“Một số giải pháp Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần thép Việt- Ý” - Pdf 47

Lời mở đầu
Công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc của Đảng và nhân dân ta đang
đợc tiến hành với tốc độ và quy mô lớn. Cùng với sự lớn mạnh của nền kinh tế
là các công trình xây dựng không ngừng mọc lên, kéo theo đó là nhu cầu về
thép phục vụ xây dựng các cấu kiện bê tông- một mặt hàng đợc sử dụng rất
nhiều trong các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, hạ tầng, giao
thông... cũng tăng lên nhanh chóng, tạo ra cơ hội, cũng nh thách thức không
nhỏ cho ngành thép nói chung và Công ty cổ phần thép Việt- ý nói riêng.
Đứng trớc vận hội lớn mà Đảng và Nhân dân giao phó, các doanh nghiệp
Nhà nớc đang không ngừng chuyển mình, với một loạt những cải cách và điều
chỉnh để phù hợp với môi trờng kinh doanh hiện nay. Ra đời trong tình hình
chung đó, Nhà máy thép Việt- ý dù mới chỉ đi vào hoạt động từ năm 2001, đã
quyết định tiến hành Cổ phần hoá vào đầu năm 2003 với tên gọi mới là Công ty
Cổ phần thép Việt- ý. Thép Việt- ý (VIS) ra đời cho thấy sự quyết tâm thực hiện
những nhiệm vụ trong 10 chơng trình định hớng và phát triển của Tổng công ty
Sông Đà đó là: Đầu t công nghệ tiên tiến, đào tạo nguồn nhân lực, tạo ra những
sản phẩm có chất lợng cao, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, sắp xếp đổi
mới doanh nghiệp nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trờng...
Tuy nhiên, để hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ đó là điều không hề đơn
giản, nhất là trong điều kiện thị trờng thép có sự cạnh tranh gay gắt nh hiện nay.
Qua thực trạng về sản xuất kinh doanh của Công ty, cũng nh của thị trờng thép,
có thể nhận thấy một trong những vấn đề mấu chốt hiện nay đối với Công ty là
phải nâng cao lực cạnh tranh, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trờng. Chính vì
vậy, bản luận văn này xin hớng vào đề tài: Một số giải pháp Marketing nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần thép Việt- ý, với hy
vọng đợc ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn và góp phần nhỏ bé đa
thơng hiệu thép Việt- ý ngày càng vững mạnh trên thị trờng thép Việt Nam.
1
Bản luận văn này chỉ là một trong vô vàn những bớc đi trên con đờng
nghiên cứu khoa học, nên chắc chắn còn nhiều sai sót và hạn chế. Kính mong
sự giúp đỡ và góp ý của thầy cô giáo và những lớp ngời đi trớc để bài viết này đ-

