BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TRẦN HỮU THỌ
NGHIÊN CỨU VỀ
THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
ĐỐI VỚI HÀNG HÓA CÓ NGUỒN GỐC XUẤT XỨ
TỪ HÀN QUỐC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
Mã số: 60340121
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGÔ THỊ NGỌC HUYỀN
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các thông tin và kết quả sử dụng trong luận văn là trung thực và chưa
từng được công bố trong bất cứ đề tài nghiên cứu nào trước đây.
TRẦN HỮU THỌ
MỤC LỤC
2.2.2. Các tiêu chí khảo sát .................................................................................33
2.2.3. Bảng câu hỏi .............................................................................................40
2.2.4. Mẫu nghiên cứu ........................................................................................41
2.2.5. Chuẩn bị dữ liệu và phân tích ...................................................................42
2.3. Kết quả khảo sát về thái độ của người tiêu dùng đối với hàng hóa có xuất xứ
Hàn Quốc ...............................................................................................................46
2.3.1. Các số liệu thống kê mô tả mẫu ...............................................................46
2.3.2. Các số liệu thống kê mô tả về các tiêu chí nghiên cứu ............................48
2.3.3. Một số phát hiện trong nghiên cứu ...........................................................60
2.4. Kết luận chương 2 ...........................................................................................62
Chương 3. Một số kiến nghị, hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.........63
3.1. Một số kiến nghị đối với doanh nghiệp và cơ quan hoạch định nhà nước .....63
3.1.1. Đối với doanh nghiệp Việt Nam ..............................................................63
3.1.2. Đối với cơ quan hoạch định nhà nước......................................................66
3.2. Hạn chế của đề tài nghiên cứu ........................................................................70
3.3. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo ...............................................................71
KẾT LUẬN ...............................................................................................................72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC A
PHỤ LỤC B
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
COO: Nguồn gốc xuất xứ
EU: Liên Minh Châu Âu
FTA: Hiệp định thương mại tự do
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
EVFTA: Hiệp định thương mại tự do liên minh Châu Âu – Việt Nam
VKFTA: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc
.................................................................................................................................16
Hình 2.1. Thống kê mức bảng lẻ hàng hóa giai đoạn 2014-2016 ............................. 19
Hình 2.2. Tình hình thương mại song phương Việt Nam – Hàn Quốc giai đoạn
2013-2016.................................................................................................................. 27
Hình 2.3. Xếp hạng 10 quốc gia đánh giá cao về hàng hóa xuất xứ từ Hàn Quốc năm
2017 ........................................................................................................................... 32
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp thế giới. Quá trình hội
nhập ấy làm thúc đẩy hoạt động thương mại trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam.
Với sự gia tăng nhanh chóng của giao thương hàng hóa với đa dạng về chủng loại,
thương hiệu sản phẩm, xuất xứ hàng hóa…,ngày càng có nhiều sản phẩm cho người
tiêu dùng lựa chọn. Một trong những tiêu chí, người tiêu dùng quan tâm khi thiếu
thông tin về sản phẩm đó chính là xuất xứ của sản phẩm (Mark Speece và Duc
Phung Nguyen, 2005). Trong số các quốc gia có sự gia tăng mạnh mẽ về thương
mại với Việt Nam trong những năm qua, Hàn Quốc là một trong những đối tác lớn,
hàng hóa có xuất xứ từ Hàn Quốc ngày càng đa dạng và phong phú và được nhiều
người tiêu dùng Việt Nam lựa chọn.
