skkn đổi mới PHƯƠNG PHÁP dạy học về rèn CHỮ VIẾT CHO học SINH lớp 1 để NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG “vở SẠCH CHỮ đẹp - Pdf 47

PHỊNG GIÁO DỤC ĐÀO TAO ĐAM RƠNG
TRƯỜNG TIỂU HOC LƯƠNG THẾ VINH

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC VỀ RÈN CHỮ VIẾT
CHO HỌC SINH LỚP 1
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
“VỞ SẠCH CHỮ ĐẸP”

Lê Thò Khương
Trường tiểu học Lương Thế Vinh

Tháng 05 năm 2011
Giải pháp hữu ích


ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VỀ RÈN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG “VỞ SẠCH CHỮ ĐẸP”

i.

Đặt vấn đề

Đổi mới phương pháp là một nhu cầu tất yếu trong sự nghiệp đổi mới
giáo dục. Đây cũng là nhu cầu cấp bách không chỉ được toàn nghành quan tâm mà
cũng là sự quan tâm của toàn xã hội. Trong đó chất lượng dậy học là mối quan tâm
hàng đầu của nhà trường và càng lúc càng đặt ra những nhu cầu gay gắt đẩy mạnh
việc nâng cao chất lượng muốm vậy thì phải tập trung vào tìm cách đổi mới
phương pháp dạy học vì nó giữ yếu tố quyết định . Một phương pháp giảng dạy
tích cực thì sẽ đem lại cho học sinh phương pháp học tập hiệu quả hơn từ đó sẽ
đem lại chất lượng tốt hơn.

trọng, óc thẩm mĩ, tính kỉ luật tính cẩn thận trong mọi công việc ngay từ khi các
em mới bước vào lớp 1 để giúp các em học tốt hơn các lớp trên.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã mạnh dạn chọn giải pháp “Rèn chữ viết
cho học sinh lớp 1 để nâng cao chất lượng vở sạch chữ đẹp.
II.Giải pháp thực hiện:

Muốn nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh, người giáo viên cần nắm
vững:
-Yêu cầu cơ bản của dạy tập viết ở lớp 1:
+ Kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ, độ cao,
cỡ chữ, hình dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các chữ,
chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số.
+ Kỹ năng: Viết đúng quy trình - nét, viết chữ cái và liên kết các chữ cái tạo thành
chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch. Viết thẳng hàng các chữ trên dòng kẻ. Ngoài
ra học sinh còn được rèn luyện các kỹ năng như: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để
vở… bài kiểm tra cuối năm là bài tập chép một đoạn trong bài tập đọc (không mắc
quá 5 lỗi chính tả).
- Muốn đổi mới phương pháp giảng dạy, giáo viên cần hiểu rõ ý đồ của vở tập
viết. Cấu trúc mỗi bài gồm phần tập viết chữ cái và từ ứng dụng.
Ở vở tập viết lớp 1 thì cứ sau bài học vần có một bài tập viết thêm để học sinh
rèn luyện cách viết các chữ vừa học.
- Các ký hiệu trong vở tập viết phải được học sinh nắm chắc, như: đường kẻ
ngang, quy định độ cao chữ cái, dấu chấm là điểm đặt bút đầu tiên của chữ, ký
hiệu luyện viết ở nhà.
b)Chương trình và vở tập viết hiện hành:
-Vở tập viết của Bộ giáo dục phát hành giúp học sinh không ngừng nâng cao về
chất lượng chữ viết mà còn phối hợp với các môn học khác nhằm phát huy vai trò
của phân môn tập viết. Chương trình tập viết lớp một gồm có:
Học kỳ I: Sau mỗi bài học vần học sinh được luyện viết những chữ các em vừa
học và mỗi tuần có thêm 1 tiết tập viết.