rất nhiều ý kiến của các cá nhân và tổ chức khác. Martin năm 1991 cho rằng:
Khả năng cạnh tranh là khả năng đạt đợc và duy trì một thị phần có lãi. Năm
1990, Tổ công tác về khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp
Canada (Canadas agri-Food Competitiveness Task Force) đã định nghĩa khả
năng cạnh tranh và cho rằng định nghĩa này có thể áp dụng cho một công ty,
một ngành, một lĩnh vực công nghiệp hay một nền kinh tế quốc gia đó là: khả
năng cạnh tranh là khả năng liên tục đạt đợc hay duy trì thị phần một cách có
lãi.
3
Nh vậy, khả năng cạnh tranh chỉ đạt đợc khi có lợi nhuận, mà phải là lợi
nhuận thu đợc từ thị trờng, từ cạnh tranh lành mạnh, chứ không phải là từ các
lợi thế không công bằng hay trợ cấp do Nhà nớc đa lại, và đi kèm với đó là thị
phần vững chắc hay tăng dần theo thời gian.
Bên cạnh đó không thể không nhắc đến Michael Porter- nhà khoa học về
quản trị nổi tiếng ở Mỹ, là giáo s trờng kinh doanh Harvard, thành viên của Uỷ
ban về cạnh tranh ngành của phủ Tổng thống. Về lý luận cạnh tranh, trong ba
cuốn sách nổi tiếng thế giới, đợc sử dụng trong hầu hết các chơng trình đào tạo
MBA của các nớc là cuốn Chiến lợc cạnh tranh (xuất bản 1980), Lợi thế
cạnh tranh (xuất bản 1985) và Lợi thế cạnh tranh quốc gia (xuất bản 1990),
M. Porter hầu nh không đa ra một định nghĩa chính thức nào cho thuật ngữ khả
năng cạnh tranh. Ông cho rằng không có một định nghĩa thực sự về khả năng
cạnh tranh và không có lý thuyết nào giải thích nó đợc chấp nhận một cách phổ
biến. Khả năng cạnh tranh xét trên tầm vĩ mô đợc hình thành do nhiều yếu tố và
có thể đợc diễn đạt thông qua cái gọi là lợi thế cạnh tranh.
Theo ông, khả năng cạnh tranh của một ngành hay một quốc gia ngày
nay phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và năng động của ngành, của quốc gia đó.
Khi cạnh tranh thế giới mang tính chất toàn cầu hoá thì nền tảng cạnh tranh sẽ
chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho
sang những lợi thế có đợc từ sự sáng tạo và áp dụng tri thức mới. Lợi thế cạnh
tranh đợc hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, của quốc gia mà nhờ có

nhãn mác phải tơng xứng. Bao gói, nhãn mác ngày nay không chỉ có vai trò
thuần tuý là bảo vệ, bao gói sản phẩm nữa mà đã trở thành công cụ Marketing
đắc lực và đợc xem nh ngời bán hàng im lặng trong các siêu thị hay các cửa
hàng tự phục vụ.
- Doanh nghiệp phải luôn nghiên cứu và cho ra đời những sản phẩm mới
khác biệt với các đối thủ cạnh tranh để nhằm thắng thế và mở rộng thị trờng
5
tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, doanh nghiệp cần phải khai thác hợp lý chu kỳ
sống của sản phẩm. Sử dụng tốt biện pháp này doanh nghiệp cần phải có những
quyết định sáng suốt để đa ra một sản phẩm mới hoặc dừng cung cấp một số
sản phẩm đã lỗi thời.
- Doanh nghiệp có thể thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, phải lựa chọn cơ
cấu hàng hoá và cơ cấu chủng loại một cách hợp lý. Điều đó cũng có nghĩa là
mở rộng thêm danh mục hàng hoá, nhng trên cơ sở phải dựa vào một số sản
phẩm chủ yếu của doanh nghiệp, tạo nên một cơ cấu sản phẩm có hiệu quả. Đa
dạng hoá sản phẩm giúp cho doanh nghiệp thu hút đợc số lợng khách hàng
nhiều hơn, đáp ứng đợc nhu cầu của ngời tiêu dùng và đem lại lợi nhuận cho
doanh nghiệp, đồng thời cũng là một biện pháp tránh rủi ro cho doanh nghiệp
trong cơ chế thị trờng cạnh tranh quyết liệt.
2.2.. Cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm:
Giá cả là một trong các công cụ quan trọng trong cạnh tranh, thờng đợc
sử dụng trong giai đoạn đầu khi doanh nghiệp thâm nhập vào thị trờng mới. Có
rất nhiều quan điểm về giá cả, đứng trên góc độ ngời mua giá cả của sản phẩm
là số tiền mà họ phải trả cho ngời bán để có đợc quyền sở hữu và sử dụng hàng
hoá. Nh vậy, giá cả tác động đến lợi ích của ngời mua, và là căn cứ để họ quyết
định mua hàng hoá này hay hàng hoá khác.
Giá cả đợc hình thành thông qua quan hệ cung cầu trên thị trờng, trong
đó ngời mua và ngời bán trên thị trờng mặc cả, thơng lợng hoặc cao hơn nữa là
đàm phán với nhau để đi đến một quyết định giá thống nhất, cuối cùng mà cả
hai bên cùng có lợi.