Xuất xứ của sản phẩm đóng một vai trò quan trọng trong nhận thức của người
tiêu dùng về chất lượng của sản phẩm, do đó, nó tác động đến sự lựa chọn sản phẩm
của người tiêu dùng. Trong nền kinh tế quốc tế hiện nay, phần lớn các thương hiệu
toàn cầu đều gắn với hình ảnh của quốc gia xuất xứ. Một số quốc gia với hình ảnh
tích cực trong tâm trí người tiêu dùng đã tạo điều kiện cho những thương hiệu,
những sản phẩm gắn với nó có lợi thế lớn trong môi trường cạnh tranh ngày nay. Ví
dụ như, ở Châu Á, các sản phẩm của Nhật Bản được ưa chuộng về hàng điện tử và ô
tô; Hàn Quốc được ưa chuộng về mặt hàng mỹ phẩm và thiết bị điện tử.
Các nghiên cứu về xuất xứ sản phẩm rất đa dạng về hình thức như đánh giá một
sản phẩm có nguồn gốc từ nhiều quốc gia khác nhau (Kandapa Thanasuta và cộng
sự,2009), một sản phẩm có nguồn gốc từ một quốc gia (Pierre Balestrini và Paul
Gamble, 2006), một danh mục sản phẩm từ một quốc gia (Sadiq Sohail, 2005). Tại
Việt Nam, các nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hạn chế và được thực hiện trên
nghiên cứu một mặt hàng từ một quốc gia (Lý Văn Trường, 2015; Mark Speece và
Duc Phung Nguyen, 2005). Các nghiên cứu này được thực hiện trên các sản phẩm
có xuất xứ từ Trung Quốc (Lý Văn Trường, 2015 – mặt hàng đồ chơi trẻ em) và
Hàn Quốc (Mark Speece và Duc Phung Nguyen, 2005 – mặt hàng tivi). Theo tìm
hiểu của tác giả, hiện chưa có nghiên cứu nào ở Việt Nam thực hiện về một danh
mục hàng hóa có xuất xứ Hàn Quốc. Với sự tăng trưởng về thương mại song
phương giữa Việt Nam - Hàn Quốc, sự am hiểu thái độ của khách hàng đối với các
sản phẩm từ Hàn Quốc có vai trò rất quan trọng, giúp cho các doanh nghiệp Việt
3
Nam hiểu rõ hơn về đối thủ cạnh tranh và rút ra được bài học về xây dựng và phát
triển sản phẩm. Đó là lý do tác giả lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu về thái độ của người tiêu dùng đối với hàng hóa có nguồn gốc
xuất xứ Hàn Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
(1) Tìm hiểu về thái độ của người tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hóa có
nguồn gốc xuất xứ từ Hàn Quốc thông qua việc trả lời những câu hỏi nghiên cứu.
(2) Đề xuất kiến nghị đối với các doanh nghiệp Việt Nam để nâng cao năng lực
cạnh tranh cũng như đề ra các kiến nghị đối với các cơ quan hoạch định về những
chính sách phát triển, xây dựng và cải thiện hình ảnh quốc gia.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu được thực hiện trên một danh mục hàng hóa có xuất xứ từ Hàn
Hàn Quốc.
(3) Thái độ của người tiêu dùng Việt Nam đối với các đặc điểm các sản phẩm
có nguồn gốc từ Hàn Quốc..
(4) Đánh giá của người tiêu dùng đối với một danh mục sản phẩm có nguồn
gốc từ Hàn Quốc (gồm ô tô, các thiết bị điện tử, mỹ phẩm và thực phẩm)
và sự so sánh tương quan với các sản phẩm đến từ các quốc gia khác như
Việt Nam, Nhật Bản, Âu – Mỹ và Trung Quốc.
6. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu giúp cho các doanh nghiệp nội địa hiểu rõ hơn về vai trò
của hình ảnh nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa đối với thái độ của người tiêu dùng
Việt Nam.
- Hiểu được tâm lý của người tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hóa có xuất xứ
từ Hàn Quốc, từ đó giúp các doanh nghiệp Việt Nam hiểu rõ hơn về đối thủ cạnh
tranh này trên thị trường nội địa.
