Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trải nghiệm sáng tạo về đề tài người lính trong thơ ca kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc mỹ ở chương trình ngữ văn 12 - Pdf 47

A. MỞ ĐẦU:
1. Lý do viết sáng kiến:
Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập. Thực tiễn đặt ra đòi hỏi phải đổi
mới giáo dục. Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là chìa khóa mở ra con đường
đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là mệnh lệnh của cuộc sống. Đảng ta
đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn
nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự
phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt
Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước
nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”. Trọng trách này đặt lên đôi vai và sứ mệnh
người thầy, những người làm công tác giáo dục. Vì sản phẩm của họ là con
người. Điều này đòi hỏi người dạy phải tự đổi mới, nâng tầm cao tri thức và đổi
mới phương pháp, hình thức giảng dạy cho phù hợp. Một trong những PPDH ưu
việt là PPDH hoạt động TNST trong môn Ngữ văn.
Như chúng ta đã biết, môn Ngữ Văn là một trong những môn khoa học
quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân bậc THPT. Xét về phương diện đặc
trưng bộ môn, Ngữ Văn là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội nhân văn. Bộ
môn giúp học sinh hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời sống và tâm
hồn con người; giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ để giao tiếp nhận thức về
cuộc sống, nâng cao năng lực thẩm mỹ, định hướng thị hiếu lành mạnh cho học
sinh. Đồng thời nhìn về phương diện khác, môn Ngữ văn là môn học thuộc
nhóm công cụ. Điều này nói lên mối quan hệ giữa Ngữ văn với các môn học
khác, các lĩnh vực nghệ thuật khác và đời sống. Cho nên, tự nó đã đã toát nên
yêu cầu tăng cường thực hành và gắn với đời sống từ lý thuyết những bài học
của môn Ngữ Văn. Xuất phát từ đặc trưng và căn cứ trên, môn Ngữ Văn ngoài
trang bị cho học sinh những kiến thức chung nhất của môn học còn là môn học
có nhiều điều kiện thuận lợi nhất rèn luyện nhân cách cho học sinh. Môn Ngữ
Văn giúp các em khi ra trường không chỉ được trang bị một hành trang tri thức
mà các em còn được trang bị đầy đủ về đức, trí, thể, mĩ để trở thành những công
dân tốt, chủ nhân tương lai của đất nước.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:

dẫn đến thực trạng sợ học, chán ghét môn Ngữ Văn. Với học sinh trường
THPT .: đa số là học sinh dân tộc ở vùng sâu xa của tỉnh miền núi nhận thức còn
chậm, tỷ lệ học sinh học lực yếu, kém còn nhiều dẫn đến nhận thức, vận dụng
các vấn đề từ tác phẩm văn chương vào giải quyết vấn đề thực tiễn cuộc sống
còn hạn chế. Giáo viên có khi nản trước thực trạng học sinh nên không thực sự
đầu tư cho chuyên môn dẫn đến tiết học nhiều khi sơ sài, chỉ dạy những nội
dung trong sách giáo khoa mà không có sự đầu tư tìm tòi làm phong phú cho
môn học. Thực trạng này tồn tại và kéo dài dẫn đến việc học sinh khi học văn
phải tiếp xúc với những tác phẩm văn chương vốn có những lớp nghĩa trừu
tượng khiến học sinh ngày càng ngại học. Hệ luỵ tất yếu làm tiết học văn nhàm
chán, mệt mỏi cho hoạt động dạy và học của cả giáo viên và học sinh.
Năm học 2016 - 2017 là năm học đầu tiên Sở GD&ĐT Sơn La chỉ đạo
thực hiện HĐTNST, đưa nội dung TNST vào giảng dạy, áp dụng ở tất cả các bộ
môn, trong đó có môn Ngữ văn. Đây là nội dung mới có nhiều hứng thú đối với
GV, HS. Song cũng là thách thức, khó khăn vì quá trình thực hiện, vận dụng
HĐTNST còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng.
Xuất phát từ những lí do trên, qua khảo sát nghiên cứu về vấn đề tôi thấy
việc thực hiện trải nghiệm sáng tạo trong giảng dạy ở nhà trường nói chung và
trong môn Ngữ văn nói riêng là vô cùng cần thiết, hiệu quả. Bởi vậy, tôi chọn
nghiên cứu đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trải nghiệm sáng
tạo về đề tài người lính trong thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ ở chương trình Ngữ văn 12..".
2. Mục tiêu sáng kiến:
- Với học sinh: Hình thành và phát triển những phẩm chất, tư
tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực
chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại. Đồng thời bước đầu
cơ bản được định hướng theo lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với cá nhân để lựa
chọn hướng phát triển, tiếp tục học lên hoặc bước vào cuộc sống lao động.