phơng... Việc định giá phân biệt xảy ra khi một doanh nghiệp bán một sản
phẩm hay dịch vụ với hai hay nhiều giá không phản ánh chênh lệch về chi phí
theo tỷ lệ. Việc định giá phân biệt có một số hình thức sau:
+ Định giá theo nhóm khách hàng
+ Định giá theo dạng sản phẩm
7
+ Định giá theo hình ảnh
+ Định giá theo địa điểm
+ Định giá theo thời gian
Tuy nhiên khi sử dụng phơng pháp này, doanh nghiệp cần phải lu ý đến
các điều kiện nh thị trờng có thể phân khúc, việc phân biệt giá không gây khó
chịu cho khách hàng.
* Chính sách ổn định giá bán: áp dụng chính sách này doanh nghiệp đã
bỏ qua quan hệ cung cầu; chính sách này giúp cho doanh nghiệp tạo ra những
nét độc đáo khác với các đối thủ cạnh tranh, nó giúp doanh nghiệp thâm nhập,
giữ vững và mở rộng thị trờng.
*Chính sách bán phá giá: Phơng pháp này rất nguy hiểm, ít đợc các
doanh nghiệp sử dụng, nếu định sử dụng chính sách này thì doanh nghiệp phải
phân tích rất kỹ những lợi hại mà doanh nghiệp phải đối mặt. Chỉ nên áp dụng
chính sách này khi sản phẩm bị tồn đọng nhiều, sản phẩm để lâu không bán đợc
và một số loại sản phẩm có đặc tính lý hoá không để lâu đợc.
Nh vậy, việc định giá sản phẩm của doanh nghiệp cần phải căn cứ vào
các mặt nh lợng cầu đối với sản phẩm, chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản
phẩm, cần phải nhận dạng đúng thị trờng cạnh tranh để có cách định giá một
cách hợp lý nhất.
Khi doanh nghiệp muốn cạnh tranh bằng giá thờng đợc thể hiện qua việc
kinh doanh với chi phí thấp, bán với mức giá hạ và mức giá thấp. Để đạt đợc chi
phí thấp doanh nghiệp cần phải xem xét khả năng hạ giá sản phẩm của đơn vị
mình, khi doanh nghiệp càng có nhiều khả năng hạ giá sẽ càng có nhiều lợi thế
so với đối thủ cạnh tranh. Khả năng hạ giá phụ thuộc vào: chi phí về kinh tế

Người bán buôn
Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Người bán lẻ
Người tiêu dùngNgười tiêu dùng
- Kênh C: thờng gọi là kênh hai cấp, trong kênh có thêm ngời bán buôn,
thờng đợc sử dụng phổ biến cho các loại hàng hoá giá trị đơn vị thấp, đợc mua
thờng xuyên bởi ngời tiêu dùng.
- Kênh D: là kênh dài nhất, thờng đợc gọi là kênh ba cấp, đợc sử dụng
khi có nhiều ngời sản xuất nhỏ và nhiều ngời bán lẻ nhỏ, một đại lý đợc sử dụng
để cung cấp sản phẩm với khối lợng lớn.
Kênh càng nhiều cấp thì nhà sản xuất càng khó kiểm soát, tuy nhiên đối
với các hàng hoá thông thờng, phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày nh thực
phẩm, xăng dầu... thì địa điểm mua là một trong những nhân tố quan trọng
trong việc thu hút khách hàng.
Để việc tiêu thụ đợc tốt, doanh nghiệp phải có hệ thống bán hàng phong
phú, đặc biệt là hệ thống kho tàng, các trung tâm bán hàng có cơ sở vật chất
hiện đại, thuận tiện cho tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải biết
kết hợp nhiều kênh phân phối, phải có những biện pháp quản lý ngời bán và
điều khiển ngời bán đó.
Ngoài ra, kênh phân phối còn là một công cụ đắc dụng để truyền đạt các
chơng trình xúc tiến hỗn hợp của doanh nghiệp, góp phần xây dựng hình ảnh
cho doanh nghiệp nếu đợc quan tâm và đầu t đúng mức.
2.4. Cạnh tranh bằng xúc tiến hỗn hợp
Xúc tiến hỗn hợp hay còn gọi là hệ thống truyền thông marketing gồm
năm công cụ chủ yếu là: quảng cáo, marketing trực tiếp, kích thích tiêu thụ,
quan hệ công chúng và bán hàng trực tiếp. Mỗi công cụ đều có khả năng tác
động và tạo sức hút với khách hàng tiềm năng theo những hình thức riêng biệt.
Quảng cáo là hình thức truyền thông mang tính đại chúng rất cao, là ph-
ơng tiện truyền thông sâu rộng, tạo sự biết đến, đặc biệt có tác dụng với sản