- Việc nắm bắt thái độ của người tiêu dùng đối với hình ảnh nguồn gốc xuất
xứ của hàng hóa sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách xây dựng và có một
chiến lược lâu dài cho việc cải thiện hình ảnh và thương hiệu quốc gia để nâng cao
vị thế của hàng hóa nội địa.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục
các hình và bảng, phụ lục và tài liệu tham khảo; luận văn được bố cục theo 3
chương như sau:
-
Chương 1. Cơ sở lý luận và những nghiên cứu về thái độ người tiêu dùng đối
với hàng hóa dựa trên nguồn gốc xuất xứ;
5
hàng hóa không có giá trị; hàng hóa có tầm quan trọng hay hàng hóa không quan
trọng; hài lòng với hàng hóa hay không hài lòng. Vì vậy, để nghiên cứu về thái độ
của hàng hóa đến đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là hàng hóa có nguồn gốc
xuất xứ từ Hàn Quốc, chúng ta cần thu thập những đánh giá của người tiêu dùng về
các tiêu chí của hàng hóa đó, từ đó phát hiện ra những tâm lý tích cực hoặc tiêu cực
của người tiêu dùng.
1.1.2. Khái niệm về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa
Nguồn gốc xuất xứ hàng hóa là một khái niệm có tính tương đối, chúng ta có
thể định nghĩa nguồn gốc xuất xứ (COO) đơn giản là “thông tin liên quan đến nơi
sản phẩm được sản xuất” (Zhang, 1996), thường được thể hiện và truyền đạt bằng
câu “Xuất xứ” (Made in) kèm theo tên quốc gia nơi sản xuất sản phẩm (Amine et al,
7
2005). Tuy nhiên, việc xác định rõ nguồn gốc xuất xứ của một sản phẩm trở nên
ngày càng phức tạp bởi quá trình toàn cầu hóa về các yếu tố đầu vào và quá trình
sản xuất của nhiều loại sản phẩm có nguồn gốc từ hai hay nhiều xuất xứ khác nhau.
Ví dụ như sản phẩm ô tô của Hàn Quốc được lắp ráp tại Việt Nam, nhưng có các
linh kiện máy móc và các bộ phận được sản xuất tại Hàn Quốc.
Theo Luật Thương mại Việt Nam 2015 cũng có định nghĩa về xuất xứ hàng
hóa, theo Điều 3, khoản 14: “Xuất xứ hàng hóa là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản
xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cuối cùng đối với
hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hay vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình
sản xuất hàng hóa đó.”
Nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh toàn
cầu hóa về kinh tế, cũng như việc Việt Nam tham gia ngày càng nhiều vào các tổ
chức kinh tế và ký kết các hiệp định song phương và đa phương với các quốc gia
trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Với việc Việt Nam đã ký kết 16 FTA tính
đến hết năm 2016 2, cho thấy mối quan hệ về kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia
sản phẩm, số khác dựa trên kinh nghiệm bản thân (thông qua du lịch và du học); sự
hiểu biết về quốc gia đó, quan điểm chính trị, khuynh hướng vị chủng, …” (Samiee,
1994).
Những nghiên cứu đầu tiên về tác động của nguồn gốc xuất xứ, trong đó
nguồn gốc xuất xứ được xem là một tín hiệu thông tin đơn hướng, đã phát hiện ra
tác động đáng kể trong việc đánh giá các sản phẩm (Schooler, 1965;
Nagashima,1970). Những nghiên cứu về COO chủ yếu sử dụng COO như là một tín
hiệu được dùng cho việc suy luận về những đặc tính không thể quan sát được của
sản phẩm như là chất lượng (Wall et al.,1991). Khi COO chỉ là một dấu hiệu giữa
sự xem xét các dấu hiệu khác (như giá cả hay uy tín,...), tác động của nó đối với thái
độ của người tiêu dùng có sự suy giảm (Johansson và cộng sự, 1985; Agrawal và
Kamakura, 1999).