2


GV Ngữ văn nói riêng phải chú trọng đẩy mạnh và thực hiện hiệu quả HĐTNST
trong nhà trường, gắn với từng bộ môn, kiến thức cụ thể.
1.2. Cơ sở chính trị pháp lý
1.2.1.Cơ sở chính trị:
Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học đang là vấn đề được Đảng,
Nhà nước, các cơ sở giáo dục và toàn xã hội quan tâm. Trong điều kiện phát
triển nền kinh tế hội nhập như ngày nay thì việc nâng cao chất lượng giáo dục để
đảm bảo mỗi con người sau khi rời môi trường học tập sẽ được trang bị không
chỉ là kiến thức mà còn cả những kĩ năng để dễ bắt nhịp vào cuộc sống, tham gia
lao động sản xuất và đạt kết quả cao là việc làm vô cùng cần thiết.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung Ương 8 khóa
XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Nghị quyết đặt ra mục tiêu
cụ thể : “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình
thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định
hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú
trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học,
năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”. Nghị quyết
đặt ra nhiệm vụ: Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất
người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ.
Trong Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 có ghi
rõ, khẳng định: "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển giáo dục gắn với phát
triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất
lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành để một
mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng
thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu

văn chương mang tính trừu tượng cao. Mỗi tác phẩm văn chương là một thế giới
nghệ thuật nhưng cũng là đời sống. Vì thiên chức thiêng liêng của văn học là
phản ánh chân thực hiện thực đời sống. Qua tác phẩm văn chương trong nhà
trường sẽ giúp học sinh có được kiến thức và hình thành năng lực, kĩ năng
sống… Đồng thời kiến thức trong các bài học cũng liên quan mật thiết đến kiến
thức của các môn khoa học khác, đời sống. Việc vận dụng phương pháp dạy học
TNST, HĐTNST vào quá trình dạy học môn Ngữ văn không những tạo ra hứng
thú cho học sinh trong quá trình học mà mặt khác còn tạo ra sự liên kết và khoa
học của bộ môn góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy đáp ứng yêu cầu của
giáo dục hiện nay.
1.2.2. Cơ sở pháp lý:
Quan điểm về nội dung và phương pháp giáo dục của Nhà nước ta là giáo
dục toàn diện. Điều 5 Luật Giáo dục ghi rõ: "Nội dung giáo dục phải đảm bảo
tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống'. Điều 28 quy định: "
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động
sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho học sinh".
Theo công văn số: 1037 /SGDĐT-GDPT của Sở GD&ĐT Sơn La, ngày
22 tháng 8 năm 2016 hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục theo định hướng
phát triển năng lực học sinh. Công văn có yêu cầu đưa HĐTNST vào các môn
học, đưa 4% tổng số tiết vào PPCT các môn học, áp dụng thực hiện trong năm
học 2016 - 2017.
Kế hoạch giáo dục số: 10/KH-THPTSC, ngày 25 tháng 08 năm 2016 của
trường THPT Sốp Cộp cũng chỉ đạo thực hiện nghiêm túc công văn số 1037 của
Sở GD&ĐT Sơn La về HĐTNST trong các môn học.
Kế hoạch số: 01/KH-TCM , ngày 29 tháng 08 năm 2016 của tổ chuyên
môn Ngữ văn trường THPT … yêu cầu thực hiện nhiệm vụ mục tiêu của
HĐTNST và nghiêm túc, yêu cầu hiệu quả HĐTNST đối với môn Ngữ văn