có sự đầu t thoả đáng cho lực lợng này, chắc chắn sẽ góp phần nâng cao khả
năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
11
3. Các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của DN
3.1. Thị phần của doanh nghiệp
Đây là một chỉ tiêu thờng đợc dùng để phân tích khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Khi đánh giá ngời ta xem xét các loại thị phần sau đây:
Thị phần tuyệt đối tổng quát của doanh nghiệp: Là thị phần của doanh
nghiệp so với toàn bộ thị trờng. Đây là tỷ lệ phần trăm (%) mức tiêu thụ của
doanh nghiệp so với mức tiêu thụ của toàn ngành.
Thị phần phục vụ của doanh nghiệp: Là tỉ lệ phần trăm (%) giữa mức
tiêu thụ của doanh nghiệp so với tổng mức tiêu thụ của thị trờng thuộc phạm vi
phục vụ của doanh nghiệp.
Thị phần tơng đối của doanh nghiệp so với ba đối thủ cạnh tranh mạnh
nhất: Là tỷ lệ so sánh về mức tiêu thụ của công ty so với ba đối thủ cạnh tranh
mạnh nhất, nó cho biết vị thế sản phẩm của doanh nghiệp trong cạnh tranh trên
thị trờng là bao nhiêu.
Thị phần tơng đối của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh mạnh
nhất: Là tỉ lệ phần trăm (%) về mức tiêu thụ của doanh nghiệp so với đối thủ
cạnh tranh mạnh nhất.
Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này mà doanh nghiệp biết mình
đang ở vị trí nào trên thị trờng và từ đó có những kế hoạch hành động cho hợp
lý trong từng giai đoạn.
Phơng pháp này có u điểm dễ tính và đơn giản. nhng nó khó đảm bảo
tính chính xác do khó lựa chọn ra đợc doanh nghiệp nào là mạnh nhất, vì mỗi
doanh nghiệp chỉ mạnh hơn đối thủ ở một vài lĩnh vực nhất định.
3.2. Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh tiềm
năng cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn thể hiện tính hiệu quả trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này đợc tính nh sau:

phát triển của doanh nghiệp
1. Cạnh tranh- vấn đề nổi cộm trong nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam hiện
nay
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của thị trờng mà bất cứ một chủ thể
kinh doanh nào tham gia cũng đều phải đối mặt. Đặc biệt là trong nền kinh tế
thị trờng, cạnh tranh không những là điều kiện, mà còn là động lực quan trọng
kích thích kinh doanh, thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá phát triển, làm cho năng
suất lao động tăng lên, tạo đà cho xã hội phát triển. Trớc đây, khi nền kinh tế n-
ớc ta vận hành theo cơ chế tập trung, bao cấp, thuật ngữ cạnh tranh hầu nh
không tồn tại, chỉ đến khi Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng chuyển đổi nền kinh tế
sang cơ chế thị trờng thì thuật ngữ cạnh tranh và các vấn đề xung quanh nó
mới đợc đề cập và phổ biến rộng rãi.
Ta đi từ khái niệm cạnh tranh, cạnh tranh đó là sự ganh đua giữa các cá
thể cùng thuộc một hoàn cảnh hoặc môi trờng nhằm đạt đợc những điều kiện
sinh tồn tốt hơn hoặc có vị thế cao hơn. Nhìn từ góc độ kinh doanh, thì sự cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp trong kinh doanh đợc xem là sự giành giật những
điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm đạt đợc các mục
tiêu kinh doanh và suy đến cùng nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Nh vậy có thể bắt
gặp cạnh tranh trong hầu hết các hoạt động kinh doanh, từ cạnh tranh để mua đ-
ợc các yếu tố đầu vào có chất lợng cao, giá rẻ, ổn định... đến cạnh tranh để bán
đợc nhiều nhất các sản phẩm đầu ra nhằm đạt đợc các mục tiêu kinh doanh,
cạnh tranh trong nội bộ ngành, cạnh tranh giữa các ngành khác nhau, cạnh tranh
trong ngắn hạn, cạnh tranh trong dài hạn... Trong xu thế hội nhập hiện nay của
nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp không những
phải đối mặt với cạnh tranh trong nớc mà còn phải đối cạnh tranh ngoài nớc,
cạnh tranh quốc tế.
Hiện nay, tuy nền kinh tế Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của công
cuộc xây dựng một nền kinh tế thị trờng hoàn chỉnh, nhng có thể thấy quy luật
14
cạnh tranh đã chi phối hầu hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ

hoá buộc các doanh nghiệp Việt Nam không ngừng sáng tạo, không ngừng đổi
mới và khẳng định mình qua thành tích tăng trởng mạnh mẽ trong thập niên gần
đây. Một số doanh nghiệp đã tạo đợc chỗ đứng trên thị trờng trong và ngoài nớc
nh: Bitis, Kinh Đô, Trung Nguyên... tuy nhiên số đó cha nhiều và chủ yếu là
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, công nghiệp nhẹ.
Tiến trình đàm phán để gia nhập WTO của nớc ta đang bớc vào giai đoạn
cuối. Để có thể tham gia một cách sòng phẳng vào cuộc chơi này, tránh tình
trạng thua ngay trên sân nhà các doanh nghiệp Việt Nam không còn con đờng
nào khác là phải nâng cao năng lực cạnh tranh, xử lý tốt các công cụ cạnh tranh
tuỳ vào tình hình, điều kiện của doanh nghiệp mình, xác định điểm mạnh, điểm
yếu để vợt qua những thử thách trớc mắt và dành đợc những thành công trong t-
ơng lai.
III. Những yếu tố tác động đến sự cạnh tranh của một doanh
nghiệp sản xuất thép
1. Môi trờng vĩ mô
1.1. Môi trờng kinh tế
Kể từ khi mở của cho đến nay, kinh tế Việt Nam liên tục đạt đợc các mức
tăng trởng khá. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2000 đạt 7,04%, đến năm
2004 là 7,7%, trong đó khu vực công nghiệp- xây dựng tăng 10,2%, là khu vực
có đóng góp lớn nhất vào tốc độ tăng trởng chung là 3,9%, so với khu vực nông,
lâm nghiệp- thuỷ sản là 0,7%, dịch vụ là 3% (nguồn từ Báo cáo hàng năm của
Tổng cục thống kê). Những số liệu trên cho thấy ngành công nghiệp xây dựng ở
nớc ta ngày càng phát triển, chủ trơng chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang
công nghiệp của Đảng ta đang dần đợc hiện thực hoá. Các công trình xây dựng
không ngừng mọc lên, trong đó có không ít các công trình xây dựng cơ bản,
trọng điểm quốc gia đã đẩy nhu cầu về thép xây dựng lên cao. Điều đó đã tạo cơ
16
hội lớn cho các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực này nói chung cho ngành
thép Việt Nam.
Tuy nhiên, để nắm bắt đợc cơ hội đó các Công ty thép còn rất nhiều việc