Một số lý luận cho rằng, trong trường hợp sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ
phức hợp, khi nhiều thông tin về nguồn gốc xuất xứ được gắn vào một sản phẩm,
người tiêu dùng thiên về việc sử dụng sự nhận biết về nguồn gốc thương hiệu của
một quốc gia cũng như quốc gia sản xuất sản phẩm có cùng nguồn gốc với thương
hiệu đó như một dấu hiệu để phân biệt chất lượng sản phẩm (Han and Terpstra,
1988). Những nghiên cứu sau đó phát hiện ra rằng quốc gia sản xuất ra sản phẩm có
ảnh hưởng lớn so với nguồn gốc quốc gia của nhãn hiệu trong quá trình đánh giá
9
của người tiêu dùng (Han và Terpstra, 1988; Tse và Gorn, 1993). Mới đây, một số
nghiên cứu đã phát hiện ra điều đối nghịch với các nghiên cứu trước khi cho rằng
nguồn gốc quốc gia của nhãn hiệu có tác động chính yếu đến việc đánh giá sản
phẩm (Hui và Zhou, 2003; Srinivasan và cộng sự, 2004). Điều này cho thấy rằng,
đối với một sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ từ nhiều quốc gia, thì nguồn gốc xuất
xứ vẫn có tác động đến việc đánh giá của người tiêu dùng đối với sản phẩm, dù mức
độ tác động thế nào thì vẫn còn nhiều tranh cãi.
1987), hay là sự gắn bó mật thiết của người tiêu dùng với yếu tố văn hóa của mình
mà đánh giá bất công hoặc sai lệch một nền văn hóa khác. Đối với những người tiêu
dùng có mức độ hành vi vị chủng cao, COO có tác động tương đối lớn đến thái độ
đánh giá sản phẩm, ý định mua và cả sự sẵn sàng mua hàng hóa ngoại. Nghiên cứu
của Shimp và Sharma cho rằng người tiêu dùng với hành vi vị chủng cao thường
quan tâm đến yếu tố nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa, và những người tiêu dùng
này cho rằng việc tiêu thụ hàng hóa được nhập khẩu là điều xã hội không mong
muốn và không thể hiện lòng yêu nước.
Người tiêu dùng luôn có thái độ khác nhau đối với các sản phẩm được sản
xuất ở các quốc gia khác nhau (Zhang, 1995). Những thái độ này của người tiêu
dùng dẫn đến những cách đánh giá khác nhau đối với các sản phẩm dựa trên nguồn
gốc của quốc gia sản xuất ra sản phẩm đó. Ngoài ra, COO còn được xem là một yếu
tố bên ngoài quan trọng thường được người tiêu dùng sử dụng trong việc đánh giá
sản phẩm vì sự thiếu hiểu biết về sản phẩm. Khi đánh giá các sản phẩm có xuất xứ
nước ngoài, người tiêu dùng thường có khuynh hướng hình thành các đánh giá
không giống nhau về các sản phẩm khác nhau có xuất xứ từ cùng một quốc gia
(Okechuku, 1994) điều đó cho thấy tác động nguồn gốc xuất xứ có ảnh hưởng khác
nhau giữa các sản phẩm có cùng nguồn gốc xuất xứ.
Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng, mức độ tác động của nguồn gốc xuất xứ
đến việc lựa chọn sản phẩm phụ thuộc vào mức độ phức tạp của sản phẩm đó
(Kaynak và Cavusgil, 1983; Wall và cộng sự, 1991). Zhang (1995) đã khẳng định
rằng nguồn gốc xuất xứ đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giá sản phẩm
khi các yếu tố nội tại của sản phẩm chưa thực sự được người tiêu dùng biết đến,
điều này có nghĩa rằng khi người tiêu dùng đánh giá một sản phẩm được sản xuất
11
một cách tinh vi với nhiều đặc điểm tích hợp, họ thường có khuynh hướng phụ
thuộc vào thông tin nguồn gốc xuất xứ đã hiện hữu sẵn trên sản phẩm đó.