GV không tổ chức, không phân công học sinh một cách trực tiếp mà chỉ hướng
dẫn, hỗ trợ, giám sát cho tập thể hoặc cá nhân HS tham gia trực tiếp hoặc ở vai
trò tổ chức hoạt động, giúp HS chủ động, tích cực trong các hoạt động; phạm vi
các chủ đề hay nội dung hoạt động và kết quả đầu ra là năng lực thực tiễn, phẩm
chất và năng lực sáng tạo đa dạng, khác nhau của các em. Học từ trải nghiệm
(hoạt động trải nghiệm) gần giống với học thông qua làm, qua thực hành nhưng
học qua làm là nhấn mạnh về thao tác kỹ thuật còn học qua trải nghiệm giúp
người học không những có được năng lực thực hiện mà còn có những trải
nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lý khác. Học qua làm chú ý
đến những quy trình, động tác, kết quả chung cho người học nhưng học qua trải
nghiệm chú ý gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân. Như vậy, HĐTNST là
hoạt động giữ vai trò rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông .
Hoạt động này giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những
kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lực thực tiễn cũng như
phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân . Hoạt động này đòi hỏi GV phải thay
đổi nhận thức, ý thức về cái mới của hoạt động này, tránh sự hiểu nhầm rằng
ngoài giờ thì không quan trọng, không có vị trí xứng đáng; hoặc là đơn giản hóa
nội dung, mục đích của hoạt động này, không chỉ “trăm hay không bằng tay
quen” mà là phương pháp và mục tiêu giáo dục.
9


Với HĐTNST về đề tài người lính trong thơ ca kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mĩ ở chương trình Ngữ văn 12 tại trường THPT ………:
GV hướng dẫn, hỗ trợ, định hướng cho HS tham gia TNST về cuộc sống người
lính qua văn bản thơ về chủ đề người lính đã được học ở chương trình hiện hành
ngữ văn lớp 12. Qua hoạt động này giúp HS củng cố, khắc sâu thêm kiến thức
của văn bản được học. Đồng thời phát triển năng lực cho học sinh như: Năng lực
hoạt động và tổ chức hoạt động; năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống khi gặp
những vấn đề thực tiễn cuộc sống nảy sinh ; năng lực tự nhận thức và tích cực

hoạt chuyên môn, xây dựng chuyên đề dạy học, tham gia trường học trực tuyến,
dự giờ, rút kinh nghiệm, sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học. Tất cả
những hoạt động này đều có yêu cầu cụ thể với đổi mới PPDH, HĐTNST của
môn Ngữ văn trong nhà trường. Như vậy, HĐTNST của bộ môn Ngữ văn đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp, tổ chức trong nhà
trường THPT Sốp Cộp. Đặc biệt nhà trường cũng đã đưa nguồn kinh phí sử
dụng cho hoạt động TNST trong nhà trường. Yếu tố này đã tác động không nhỏ,
10


hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả của phương pháp dạy
học, hoạt động TNST này.
GV của tổ chuyên môn Ngữ văn đều đã được tập huấn, nhận thức đúng
đắn và sâu sắc về vai trò tác dụng của đổi mới đưa HĐTNST trong giảng dạy bộ
môn. Từ đòi hỏi của thực tiễn và môn học, giáo viên đã thường xuyên học tập
nâng cao trình độ, theo dõi các phương tiện thông tin để bổ sung, làm phong phú
hơn cho bài giảng của mình. Do đó tạo nên sức thu hút đối với học sinh. Đặc
biệt, tổ Ngữ văn đã đưa các HĐTNST cụ thể vào phân phối chương trình môn
Ngữ Văn thực hiên trong năm học 2016 - 2017. Trong 4% tổng số tiết của PPCT
môn học dành cho HĐTNST ở chương trình học lớp 12 có nội dung TNST là:
"Hoạt động trải nghiệm sáng tạo về đề tài người lính trong thơ ca kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ ở chương trình Ngữ văn 12". Nên
việc trao đổi, thực hiện đổi mới PPDH trải nghiệm sáng tạo trong giảng môn
Ngữ Văn có nhiều thuận lợi.
Nội dung chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn cấp THPT đã có nhiều
thay đổi, cải biên cho phù hợp với yêu cầu thực tế của thời đại theo hướng tích
hợp và giảm tải. Các văn bản thơ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ đều được bố trí gọn trong chương trình Ngữ văn 12 học kỳ I. Đồng thời tổ
chuyên môn cũng thực hiện xây dụng chủ đề dạy học "Hình ảnh người lính
trong văn bản thơ lớp 12" tham gia "kết nối trường học" từ năm học 2014 2015. Như vậy, chủ đề này đã được tổ Ngữ văn trường THPT …… áp dụng thực

