ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
VI THỊ LÝ
Tên đề tài:
ẢNH HƢỞNG CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC ADE - SELPLEX TRONG
KHẨU PHẦN ĂN CỦA LỢN NÁI CHỬA ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT
CỦA LỢN MẸ, KHÁNG BỆNH VÀ SINH TRƢỞNG CỦA LỢN CON,
NUÔI TẠI CÔNG TY CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khoá học: 2011 - 2016
Thái Nguyên - 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
VI THỊ LÝ
Tên đề tài:
ẢNH HƢỞNG CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC ADE - SELPLEX TRONG
KHẨU PHẦN ĂN CỦA LỢN NÁI CHỨA ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT
CỦA LỢN MẸ, KHÁNG BỆNH VÀ SINH TRƢỞNG CỦA LỢN CON,
NUÔI TẠI CÔNG TY CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
Chăn nuôi CP Việt Nam, ông Nguyễn Sỹ Bình cùng toàn thể anh, chị em công
nhân trong trang trại về sự hợp tác giúp đỡ bố trí thí nghiệm
, theo dõi các chỉ tiêu
và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này.
Một lần nữa tôi xin được gửi tới các thầy giáo, cô giáo và các bạn bè đồng
nghiệp lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khoẻ cùng những điều tốt đẹp nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Vi Thị Lý
ii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm .......................................................................... 32
Bảng 3.2. Khẩu phần ăn của lợn nái thí nghiệm ................................................... 33
Bảng 4.1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ....................................................... 44
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học ADE–Selplex đến khả năng sản
xuất của lợn nái thí nghiệm .................................................................................... 46
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học ADE-Selplex trong phòng và trị
bệnh phân trắng lợn con ......................................................................................... 48
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học ADE-Selplex đến khả năng phòng
và trị bệnh đường hô hấp ở lợn con thí nghiệm .................................................... 49
Bảng 4.5. Khối lượng lợn con bình quân qua các kỳ cân (kg/con) ..................... 51
Bảng 4.6. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn qua các giai đoạn (g/con/ngày) ........... 53
Bảng 4.7. Sinh trưởng tương đối của lợn con qua các giai đoạn (%) .................. 54
Bảng 4.8. Sơ bộ hạch toán chi phí thuốc thú y cho lợn thí nghiệm ..................... 56
: Đơn vị tính
FDA
: Food and Drug Administration:
Cơ quan quản lý Thực phẩm và Thuốc (Mỹ)
Kg
: Kilogam
KL
: Khối lượng
KPCS
: Khẩu phần cơ sở
KPTN
: Khẩu phần thí nghiệm
LMLM : Lở mồm long móng
NRC
: Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (Hoa Kỳ)
Nxb
TN
: Thí nghiệm
TS
: Tiến sỹ
TT
: Thể trọng
v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................ i
DANH MỤC BẢNG ....................................................................................................ii
DANH MỤC HÌNH ....................................................................................................iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ..........................................................................iv
MỤC LỤC ..................................................................................................................... v
PHẦN 1: MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề........................................................................................................... 1
1.2. Mục đích của đề tài ............................................................................................ 1
1.3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .......................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học ............................................................................................ 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................................ 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.......................................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài.................................................................................. 3
2.1.1. Khả năng sản xuất của lợn nái ....................................................................... 3
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .....................................................................58
5.1. Kết luận ............................................................................................................ 58
5.2. Tồn tại ............................................................................................................... 59
5.3. Đề nghị ............................................................................................................. 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................60
I. Tài liệu tiếng Việt ................................................................................................ 60
II. Tài liệu tiếng Anh............................................................................................... 62
III. Tài liệu trên trang Web ..................................................................................... 62
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi là một ngành truyền thống có từ lâu đời ở nước ta. Hiện nay,
chăn nuôi ngày càng phát triển mạnh cả về chất lượng và số lượng do tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh để hội nhập với kinh tế
quốc tế. Chính vì vậy, chăn nuôi với quy mô trang trại đã được mở rộng theo
khuynh hướng nuôi gia công cho doanh nghiệp nước ngoài để tận dụng nguồn
giống và áp dụng quy trình kỹ thuật công nghệ cao. Đồng thời, để đáp ứng
mục tiêu hướng tới của thế kỷ XXI là sản xuất nguồn “thịt sạch” đảm bảo cho
sức khỏe người tiêu dùng, một số công ty đã chú trọng sản xuất các loại chế
phẩm sinh học để phòng trị bệnh, kích thích khả năng sinh trưởng, sinh sản,
tăng sức đề kháng, giảm một số bệnh đường tiêu hóa, giảm thiểu chất độc hại
trong chất thải vật nuôi, vừa an toàn lại hiệu quả cao.