nhân tố quyết định cho sự tăng trởng bền vững của nền kinh tế trong cùng một
quốc gia. Ta có thể thấy rõ điều này, khi mà năm 1997 hàng loạt các nớc Đông
Nam á nh: Thái Lan, Singapo, Indonexia... bị điêu đứng trong cuộc khủng
hoảng tài chính một cách nghiêm trọng nhất trong lịch sử kinh tế các nớc này
thì Việt Nam vẫn đứng vững. Gần đây, trong khi nạn khủng bố xảy ra phổ biến,
gieo rắc nỗi kinh hoàng cho ngời dân ở nhiều quốc gia thì Việt Nam lại đợc
đánh giá là một đất nớc an toàn, không có khủng bố. Chính những biểu hiện của
một nền chính trị ổn định nh vậy, hứa hẹn một môi trờng cạnh tranh lành mạnh,
một tốc độ tăng trởng kinh tế bền vững. Điều đó đã giúp chúng ta thu hút đợc
một lợng vốn lớn, không ngừng gia tăng từ nhiều nguôn nh: vốn đầu t trực tiếp
nớc ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn từ các doanh nhân
nớc ngoài và đặc biệt là lợng vốn của ngời Việt Nam ở nớc ngoài trong thời
gian gần đây đã tăng lên đột biến.
Bên cạnh đó, các chính sách đa ra tạo nhiều thuận lợi cho ngành thép nh:
chính sách thuế, nhà nớc ta áp dụng thuế giá trị gia tăng với thuế suất 5% đối
với các sản phẩm thép. Ngoài ra còn có chính sách bảo hộ nền sản xuất thép
trong nớc nh đánh thuế cao thép nhập khẩu. Các văn bản pháp luật liên quan
đến thị trờng thép, trớc khi đa ra đã đợc bàn thảo kỹ lỡng của tổ công tác liên
ngành: Bộ Thơng mại, Tài chính, Công nghiệp, Hiệp hội Thép (VSA), Tổng
Công ty Thép Việt Nam (VSC) nhờ đó thị trờng thép thờng xuyên đợc cung cấp
đầy đủ thông tin, góp phần làm bình ổn giá cả và sản lợng, từ đó hoạt động hiệu
quả hơn. Tuy nhiên, đôi khi những chính sách đa ra còn cha kịp thời và có phần
chồng chéo, gây ra những tác động xấu tới thị trờng thép. Đơn cử nh đợt tăng
giá thép vào tháng 7/2004 một phần là do Bộ Tài chính đột ngột nâng mức thuế
nhập khẩu thép thành phẩm, từ mức thuế suất 0% trớc đó.
18
1.3. Môi trờng công nghệ
Theo kết quả điều tra, nghiên cứu của các tổ chức nớc ngoài, thì năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong năm vừa qua đã giảm xuống, mà
nguyên nhân chính là do trình độ công nghệ của nớc ta quá thấp kém so với mặt

biệt là khách hàng dự án không nhiều. Do đó họ có thể chi phối các nhà cung
cấp.
+ Khách hàng trên thị trờng này đợc cung cấp khá đầy đủ thông tin về thị
trờng nh tình hình cung- cầu, giá cả...của các nhà cung ứng do hiệp hội thép
Việt Nam cung cấp. Vì vậy họ có cơ sở để tăng áp lực khi tiến hành mặc cả, th-
ơng lợng.
+ Đối với các khách hàng dự án thờng mua với một khối lợng lớn hàng
hoá. Trong trờng hợp này ngời mua có thể sử dụng u thế mua của họ để mặc cả
cho sự giảm giá không hợp lý.
20
2.2. Đối thủ cạnh tranh
Trong bất cứ một ngành nào cũng có rất nhiều những đối thủ cạnh tranh
với nhau, nhng trong tất cả các đối thủ đó chỉ có một hoặc một số đóng vai trò
chủ chốt, thống lĩnh và có thể chi phối, khống chế thị trờng. Nhiệm vụ của mỗi
doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích chính xác khả năng của các đối
thủ cạnh tranh chính này, để xây dựng cho mình một chiến cạnh tranh thích hợp
với môi trờng chung của ngành. Đồng thời phải biết tận dụng và phát huy mọi
lợi thế và thời cơ để phát huy khả năng của doanh nghiệp mình, để tạo cho mình
chỗ đứng cao - là một trong những doanh nghiệp đứng đầu trong ngành.
Ngành thép cũng không nằm ngoài đặc điểm đó. Với đặc thù của sản
phẩm thép là có rất ít sự khác biệt, trên thị trờng hiện tại có một số lợng không
lớn các doanh nghiệp, có thể khẳng định thị trờng thép là thị trờng độc quyền
nhóm. Khi nghiên cứu về độc quyền nhóm, cần nhớ rằng cạnh tranh không
hoàn hảo không có nghĩa là không có cạnh tranh. Trong nhiều ngành độc quyền
nhóm, cạnh tranh rất gay gắt. Thực tế đã chứng minh, đa số hình thức đối chọi
khốc liệt nhất trong nền kinh tế lại diễn ra trong thị trờng, nơi vài hãng là địch
thủ của nhau.
Theo Philip Kotler: Nhóm độc quyền hoàn toàn gồm một vài công ty
sản xuất phần lớn một loại sản phẩm (dầu mỏ, thép,v.v...). Một công ty sẽ rất
khó có thể tính giá cao hơn giá thị trờng dù chỉ là một chút, trừ khi nó có thể