chủ quan, tùy hứng, thiếu sự chuẩn bị, thiếu kế hoạch; chưa hiểu rõ quy trình
chuẩn bị để thực hiện dạy học theo PPDH TNST làm ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng giáo dục của môn Ngữ Văn.
Thứ ba, về phía HS tại trường THPT ………, bên cạnh mặt tích cực nêu
trên các em cũng còn những hạn chế như: còn lười học, mải chơi, tâm lí còn ỷ
nại, trông chờ chưa chủ động tiếp cận kiến thức. Đồng thời, nhận thức của học
sinh còn hạn chế, chậm tiến so với mặt bằng chung học sinh cả nước và tỉnh Sơn
La; một bộ phận học sinh có suy thoái về đạo đức gây khó khăn, cản trở việc
triển khai HĐTNST trong giảng dạy Ngữ văn. Điều này ảnh hưởng không nhỏ
đến chất lượng giáo dục bộ môn. Vì vậy, việc tạo hứng thú qua HĐTNST cho
các em trong các bài học, chương trình TNST của môn Ngữ văn là vấn đề rất
quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy và học.
Thứ tư, năm học 2016-2017 là năm học đầu tiên đưa TNST vào giảng dạy,
HĐTNST vào PPCT môn Ngữ văn. Điều này mang tới nhiều mới mẻ, bỡ ngỡ,
lúng túng trong dạy và học của bộ môn Ngữ văn không những cho học sinh mà
cho cả giáo viên giảng dạy.
Thứ năm, thời lượng dành cho HĐTNST còn ít, 02 tiết. Với thời lượng
không nhiều cũng là một khó khăn, thách thức cho cả GV và HS khi TNST như
thế nào để đạt hiệu quả.
Từ những nhận thức trên và từ kinh nghiệm của bản thân tôi nhận thấy:
Trong giảng dạy môn Ngữ văn nếu giáo viên biết thực hiện, vận dụng hiệu quả
phương pháp dạy học TNST; tiến hành tổ chức HĐTNST; kết hợp nhiều phương
pháp dạy học, nhiều nguồn thông tin và kết hợp với các ví dụ thực tiễn trong bài
giảng để gây hứng thú cho học sinh là điều rất quan trọng quyết định lớn đến
chất lượng dạy và học của bộ môn. Đặc biệt là những tác phẩm văn chương vốn
là những câu chuyện đời sống sẽ được học sinh vận dụng hình thành năng lực
cho bản thân, giải quyết các vấn đề thực tiễn của cuộc sống.
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trên.
- Xuất phát từ đặc trưng bộ môn Ngữ văn: Môn Ngữ văn không chỉ là
một bộ môn khoa học mà còn là ngành nghệ thuật. Bởi vậy chứa đựng trong nó