Một trong những chế phẩm sinh học đó có chế phẩm ADE-Selplex, do
công ty TNHH thuốc thú y Việt Nam (Pharmarvet) sản xuất năm 2013. Do
chế phẩm sinh học vẫn là khái niệm còn rất mới so với sự ra đời của một số
loại kháng sinh đã phát hiện từ lâu, chưa thực sự tạo được lòng tin đối với
người chăn nuôi, từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Khả năng sản xuất của lợn nái
2.1.1.1. Khả năng sản xuất của lợn nái
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17]: Việc đánh giá khả năng sản
xuất của lợn nái được thông qua các chỉ tiêu:
* Khả năng sinh sản
Khả năng sinh sản của lợn nái được đánh giá thông qua các chỉ tiêu về
số lượng và chất lượng.
+ Số lượng đàn con
- Số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ/lứa đẻ
Đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng. Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ
nhiều hay ít của giống, trình độ kỹ thuật của dẫn tinh viên và điều kiện nuôi
dưỡng chăm sóc nái chửa. Trong vòng 24 giờ sau khi sinh ra, những lợn con
không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống (quá bé), không phát dục
hoàn toàn, dị dạng… thì sẽ bị loại thải. Ngoài ra, do lợn con mới sinh, chưa
nhanh nhẹn, dễ bị lợn mẹ đè chết.
- Tỷ lệ sống
Tỷ lệ sống của lợn con sau 24 giờ được tính theo công thức sau
Tỷ lệ sống (%) =
Số con sống đến 24 giờ
Số con đẻ ra còn sống
x 100
- Số lợn con cai sữa/lứa
Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, quyết định năng suất
- Khối lượng 21 ngày toàn ổ.
Là khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá tăng trọng của
lợn con và là chỉ tiêu đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ. Khả năng tiết sữa
của lợn mẹ đạt cao nhất vào ngày thứ 21, sau đó giảm dần.
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [5]: Khối lượng toàn ổ lúc 21
ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá khả năng cho sữa của lợn mẹ. Vì sản lượng sữa
của lợn mẹ cao nhất lúc 21 ngày tuổi sau khi đẻ. Khối lượng toàn ổ cao thì
sản lượng tiết sữa của lợn mẹ cao.
Khối lượng lợn con tăng lúc 21 ngày tuổi gấp 5 - 8 lần khối lượng lúc
sơ sinh. Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa và chọn làm giống của lợn nái.
(Hội chăn nuôi Việt Nam, 2004) [10].
5
- Khối lượng cai sữa toàn ổ
Ngoài chỉ tiêu số con cai sữa trên lứa, khối lượng toàn ổ lúc cai sữa cũng là
chỉ tiêu quan trọng để đánh giá đầy đủ năng suất chăn nuôi lợn nái.
Khối lượng lợn con cai sữa phụ thuộc rất lớn vào khối lượng sơ sinh và
là cơ sở cho việc nâng cao khối lượng xuất chuồng sau này.
* Khả năng tiết sữa
Khả năng tiết sữa là một chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá sức sản suất
của lợn nái, vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống cũng như khối lượng cai sữa
của lợn con sau này.
Quy luật tiết sữa của lợn mẹ có đặc điểm là năng suất sữa tăng dần từ
lúc mới đẻ và đạt sản lượng cao nhất vào lúc 21 ngày tuổi, sau đó giảm dần.
Căn cứ vào đặc điểm này, trong thực tế sản xuất người ta lấy khối lượng lợn
con toàn ổ lúc 21 ngày tuổi để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ.