Hui và Zhou (2003) và
gia nguồn gốc của nhãn hiệu có tác động
Srinivasan và cộng sự (2004)
lớn hơn đến thái độ đánh giá của người
tiêu dùng hơn là quốc gia sản xuất sản
phẩm.
Kaynak và Cavusgil (1983) và
COO tác động đến thái độ người tiêu
dùng đến các loại sản phẩm khác nhau là
Roth và Romeo (1992)
Narayana (1981);
khác nhau.
COO tác động đến thái độ rất khác nhau
12
Heslop và Papadopoulos (1993)
phụ thuộc vào quốc gia nơi tiêu thụ sản
phẩm và định hướng văn hóa của quốc
gia đó.
Wall và cộng sự (1991)
COO tác động đến thái độ người tiêu
dùng là khác nhau, tùy thuộc vào mức
độ phức tạp và tinh vi của sản phẩm.
Zhang (1995)
Với nhiều nghiên cứu đã được các nhà khoa học trên thế giới chỉ ra những tác
động của vấn đề nguồn gốc xuất xứ tác động đến thái độ về đánh giá cũng như hành
vi mua của người tiêu dùng là rất đa dạng, phong phú và phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác. Có thể thấy, tác động của COO đến thái độ của người tiêu dùng là một đề tài
rất được các nhà nghiên cứu quan tâm. Vì vậy, trong đề tài này, tác giả sẽ thực hiện
phân tích thực trạng nhằm làm rõ hơn, liệu người tiêu dùng Việt Nam thái độ như
13
thế nào trước tác động của nguồn gốc xuất xứ đến việc đánh giá các sản phẩm có
nguồn gốc từ nước ngoài nói chung và Hàn Quốc nói riêng hay không.
1.2. Một số nghiên cứu trước đây về tác động của nguồn gốc xuất xứ đến thái
độ của người tiêu dùng
Nghiên cứu về tác động của COO đến thái độ của người tiêu dùng đặc biệt
trong việc đánh giá hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài đã được thực hiện
tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới. Những nhà nghiên cứu về người tiêu dùng và
các giải pháp marketing hiệu quả đã nổ lực trong việc hiểu rõ hơn về các ra quyết
định của người tiêu dùng thông qua thái độ của họ. Các nghiên cứu ấy cũng khẳng
định rằng COO có thể được sử dụng bởi những người tiêu dùng như một đặc điểm
trong việc đánh giá sản phẩm (Johansson và cộng sự, 1985; Hong và Wyer, 1990).
Những nghiên cứu đã được thực hiện về “nguồn gốc xuất xứ” của hàng hóa đã
đóng góp một nền kiến thức quan trọng về thái độ của người tiêu dùng ở nhiều quốc
độ học vấn cao có cái nhìn tích cực hơn đối với sản phẩm ngoại so với những người
có trình độ học vấn thấp (Anderson và Cunningham, 1972; Domoff và cộng sự
1974). Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu chỉ ra rằng vấn đề về thông tin cá nhân của
đáp viên không có vai trò quan trọng đối với thái độ của họ về các sản phẩm ngoại,
như nghiên cứu tại Bulgary (Leonidou và cộng sự, 1999).
Sự gần gũi về mối quan hệ giữa quốc gia xuất khẩu và quốc gia nhập khẩu
hàng hóa, về mặt địa lý cũng như về văn hóa, cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến thái
độ của người tiêu dùng. Mức độ gần gũi càng lớn thì càng tạo cho người tiêu dùng
có thái độ tích cực đối với sản phẩm có nguồn gốc từ quốc gia đó (Bilkey và Nes,
1982; Samiee, 1994; Wall và Reslop,1986; Wang và Lamb, 1980). Nhiều kết quả
tương tự cũng đã được kết luận đối với sự gần gũi về mặt kinh tế và chính trị của
các quốc gia (Gaedeke, 1973; Iyer và Kalita,1997).