các giờ Ngữ văn trên lớp gắn với những tác phẩm: Giáo viên soạn giáo án,
hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài theo câu hỏi trong sách giáo khoa. GV thường
đặt nặng mục tiêu dạy hết bài, đúng giờ, đúng chương trình hơn mục tiêu hình
thành năng lực tổ chức hoạt động giáo dục cho HS. Điều này dẫn đến sự tương
tác của GV với HS ít nên không có cái nhìn đa chiều, đôi khi tự bằng lòng với
chính mình nên nhiều khi không có cơ hội nhìn lại mình để tự nâng cao năng lực
truyền đạt ( phương pháp) cũng như năng lực về chuyên môn. Bài giảng văn trở
thành giáo điều, khô khan, khó tiếp nhận. Giáo viên chưa có điều kiện bộc lộ hết
nghiệp vụ sư phạm của mình, không có điều kiện làm việc chung với cả tổ nhóm
để nâng cao hiệu quả chuyên môn cũng như trao đổi rút kinh nghiệm. Nguyên
nhân nữa xuất phát từ hạn chế của phương pháp dạy hiện nay: đúng là có đổi
mới, nhưng mới chỉ là đổi mới về cách sử dụng phương tiện dạy học – từ bảng
sang máy chiếu, từ hình dung tưởng tượng đến quan sát trực quan bằng hình ảnh
minh họa sinh động; còn cơ bản vẫn là dạy theo cách cũ. Vẫn cứ bám sát vào
SGK, nói những cái trong SGK đã có; một phần quan trọng , đó là thực hành lại
cho HS về nhà tự làm – nói vội vào lúc cuối giờ coi như dặn dò để kết thúc tiến
trình lên lớp. Đó là một bất cập mà chúng ta đều trải qua trong quá trình giảng
dạy. Vẫn tâm lí áp lực cháy giáo án, đi thi phải tái hiện kiến thức nên chỉ chú
trọng giảng tất cả kiến thức lí thuyết mà quên mất học sinh cần được thực hành
cụ thể. Học đi đôi với hành mới mang lại hiệu quả như mong muốn. Vì vậy, hoạt
động TNST là hình thức tối ưu nhất có thể đem đến một sự thực hành thú vị cho
HS sau những giờ học căng thẳng, mệt mỏi.
Tác dụng của hoạt động TNST được khẳng định ở chỗ nó gắn kết được
giữa lí thuyết với thực hành, làm cho vốn kiến thức của HS được liên kết, được
mở rộng và củng cố sâu hơn (vì nguồn tư liệu sưu tầm được rất phong phú và đa
dạng, biết cách xử lí tư liệu, phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề). Điều này
theo phương pháp dạy học mới rất có ý nghĩa và quan trọng trong việc thực hiện
13



Khảo sát nhu cầu: Trước khi tiến hành HĐTNST, tôi đã khảo sát thực tiễn
bằng phiếu thăm dò để định hướng nội dung, phương pháp TNST sát với thực
tiễn, cụ thể theo mẫu và thu được kết quả :
TT

Lớp

Sĩ số

Mức độ hiểu
HĐTNST

Đã
biết
1
2
3

12B1
12B3
Tổng

35
40
75

15
10
25


người lính
Đã
Chưa Hứng Không
biết
biết
thú
hứng
thú
14
21
32
2
16
24
30
10
30
45
62
12


Từ khảo sát trên cho thấy phần lớn học sinh chưa biết HTNST là gì?
Đồng nghĩa với HS chưa hiểu rõ bản chất, vai trò, chức năng của HĐTNST. Bên
cạnh đó, một phần không nhỏ HS rất hứng thú với TNST, biết và muốn trải
nghiệm sáng tạo về cuộc sống người lính trong chiến tranh và thời bình. Điều
này đặt ra cả những khó khăn, thách thức và những thuận lợi cho GV tiến hành
TNST.
Muốn tiến hành HĐTNST gắn với nội dung của sáng kiến, cần phải có
các điều kiện cơ bản. Tôi đã tiến hành khảo sát điều kiện tiến hành cơ bản cho

1 chiếc
1 chiêc
1 bộ
6 chiếc

Có đủ
Có đủ
Có đủ
3 chiếc

10 bộ trang phục
bộ đội…
120 chỗ ngồi
Nhà trường cấp
đủ

Có đủ (trang phục
của môn QPAN)
Có đủ
Có đủ

Chưa


Giải pháp

3 chiếc

Mượn gia đình GV,
HS

2,66


Thái

34

45,33

Lào

23

30,69

Mường

01

1,33

H’Mông

14

18,66

Khơ mú

01


17

100

Có sự khác biệt độ tuổi của học sinh do đặc điểm có nhiều em đi học muộn,
chủ yếu các em là dân tộc thiểu số. Đặc điểm về độ tuổi cũng ảnh hưởng tới khả
năng tiếp thu bài của học sinh.
Về học lực qua khảo sát đầu năm: học lực chiếm đa số đó là học sinh có mức
học trung bình (46,68,6%), Số học sinh còn yếu kém chiếm tới 26,66%, học sinh
khá chiếm tỉ lệ 24,00%, học sinh giỏi chỉ đạt 2,66%. Tỷ lệ học sinh trung bình
và yếu còn cao, vẫn còn học sinh kém.
(Bảng phân bố học lực năm học 2015- 2016 của học sinh được nghiên cứu)
Học lực