c) Đặc điểm đôi mắt trẻ khi viết:
- Trẻ tiếp thu hình ảnh chữ viết qua mắt nhìn. Vì vậy, nếu chữ viết được trình bày
với kích thước quá nhỏ hoặc ánh sáng kém thì các em phải cúi sát xuống để nhìn
cho rõ chữ, từ đó dẫn đến cận thị.
- Trong thời gian đầu, có thể các em nhận ra đúng hình chữ nhưng bàn tay chưa
ghi lại đầy đủ hình dáng của mẫu chữ. Chỉ sau khi luyện tập, số lần nhắc đi nhắc
lại nhiều hay ít tuỳ theo từng học sinh, thì các em mới chép đúng mẫu.
3/ Cấu tạo chữ viết:


a) Xác định tọa độ và chiều hướng chữ:
Tọa độ chữ được xác định trên đường kẻ ngang của vở tập viết. Mỗi đơn vị dòng
kẻ trong vở gồm có 4 dòng kẻ ngang (1 dòng đầu đậm và 3 dòng còn lại được in
nhạt hơn). Ta ký hiệu đường kẻ trên là số 1 các đường khác là 2, 3, 4 kể từ dưới
lên trên.
Cách xác định tọa độ trên khung chữ phải dựa vào đường kẻ dọc, đường kẻ ngang
và các ô vuông làm định hướng. Đây là một trong những điều kiện để dạy chữ viết
thành một quy trình. Quy trình được thực hiện lần lượt bởi các thao tác mà hành
trình ngòi bút đi qua tọa độ các chữ.
Xác định tọa độ cấu tạo các chữ viết hoa đều phải căn cứ vào các ô vuông của
khung chữ mẫu để phân tích cách viết.
Ngoài việc thống nhất các khái niệm về đường kẻ, ô vuông như trên, để việc tổ
chức dạy tập viết có hiệu quả hơn, cần chú ý thêm một số thuật ngữ có liên quan:
a.1- Điểm đặt bút: Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong chữ cái. Điểm đặt bút có
thể nằm trên đường kẻ ngang, hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
a.2- Điểm dừng bút: Là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái. Điểm dừng
có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
a.3- Tọa độ điểm đặt hoặc dừng bút: Về cơ bản, tọa độ này thống nhất ở vị trí 1/3
đơn vị chiều cao chữ cái, có thể ở vị trí trên hoặc dưới đường kẻ ngang.
a.4- Viết liền mạch: Là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét

làm mờ sự khu biệt cần thiết giữa các chữ cái và gây trở ngại trong giao tiếp, mặt
khác cách làm này cho chữ viết tay không liền mạch, không đẹp và tốc độ viết
chậm.Ví dụ: anh
* Nét phối hợp:Trên cơ sở lấy nét chữ cơ bản làm nền, tính từ điểm xuất phát kéo
dài nét đó cho đến khi không thể và không cần thiết kéo dài được nữa (đến đây đã
đủ nét và nếu cứ tiếp tục kéo dài sẽ trùng với nét khác hoặc dư thừa nét) thì chấm
dứt. Loại nét này gọi là nét phối hợp. Nhờ cách quan niệm như vậy, các nét cấu tạo
chữ cái không bị cắt vụn. Chẳng hạn, với chữ cái “a” thông thường có thể phân
thành 3 nét: nét cong trái, nét thẳng đứng và nét cong phải (C, |, ) nhưng khi
viết, thông thường người viết kéo dài nét thẳng đứng cho đến khi kết thúc nét, lúc
đó ta được nét móc phải (là sự kết hợp giữa nét thẳng đứng và nét cong). Vì vậy, ta
chọn lối phân tích chữ “a” thành 2 nét: nét cong kín (O) và nét móc phải ( ).
Với cách xác định chữ như trên, việc phân tích các chữ trở nên gọn và dễ hiểu.


Sau đây là danh sách các nét phối hợp cần được thống nhất để dạy viết nét và viết
chữ cái tiếng Việt:
1. Nét móc: Nét móc xuôi
, nét móc ngược
2. Nét móc hai đầu:
3. Nét thắt giữa:
4. Nét khuyết: - nét khuyết trên
- nét khuyết dưới.
5. Nét thắt trên:
Cách sắp xếp các chữ cái có hình dáng tương tự vào cùng bài dạy xuất phát từ
quan niệm muốn dùng thao tác tương đồng để dạy chữ cái và dạy viết theo thứ tự
từ đơn giản đến phức tạp xét về cấu tạo nét chữ.
Nhóm 1: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong: c, o, ô, ơ, e, ê, x.
Nhóm 2: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét móc(hoặc nét
thẳng): a, ă, â, d, đ, g.