Nhìn chung, những nghiên cứu trước đây về thái độ người tiêu dùng đến
nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa cho thấy COO đóng một vai trò quan trọng trong
việc đánh giá tổng thể về hàng hóa. Đa số các nghiên cứu đều ủng hộ sự hiện diện
tác động của nguồn gốc xuất xứ đến thái độngười tiêu dùng đến hàng hóa. COO tác
động đến người tiêu dùng trên nhiều chủng loại sản phẩm. Một số nghiên cứu còn
chỉ ra vấn đề về đặc điểm cá nhân của người tiêu dùng cũng có sự tác động đến mức
độ chịu sự ảnh hưởng của COO. Và nhìn chung, người tiêu dùng dường như có thái
15
độ tích cực hoặc có đánh giá tốt đối với hàng hóa có nguồn gốc từ các quốc gia phát
triển hơn so với hàng hóa đến từ các quốc gia đang phát triển.
1.3. Mô hình nghiên cứu thái độ của người tiêu dùng đối với hàng hóa dựa trên
nguồn gốc xuất xứ
Với nhiều nghiên cứu và cách thức nghiên cứu đã được thực hiện trong việc
nghiên cứu thái độ người tiêu dùng dưới tác động của nguồn gốc xuất xứ hàng hóa.
Trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu dựa trên nghiên cứu trước đây
- Độ tuổi
- Giới tính
- Trình độ học vấn
- Địa vị xã hội
Các quốc gia
nghiên cứu
- Nhật Bản
- Hồng Kông
- Singapore
- Indonesia
- Ấn Độ
Nguồn thông tin
sử dụng trong
đánh giá
Đánh giá các đặc
điểm của sản phẩm
- Trải nghiệm bản
thân
- Ý kiến người
thân/Bạn bè
- Bao bì sản phẩm
- Truyền hình
- Truyền thanh
- Tạp chí
- Nhân viên bán
hàng
này là cơ sở cần thiết để tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu thái độ của người tiêu
dùng đối với hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ Hàn Quốc tại thị trường Thành phố
Hồ Chí Minh.
Chương tiếp theo sẽ phân tích về thực trạng tiêu dùng hàng hóa và thái độ
người tiêu dùng về hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ Hàn Quốc, từ đó thiết kế
nghiên cứu để làm rõ hơn thực trạng này. Trình thực hiện nghiên cứu, bao gồm
17
phương pháp nghiên cứu được thực hiện và phương pháp thu thập dữ liệu nghiên
cứu nhằm chuẩn bị cho các bước xử lý và phân tích dữ liệu cũng sẽ được thực hiện
trong chương tiếp theo.
18
Chương 2. Phân tích thực trạng về tiêu dùng hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ
Hàn Quốc và khảo sát về thái độ của người tiêu dùng
tại Thành phố Hồ Chí Minh
2.1. Thị trường tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hóa xuất xứ từ Hàn Quốc
Với tốc độ toàn cầu hóa về kinh tế và tự do hóa thương mại ngày càng gia tăng
mạnh mẽ, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó với bước đầu tiên là sự kiện
Việt Nam gia nhập WTO ngày 11/01/2007. Kể từ đó, Việt Nam đã nhanh chóng mở
rộng tự do thương mại với nhiều quốc gia trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu.
Điều này không những tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị
trường ra nước ngoài, mà còn là cơ hội cho các doanh nghiệp nước ngoài tiến vào
thị trường Việt Nam. Trong quá trình đó, hàng hóa từ các quốc gia khác nhau trên
thế giới liên tục được du nhập vào Việt Nam, điều này tạo nên một thị trường tiêu
dùng Việt Nam với đa dạng chủng loại hàng hóa và đa dạng nguồn gốc xuất xứ của