Số lượng

%

Giỏi

2

2,66

Khá

18

24,00

16


Học lực

Số lượng

%

Giỏi

3

4,00

Khá

17

22,66

Trung bình

40

53,34

Yếu

12


17

22,66

3

4,00

75

100%

Trung bình
Tổng số

Hạnh kiểm học sinh cũng ảnh hưởng đến hứng thú trong học tập, các em
có hạnh kiểm tốt thường ngoan, chăm học, chịu học. Từ đó có kết quả học tập
cao, có hứng thú đam mê học tập. Ngược lại, những học sinh có hạnh kiểm chưa
tốt thường ý thức học tập kém, học yếu và có tư tưởng chán học. Tỷ lệ học sinh
có hạnh kiểm khá và trung bình còn cao đòi hỏi giáo viên cần quan tâm hơn về
tâm lí học sinh và đầu tư bài giảng để luôn tạo được sự mới lạ, lôi cuốn thu hút
sự tham gia tích cực của học sinh.
Việc hiểu rõ đặc điểm học sinh tham gia vừa giúp GV thiết
kế hoạt động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, vừa giúp có các biện
pháp phòng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh.
3.2 - Bước 2: Đặt tên cho hoạt động
Đặt tên cho hoạt động TNST là một việc làm cần thiết vì
tên của hoạt động tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội
dung, hình thức của hoạt động. Tên hoạt động cũng tạo ra được

cứ vào PPCT môn Ngữ văn 12 của trường THPT … áp dụng cho năm học 2016
- 2017: có xây dựng chủ đề dạy học " thơ kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ"; PPCT thực hiện công văn 1037 của Sở GD&ĐT Sơn La cũng
dành thời lượng 2 tiết cho HĐTNST môn Ngữ văn của học kỳ I sau khi dạy các
tác phẩm thơ 12 học kỳ I. Trên những cơ sở trên tôi đã đặt tên cho HĐTNST là
"hoạt động trải nghiệm sáng tạo về đề tài người lính trong thơ ca kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ." Trong đó những có hoạt động nhỏ như:
- TNST qua xem phim về người lính;
- TNST qua trò chơi tập làm nghệ sĩ;
- TNST qua trò chơi hệ thống hóa kiến thức trả lời câu hỏi;
- TNST qua trò chơi vẽ tranh; sáng tác và cảm nhận
3.3. Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động TNST
Mỗi hoạt động nhỏ đều thực hiện mục đích chung của chủ
đề trải nghiệm sáng tạo về đề tài người lính trong thơ ca kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Song GV cần xác định mục tiêu chung
và những mục tiêu cụ thể của những hoạt động nhỏ đó.
GV cần xác định được mục tiêu của các hoạt động, thực
chất là dự kiến trước kết quả của hoạt động. Các mục tiêu hoạt
động cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản
ánh được các mực độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức,
kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị.
Khi xác định đúng mục tiêu sẽ có các tác dụng là: Định
hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều
chỉnh hoạt động; căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động; Kích
18


thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò. Tùy theo chủ đề
của HĐTNST, đặc điểm HS và hoàn cảnh riêng của mỗi lớp mà
hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa và mang màu sắc riêng.

nước, ý chí vượt khó của người lính. Qua đó tự rút ra bài học cho cá nhân.Từ đó,
hình thành nhân cách: có tinh thần cảm phục, ngưỡng mộ người lính; ý thức
trách nhiệm công dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau
HĐTNST cần có ở mỗi HS là biết sống yêu thương, tự chủ và trách nhiệm.
+ Học sinh tích cực học tập bộ môn, hăng say nghiên cứu khoa học.
3.4. Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp,
phương tiện, hình thức của hoạt động
Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc
xác định đầy đủ và hợp lý những nội dung và hình thức của hoạt
động.