4.2) Phương pháp đàm thoại gợi mở:
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học. Giáo viên
dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ cái sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ việc
hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến việc so sánh nét
giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với chữ cái đã phân tích.
Ví dụ: Khi dạy chữ A, giáo viên có thể đặt câu hỏi: chữ A gồm có bao nhiêu nét?
là những nét nào? chữ A cao mấy ô? độ rộng của chữ là bao nhiêu?…
Với những câu hỏi khó, giáo viên cần định hướng cách trả lời cho các em. Vai trò
của giáo viên ở đây là người tổ chức hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo chữ cái
chuẩn bị cho giai đoạn luyện tập viết ở phần sau.
4.3) Phương pháp luyện tập:
Giáo viên cần chú ý đến các giai đoạn của quá trình tập viết chữ. Việc hướng dẫn
học sinh luyện tập phải tiến hành từ thấp đến cao để học sinh dễ tiếp thu. Lúc đầu
là việc viết đúng hình dáng, cấu tạo kích thước các cỡ chữ, sau đó là viết đúng
dòng và đúng tốc độ quy định. Việc rèn luyện kỹ năng viết chữ phải được tiến
hành đồng bộ ở lớp cũng như ở nhà, ở phân môn tập viết cũng như ở các phân
môn của bộ môn Tiếng Việt và các môn học khác.
Khi học sinh luyện tập chữ viết, giáo viên cần luôn luôn uốn nắn cách ngồi viết.
Cần lưu ý các hình thức luyện tập cơ bản sau:
Tập viết chữ (Chữ cái, chữ số, từ ngữ, câu) trên bảng lớp.
Hình thức tập viết trên bảng có tác dụng kiểm tra sự tiếp thu cách viết và bức đầu
đánh giá kỹ năng viết chữ của học sinh. Hình thức này dùng để kiểm tra bài cũ


hoặc sau bước giải thích cách viết chữ, bước luyện tập viết chữ ở lớp. Từ đó, giáo
viên phát hiện những chỗ sai của học sinh để uốn nắn (sai về kích cỡ, hình dáng,
thứ tự các nét viết).
Tập viết chữ vào bảng con của học sinh:
Học sinh luyện tập viết bằng phần (hoặc bút bảng) vào bảng con trước khi viết vào
vở. Học sinh có thể viết chữ cái, vần, chữ khó vào bảng. Khi sử dụng bảng, giáo

chất liệu tốt làm nổi rõ hình chữ trên bảng. Bút dạ viết trên bảng phoóc trắng có
dòng kẻ, cầm vừa tay, đầu viết nhỏ, ra mực đều mới viết được dễ dàng. Khăn lau
sạch sẽ, có độ ẩm vừa phải, giúp cho việc xoá bảng vừa đảm bảo vệ sinh, vừa
không ảnh hưởng đến chữ viết.
Thông qua việc thực hành luyện viết của học sinh trên bảng con, giáo viên nhanh
chóng nắm được những thông tin phản hồi trong quá trình dạy học để kịp thời xử
lí, tác động nhằm đạt được mục đích dạy học đề ra.
Để việc sử dụng các đồ dùng học tập nói trên trong giờ Tập viết đạt hiệu quả tốt,
giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện một số điểm sau:
Chuẩn bị bảng con, phấn, khăn lau đúng qui định:
+ Bảng con có dòng kẻ đồng dạng với dòng kẻ li trong vở tập viết.
+ Phấn viết có độ dài vừa phải.
+ Khăn lau sạch.
Sử dụng bảng con hợp lí và đảm bảo vệ sinh:
+ Ngồi viết đúng tư thế.
+ Cầm và điều khiển viên phấn đúng cách.
+ Viết xong cần kiểm tra lại. Tự nhận xét và bổ sung chỗ còn thiếu, giơ bảng ngay
ngắn để giáo viên kiểm tra nhận xét.
+ Đọc lại chữ đã viết trước khi xoá bảng.
Vở tập viết, bút chì, bút mực:
Vở tập viết lớp 1 cần được giữ gìn sạch sẽ, không để quăn góc hoặc giây bẩn. Bút
chì dùng ở 3 tuần đầu lớp 1 cần được bọc cho cẩn thận, đầu chì không nhọn quá
hay dày quá để dễ viết rõ nét chữ. Riêng về bút mực, trước đây đòi hỏi học sinh
hoàn toàn sử dụng loại bút có quản, ngòi bút nhọn đầu viết được nét thanh nét
đậm. Từ khi loại bút bi được sử dụng phổ biến thay thế cho bút chấm mực, việc
học tập viết của học sinh có phần tiện lợi (viết nhanh, đỡ giây mực…) song chất
lượng chữ viết có phần giảm sút.
4.5. Thực hiện đúng qui định khi viết chữ:
* Tư thế ngồi viết: Tư thế lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt
cách vở 25 – 30cm; nên cầm bút tay phải, tay trái tì nhẹ lên mép vở để trang viết