Qua theo dõi, sản lượng và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau
cũng không giống nhau. Các vú ở phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm
chất tốt còn các vú phía sau nhìn chung thấp. Theo Trương Lăng (2003) [11]:
Đồng thời, hàm lượng các chất khoáng đặc biệt là sắt và canxi còn rất ít, không
đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con. Lúc này mâu thuẫn giữa khả năng
cung cấp sữa của lợn mẹ và nhu cầu dinh dưỡng của lợn con nảy sinh. Đó cũng
là lúc ta cần bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (Từ Quang Hiển và cs, 2001) [8].
Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho lợn con
cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày thứ 28, hoặc ngày thứ 42… tuỳ theo
trình độ chăn nuôi của từng cơ sở (Nguyễn Thiện và cs, 1996) [20].
Sản lượng sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thức ăn,
chăm sóc nuôi dưỡng… Vì vậy, trong giai đoạn lợn mẹ nuôi con thì thức ăn
cho lợn mẹ cần đủ chất dinh dưỡng. Chăm sóc lợn mẹ ăn với khẩu phần đầy
đủ chất dinh dưỡng không ngừng nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ
hao mòn của lợn mẹ.
2.1.1.2
Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất của lợn nái
* Giống và cá thể
- Giống là yếu tố quyết định đến sức sản xuất của lợn nái, giống và đặc
tính của nó gắn liền với năng suất sinh sản. Các giống lợn khác nhau cho năng
suất sinh sản khác nhau.
Ví dụ: Lợn Móng Cái đẻ từ 12 - 14 con/lứa.
Lợn Yorkshire đẻ từ 11 - 12 con/lứa.
- Các cá thể khác nhau có sức sản xuất khác nhau tuỳ thuộc vào cấu tạo
cơ thể, đặc điểm sinh lý của từng cá thể.
7
* Phương pháp nhân giống
Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau. Nếu
cho nhân giống thuần chủng thì năng suất của chúng cũng chính là năng suất
Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng đến số lượng con đẻ ra/lứa. Kỹ thuật
phối giống bao gồm việc xác định thời điểm phối giống thích hợp và số lần
cho phối giống. Thời điểm phối giống thích hợp có sự khác nhau giữa lợn nội
và lợn ngoại, giữa nái cơ bản và nái hậu bị. Chọn thời điểm phối giống thích
hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa.
Chú ý, nếu lợn nái động dục kéo dài 48 giờ thì trứng sẽ rụng vào 8 - 12
giờ trước khi kết thúc chịu đực, tức là 37 - 40 giờ sau khi bắt đầu động dục. Do
vậy, phối giống quá sớm hoặc quá muộn thì tỷ lệ thụ thai và số con/lứa giảm.
Có nhiều phương thức phối giống cho lợn nái nhưng tốt nhất nên áp
dụng phương thức phối lặp. Khoảng cách thời gian giữa hai lần phối lặp từ
12 - 14 giờ cho lợn nái cơ bản, đối với lợn nái hậu bị thời gian này khoảng
10 - 12 giờ.
* Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái.
Cần lưu ý chế độ dinh dưỡng cho lợn nái trước phối giống, các yếu tố thức ăn
rất quan trọng ở thời kỳ này.
Tuy nhiên, cần chú ý đến thể trạng của lợn nái hậu bị, nếu lợn nái hậu
bị quá béo sẽ hạn chế rụng trứng, do đó, làm giảm số lượng con/lứa. Vì vậy,
lợn nái hậu bị đến giai đoạn cuối sắp động dục phải cho ăn khẩu phần hạn chế
để tránh lợn quá béo ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.
Trong các giai đoạn nuôi lợn nái khác, chúng ta cũng sử dụng thức ăn
như là đòn bẩy để nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái, tăng tổng khối
lượng lợn con lúc xuất chuồng.
9
2.1.2. Đặc điểm sinh trƣởng của lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
2.1.2.1. Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con
Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng, phát dục
những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục
của lợn. Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học,
nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau. Do ảnh hưởng của các
tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự khác nhau giữa các
giống lợn nguyên thuỷ và các giống lợn đã được cải tiến, cũng như các giống
lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn. Sự khác nhau này không
những khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể mà còn khác nhau ở sự hình
thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã hình thành nên các giống
lợn có hướng sản xuất khác nhau như: Giống lợn hướng nạc, hướng mỡ.
Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về sản xuất của
gia súc, gia cầm như: Sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa,
sinh sản... đều là tính trạng số lượng. Tính trạng số lượng là những tính trạng
ở đó có sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự
sai khác nhau về chủng loại. Darwin đã chỉ rõ sự sai khác này chính là nguyên
liệu cho quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo. Tính trạng số lượng
còn gọi là tính trạng đo lường (metriccharacter), sự nghiên cứu chúng phụ
thuộc vào sự đo lường như: Khối lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng
trứng, kích thước các chiều đo... (Trần Đình Miên và cs, 1982) [16].
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá
trình trao đổi chất trong cơ thể. Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều
khiển của các hormone. Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi
chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu. Trong thời kỳ đầu tiên
của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự
tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng. Về sau điều
khiển quá trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên. Hormone của thuỳ
11
trước tuyến yên STH (Somatotropin hormone) là loại hormone rất cần thiết
cho sinh trưởng của cơ thể. Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [19]: STH
lợn. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn, người ta thấy
rằng, ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con,
lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là đối với lợn vỗ béo. Khi không đủ ánh sáng
sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt quá trình trao
đổi khoáng. Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu không đủ ánh sáng thì
tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9% so
với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời.
Việc đảm bảo đủ ánh sáng đối với lợn sinh sản gồm cả lợn đực và lợn
nái đều có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với quá trình trao đổi các
chất khoáng trong cơ thể, mà còn đối với các chức năng sinh sản, như biểu
hiện động dục, sự phát triển của phôi ở lợn nái, quá trình sinh tinh và các
phản xạ nhảy giá của lợn đực. Trong chăn nuôi công nghiệp, khi thiết kế
chuồng trại cần chú ý đảm bảo đủ ánh sáng theo nhu cầu của các loại lợn, đặc
biệt đối với lợn con và lợn sinh sản.
- Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát
triển của lợn đã nêu trên, còn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại,
chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như: Không khí, tốc độ gió
lùa, nồng độ các khí thải... Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo
yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt
mức tối đa.
2.1.3. Hiểu biết về Vitamin A, D, E và Selen
2.1.3.1. Vitamin A (C20H20O)
Vitamin A, hay còn gọi là retinol, là vitamin thiết yếu trong cơ thể
thuộc nhóm vitamin tan trong dầu
Vitamin A có nhiều trong gan và các sản phẩm sữa, giúp duy trì sức
khỏe thị giác và hoạt động tế bào. 90% vitamin A dự trữ ở gan. Theo Từ
Quang Hiển và cs (2001) [8].
13
Nhu cầu Vitamin A đối với vật nuôi
- Trong điều kiện bình thường cung cấp từ 20 – 60 UI vit. A/kg trọng
lượng là bảo đảm cho gia súc không bị thiếu vitamin A. Nhưng để gia súc có
sức khỏe tốt thì cần cung cấp nhiều hơn. Trong 1kg VCK khẩu phần cần có
lượng vitamin A như sau: Bò sữa : 5000 – 6000 UI, bò đực :6000 – 8000 UI,
lợn mẹ : 3000 – 6000 UI, gà mái và gà giò : 8000 – 10000 UI.
- Ngộ độc vitamin A đối với lợn khi khẩu phần thức ăn có 82500 UI/kg
VCK thức ăn, nuôi kéo dài 17 ngày liền, còn gà với liều lượng 1.500.000 UI/kg
nuôi kéo dài 20 ngày liền (theo Từ Quang Hiển và cs, 2001) [8].
- Đối với lợn thịt nhu cầu Vitamin rất quan trọng, đặc biệt đối với giai
đoạn lợn thịt nuôi ở giai đoạn đầu. Bảng dưới sẽ cho ta thấy nhu cầu cụ thể
của lợn thịt nuôi ở từng giai đoạn khác nhau.