19


Trước hết, căn cứ vào chủ đề HĐTNST về đề tài người lính trong
thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ , các mục tiêu đã
xác định ở bước 3, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp 12B1,
12B3, điều kiện của nhà trường và khả năng của học sinh cần
xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động. Cần liệt kê
đầy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện. Cụ thể:
- HĐTNST qua xem phim về người lính;
- TNST qua trò chơi tập làm nghệ sĩ;
- TNST qua trò chơi hệ thống hóa kiến thức trả lời câu hỏi;
- TNST qua trò chơi vẽ tranh; sáng tác và cảm nhận.
Từ nội dung trên của HĐTNST. Bản thân tôi chọn hình thức TNST thảo
luận kết hợp với trò chơi. Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn;
là món ăn tinh thần nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con
người nói chung và đặc biệt, đối với thanh thiếu niên học sinh nói riêng, những
trò chơi phù hợp nhiều khi có tác dụng giáo dục rất tích cực. Trò chơi là hình
thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực


- ''Mùi cỏ cháy" (sản xuất 2012), đạo diễn: Nguyễn Hữu Mười, kịch
bản: Hoàng Nhuận Cầm. Bộ phim gặt hái được nhiều thành công khi đoạt tới 4
giải Cánh diều vàng năm 2012. Phim là một bản anh hùng ca về những người
lính trong trận chiến một mất một còn tại thành cổ Quảng Trị, một trong những
chiến trường ác liệt nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Nội dung phim
xoay quanh bốn chàng sinh viên Hoàng, Thành, Thăng, Long, là sinh viên
trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tạm biệt cuộc sống sinh viên và đeo ba lô ra
chiến trường. Ba trong số bốn chàng trai này đã mãi mãi ở lại thành cổ, góp
phần vào chiến thắng chung của đất nước.
- "Biệt động Sài Gòn" ( sản xuất 1986, tái hiện kháng chiến chống Mĩ)
Đạo diễn: Long Vân, kịch bản: Lê Phương, Nguyễn Thanh. Bộ phim gồm 4 tập:
Điểm hẹn, Tình lặng, Cơn giông, Trả lại tên cho em, là một bản anh hùng ca về
những chiến sĩ Sài Gòn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trước năm 1975. Nội
dung phim nói về Tư Chung (tư lệnh trưởng Biệt động Sài Gòn) cùng người
đồng đội Ngọc Mai, cùng giả danh thành người chủ hãng sơn giàu có. Không chỉ
che mắt chính quyền Việt Nam Cộng hòa, hai người còn phải thực hiện nhiệm
vụ tình báo, trực tiếp chỉ huy đồng đội tham gia chiến đấu. Trong nhiều tình
huống, họ phải đứng trước những quyết định khó khăn, trước sự tranh đấu giữa
lý trí và tình cảm nhưng nhiệm vụ dân tộc luôn được đặt lên trên hết.
* Phương pháp tiến hành:
- GV:
+ GV chia 2 lớp 12B1, 12B3 ngồi theo tổ, nhóm. Mỗi lớp
thành lập 1 đội chơi gồm 05 thành viên; nhóm cử và đề
xuất 01 nhóm trưởng, 01 thư kí.
+ GV chuẩn bị những trích đoạn phim, tổ chức cho HS
xem.
+ GV chuẩn bị câu hỏi và phiếu trả lời.Cụ thể:
Câu hỏi (CH) 1: Bằng kiến thức lịch sử, hình ảnh, clip trên gợi nhắc em
tới giai đoạn văn học nào trong bài khái quát văn học sử từ CM tháng 8 năm