Công ty thép Miền Nam là tự sản xuất đợc phôi và cũng chỉ đáp ứng đợc 20%
nhu cầu, còn lại toàn bộ các nhà máy cán thép khác phải nhập khẩu phôi thép từ
nớc ngoài. Chính vì thế, có thể nói sự thành bại của kế hoạch sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp thép phụ thuộc rất lớn vào việc tìm đợc nguồn phôi
có chất lợng, ổn định và giá cả hợp lý.
22
Chơng II
Phân tích khả năng cạnh tranh của công
ty cổ phần Thép Việt- ý:
I. Khái quát về Công ty cổ phần thép Việt- ý
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Tổng Công ty Sông Đà là một tập đoàn kinh tế lớn mạnh, uy tín và tên
tuổi của Công ty gắn liền với các công trình vĩ đại của đất nớc nh: thuỷ điện
Hoà Bình, thuỷ điện Yaly ... xuất phát từ nỗ lực nâng cao chất lợng sản phẩm,
tạo bớc đột phá trong quá trình phát triển và hội nhập cũng nh đáp ứng nhu cầu
của thị trờng, ngày 02-01-2001, Công ty Sông Đà 12 trực thuộc Tổng Công ty
Sông Đà đã quyết định đầu t xây dựng dây truyền thiết bị cán thép đồng bộ mới
100%, công suất 250.000 tấn/năm, do tập đoàn hàng đầu thế giới về công nghệ
sản xuất thép Danieli-Italy cung cấp. Thép Việt-ý ra đời với tên gọi ban đầu là
Nhà máy Thép Việt-ý đã mở ra một cách nhìn mới về thép xây dựng chất lợng
cao, là minh chứng cho sự lớn mạnh của Tổng Công ty Sông Đà.
Trải qua quá trình 3 năm hoạt động từ 01/2001 đến đầu năm 2004, sản
phẩm thép Việt-ý với thơng hiệu VIS đã có mặt tại nhiều công trình xây dựng
trong cả nớc. Trớc những đòi hỏi của thị trờng, những thay đổi trong cơ chế và
chính sách của Đảng và nhà nớc, chủ trơng của Tổng Công ty Sông Đà, đầu
tháng 2 năm 2004 nhà máy thép Việt-ý đã tiến hành cổ phần hoá và đổi tên
thành Công ty cổ phần thép Việt-ý, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 20
tháng 2 năm 2004. Từ đó đến nay Công ty mang tên chính thức là Công ty cổ
phần thép Việt-ý với tên giao dịch quốc tế là Việt Nam Italy steel joint- Stock
Company ( viết tắt là VISCO). Trụ sở chính đặt tại km 24+500- xã Giai Phạm

2.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
* Đại hội đồng cổ đông
25
Tổng giám đốc
Các phó tổng giám
đốc
p. Tổ
chức
hành
chính
p. Vật

P.
Thiết
bị
công
nghệ
Chi nhánh
Công ty
tại Sơn La
P. tài
chính
kế
toán
P.
Kinh
doanh
P. Kế
hoạch
sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status