(B) Bài mới:
1- Giới thiệu bài: - Nêu nội dung và yêu cầu tiết dạy.
- Bài số:……..
Chữ mẫu - Từ ứng dụng
2- Hướng dẫn học sinh viết chữ:
- Giáo viên đưa chữ mẫu cho học sinh quan sát.
-Giáo viên gợi ý cho học sinh nhận biết, so sánh: Chữ gì? Gồm mấy nét? Nét nào
đã học, giống chữ nào đã học, phần nào khác?… (Có thể cho học sinh chỉ vào chữ
mẫu trên bảng)
- Giáo viên hướng dẫn quy trình viết chữ:
+ Sử dụng chữ mẫu để học sinh quan sát.
+ Viết mẫu trên khung chữ thật thong thả cho học sinh theo dõi (ghi nhớ thứ tự các


nét).
+ Viết mẫu trên dòng kẻ ở bảng lớp (hoặc trên bảng con) để học sinh nắm vững
quy trình viết chữ caí. Giáo viên viết mẫu sau đó dùng que chỉ lại để mô tả quy
trình.
- Học sinh tập viết trên bảng con, giơ bảng để giáo viên kiểm tra uốn nắn, nhận xét
kết quả (chú ý về hình dáng, quy trình).
3- Hướng dẫn học sinh viết ứng dụng:
- Giáo viên giới thiệu nội dung viết ứng dụng và viết nội dung từ ứng dụng; sau đó
gợi ý học sinh hiểu ý nghĩa từ ứng dụng sẽ viết.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát và nhận xét về cách viết ứng dụng (chú ý
đến các điểm quan trọng: độ cao các chữ cái, quy trình viết liền mạch - nối chữ,
khoảng cách giữa các chữ cái, đặt dấu ghi thanh…).
- Giáo viên viết mẫu minh họa cách nối chữ (do giáo viên xác định trọng tâm ở bài
dạy), học sinh theo dõi.
- Học sinh tập viết theo trọng tâm nối chữ do giáo viên chọn (chữ ghi tiếng - từ có
thao tác nối). Giáo viên theo dõi, kiểm tra, uốn nắn và nhận xét.

19em

11em

2em

Với trách nhiệm và sự lo lắng của giáo viên chủ nhiệm tôi đã áp dụng những giài
pháp “ Rèn chữ- giữ vở” qua nhiều năm dạy học tôi đã rút ra được để áp dụng vào
vở sạch viết chữ đẹp của lớp. Nay tôi luôn phấn đấu để đưa phong trào vở sạch
chữ đẹp của lớp ngày càng đạt kết quả cao.
-Tóm lại nét chữ biểu hiện ờ nết người. không ít người cứ quan niệm chữ viết là
do hoa tay nhưng qua thực tế giảng dạy tôi thấy rằng chữ viế phải qua quá trình
rèn luyện thường xuyên kiên trì, bền bỉ và có ý thức để tự giác để rèn chữ viết.
III. Kết luận:

Trên đây là một số giải pháp cơ bản của bản thân tôi trong việc áp dụng một số
giải pháp và phương pháp đổi mới, giúp học sinh rèn chử giữ vở, qua thực tế giảng
dạy tôi nhận thấy phương pháp này đáp ứng với mhu cầu hiện nay. Số lượng học
sinh đạt kết quả cao so với thời điểm đầu năm.
Tuy nhiên đay la những giải pháp mang tính cá nhân tôi, hơn nữa còn có những
hạn chế về thời gian. Do vậy không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự
góp ý của các đồng nghiệp, các đồng chí lãnh đạo. Tôi xin chân thành cảm ơn.
ĐạRsal,ngày 2 tháng 05 năm 2011

Lê Thị Khương




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status