+ CH3: Tây Tiến (Quang Dũng), Việt Bắc ( Tố Hữu), Đất nước ( Nguyễn
Đình Thi), Dọn về làng ( Nông Quốc Chấn), Đất nước ( Trích Trường ca Mặt
đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điểm), Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)
* Phương tiện thực hiện HĐTNST: Máy chiếu, phông
chiếu, loa để chiếu các clip phim về người lính trong hai cuộc
kháng chiến của dân tộc; 3 micro cho 2 đội chơi và khán giả;
phiếu trả lời.
* Hình thức: Chọn hình thức báo cáo, trình bày, thuyết
trình, thảo luận xen với trò chơi về vấn đề yêu cầu.
* Kết quả: Qua HĐTNST này HS đã trả lời được các câu
hỏi, hướng tới cũng cố khái quát hóa kiến thức của văn học sử
giai đoạn sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975.
4.2. TNST qua trò chơi tập làm nghệ sĩ ( Chuyển thể tác phẩm văn học
thành kịch bản diễn xuất.)
* Nội dung: HS chuyển thể một sự việc, một phân đoạn trong tác phẩm
dưới dạng tiểu phẩm (HS được lựa chọn theo hứng thú) – cho phép có sự sáng
tạo, hư cấu nhưng phải đảm bảo được tinh thần của văn bản, mang giá trị giáo
dục tiến bộ, lành mạnh. Ví dụ: Tâm trạng chia tay, lời thề lên đường lên đường
tham gia kháng chiến từ văn bản Tây Tiến, Việt Bắc, Đất nước, Dọn về làng;
Chia sẻ niềm vui, nỗi buồn khó khăn trong chiến đấu; tình nghĩa quan dân; Niềm
hạnh phúc, tự hào khi được sống và chiến đấu vì tổ quốc của người lính.
HS với kịch bản đã được viết từ trước đó cùng với quá trình tập luyện,
đây sẽ là lúc trình bày sản phẩm cụ thể. Các tiểu phẩm đảm bảo được chuyển thể
linh hoạt, sáng tạo, lành mạnh, trong sáng, chuyển tải được giá trị hoặc tư tưởng
của tác phẩm, tác giả và gây được sự hứng thú với người xem. Đây là cơ sở để
đánh giá năng lực sáng tạo và phát hiện năng lực của HS
* Phương pháp tiến hành
- GV:
+ GV giao nhiệm vụ cho HS: Tự xây dựng kịch bản với yêu
cầu nội dung như trên; các lớp tự xây dựng kịch bản, luyện tập.

nghiệm để phát triển năng lực giao tiếp, tư duy và tổ chức hoạt động gắn với
thực tiễn.
4.4. TNST qua trò chơi vẽ tranh:
* Nội dung: GV trình chiếu một số tranh ảnh liên quan mật thiết trong
đời sống người lính thời kỳ chiến tranh kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ. HS vẽ được một số bức tranh về người lính.
* Phương pháp tiến hành:
- GV:
+ GV trình chiếu trên Powerpoint một số tranh ảnh liên quan mật thiết
trong đời sống người lính thời kỳ chiến tranh kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ, như: Nhật ký mãi mãi tuổi 20, nhật ký Đặng Thùy Trâm, cây
súng, chiếc võng, ba lô, bình đựng nước ( bi đông), chiếc gậy, mũ, dép cao su...
GV giới thiệu sơ lược về các vật dụng và đời sống người lính trong thời chiến.
+ GV chuẩn bị phiếu ghi chữ các hình ảnh trên phông chiếu để tổ chức trò
chơi: nhìn chữ đoán hình và tiếp sức đồng đội.
+ GV chuẩn bị tranh in trên giấy, phiếu chấm: Phụ lục 01
- HS:
+ Đội chơi tham gia bằng việc: Cử người bốc phiếu ghi tên tranh, không
được dùng lời mà dùng cử chỉ diễn tả để đồng đội đoán hình. Sau đó người đoán
hình sẽ lấy tranh được GV in sẵn gắn lên phần bảng của lớp mình. . Điểm đạt
được bằng số tranh lấy đúng.
+ Mỗi đội chơi sẽ vẽ 2 tranh trong số tranh tìm được hoặc sáng tạo tranh
nếu đúng chủ đề của TNST về người lính.
* Phương tiện thực hiện: máy chiếu, phông chiếu, nội
dung trình chiếu trên Powerpoint, tranh in, giấy A3 để vẽ, bút
mày, bút chì, băng dính hai mặt để dán tranh, phiếu chấm - Phụ
lục 01.
* Hình thức: Thảo luận, trò chơi. HS thảo luận và nhận
xét về kết quả của sản phẩm trên các phương diện theo phiếu
chấm. GV nhận xét, trao đổi với HS.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status