- Nhu cầu vitamin A lợn. Theo tiêu chuẩn của NRC như sau :
Chỉ tiêu
Vitamin A (IU)d
Khối lƣợng cơ thể
3 - 5 5 - 10
10 - 20
20 - 50
50 - 80
80 - 120
550
1.750
2.200
2.200
1.750
1.300
1.300
(Tiêu chuẩn Nhật Bản, 1993)
2.1.3.2 Vitamin D (O25H25)
Đặc điểm
Vitamin D (còn gọi là calciferol) không tan trong nước, tan trong dầu,
mỡ, ancol, ether và chlorofom. Vitamin D không phải là một vitamin đúng
15
nghĩa, bởi vì quá trình tổng hợp của da bảo đảm được phần lớn nhu cầu của tổ
chức cơ thể. Thực vậy, nếu ergocalciferol (vitamin D2) chỉ có thể đến từ thức
ăn thì tổ chức cơ thể có khả năng tổng hợp vitamin D sẽ có trong lớp đáy của
thượng bì, từ cholesterol và dưới ảnh hưởng của tia cực tím. Nhưng sử dụng
thuật ngữ “vitamin” để khẳng định tính chất quan trọng của chúng đối với cơ
thể. Vitamin D không tác động trực tiếp nhưng sau quá trình chuyển đổi của
chúng thành các chất chuyển hóa hoạt động, thì những phân tử ổn định được
che chở khỏi ánh sáng cũng như oxy hóa và các acid, tạo điều kiện thoái biến
nhanh chóng. Về mặt hóa học vitamin D là dẫn suất của sterol, hai dạng phổ
biến quan trọng nhất là vitamin D2 và D3. Các vitamin này được tạo thành từ
các provitamin (tiền vitamin) tương ứng. Vitamin D2 từ ergosterol, vitamin D3
từ 7-dehydro cholesterol. Vitamin D dễ bị phân hủy khi có mặt các chất oxy
hợp nhiều hơn phosphatse kiềm và osteocalci (protein xương phụ thuộc vào
vitamin K) và ít hơn là collagen. Tất cả điều đó thuận lợi cho việc tạo xương.
Vitamin D điều hòa và chuyển hóa Ca và P trong cơ thể, làm tăng quá trình hấp
thu và đồng hóa Ca lên tới 50-80% cần thiết cho quá trình cốt hóa. Như vậy nếu
thiếu vitamin D thì gia súc sẽ bị còi xương.
Nếu thừa Vitamin D: Khi dùng liều cao Vitamin D2 và Vitamin D3 có
thể gây độc. Các triệu chứng hay gặp là kém ăn, buồn nôn, tiểu nhiều, có khi
táo bón, khi tiêu chảy, ngừng lớn, xanh xao, thỉnh thoảng co giật, khó thở,
trong nước tiểu chứa nhiều calci và photpho. Những triệu chứng này chỉ xuất
hiện với liều rất cao (25-27 mg/ngày cho một kg trọng lượng cơ thể) và dùng
trong nhiều tuần. Nếu ngộ độc xảy ra sẽ có sự canxi hóa mô. Muối canxi được
lắng đọng ở thận, mạch máu, tim, phổi.
Nhu cầu vitamin D đối với động vật
- Theo Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (Hoa Kỳ), (1998) [9], Nhu cầu
vitamin A hàng ngày của lợn vỗ béo theo từng giai đoạn như sau:
17
Chỉ tiêu
Khối lƣợng cơ thể (Kg)
3–5
5 - 10
10 - 20
20 - 50
5 – 10
10 – 30
30 – 70
70 – 110
220
220
200
150
150
(Tiêu chuẩn Nhật Bản, 1993)
2.1.3.3 Vitamin E (C 29H50 O2)
Nguồn gốc
Vitamin E có 2 dạng là α và β tocopherol.
Trong tự nhiên, vitamin E ở dạng D – α tocopherol. Trong thức ăn thực
vật dạng này chiếm tới 90% của tất cả các dạng tocopherol.
Vitamin E có nhiều trong thức ăn tươi xanh, 300 – 400mg/kg. Khi sấy
khô nhân tạo có 30 – 50% vitamin E bị phá hủy, còn phơi khô thì 90 – 95%
vitamin E bị phá hủy, ủ xanh thì 10 – 60% bị phá hủy. Thức ăn giàu
đạm, cả động vật lẫn thực vật, đều có rất ít vitamin E (Theo Từ Quang
Hiển và cs (2001) [8]).