiệu quả GV cấn giới thiệu cho HS các yêu
cầu chung về cách “ghi chép” có hiệu quả trên BĐTD gồm các nội dung sau:
1). Dùng từ khóa và ý chính.
2). Viết cụm từ, không viết thành câu
3). Dùng các từ viết tắt.
4). Có tiêu đề.
5). Đánh số các ý
6). Liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số, màu sắc,…
7). Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng
8) Sử dụng màu sắc để ghi.
Ví dụ khi dạy bài 27 Tổng kết lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 2000, giáo viên có
thể hướng dẫn học sinh ôn tập lại kiến thức bằng sơ đồ tư duy:
- 24 -
* Kết quả thực hiện:
Khái quát kiến thức bằng sơ đồ tư duy là biện pháp đầu tiên làm cơ sở GV rèn
luyện, nâng cao kỹ năng khái quát, tổng hợp kiến thức.
Để phát huy tôi đa hiệu quả của sơ đồ tư duy trong ôn tập GV cần: Mỗi GV