Chương 7. Chất kết dính vô cơ
7-
1
Chương 7
CHẤT KẾT DÍNH VÔ CƠ
7.1 Khái niệm chung
Chất kết dính vô cơ là những vật liệu vô cơ thường ở dạng bột, khi nhào trộn với
dung môi thích hợp cho hỗn hợp dẻo có thể gắn kết các vật liệu rời và sau đó trong điều
kiện thích hợp có khả năng tự rắn chắc tạo thành đá nhân tạo. Lợi dụng khả năng này
người ta sử dụng chúng để gắn các loại vật li
ệu rời rạc (cát, đá, sỏi...) thành một khối
đồng nhất như trong công nghệ chế tạo bê tông, gạch silicát, vữa xây dựng, các sản phẩm
ximăng, amiăng và các loại vật liệu đá nhân tạo khác.
Tuỳ theo phạm vi sử dụng người ta chia chất kết dính vô cơ thành 2 loại: chất kết
dính vô cơ rắn trong không khí - là loại chỉ dùng trong không khí và chất kết dính vô cơ
rắn trong nước - là loại sử dụng trong cả
môi trường nước và không khí.
Về thành
phần hoá học những chất kết dính vô cơ phổ biến nhất thường chứa 4
nhóm ôxit chính : CaO (có thể BaO, K2O, Na2O), SiO2, Al2O3, Fe2O3. Những ôxit này
tác dụng với nhau với tỷ lệ nhất định tạo ra những khoáng khác nhau. Những khoáng này
quyết định đến tính chất chất kết dính vô cơ. Đối với chất kết dính vô cơ rắn trong nước
hay dùng môđun thuỷ lực (m) để đánh giá chất lượng:
32322
OFe%+OAl%+SiO%
CaO%
=m
(7- 1)
Trong điều kiện chế tạo thích hợp những chất kết dính rắn trong nước có m cao thì
hiện trong máy tôi.
Vôi được sử dụng ở 2 dạng: vôi chín và bột vôi sống
7.3 Thạch cao
Thạch cao xây dựng là chấ
t
kế
t
dính vô cơ rắn trong không khí được sản xuất từ đá
thạch cao thiên nhiên (thành phần chính là CaSO4.2H
2
O). K
h
i nung đá thạch cao ở nhiệt
độ thích hợp được thạch cao xây dựng (thành phần khoáng chính là CaSO
4
.1/
2
H2O). Khi
trộn với nước nó sẽ tác dụng với nước và tạo thành đá thạch cao (thành phần chính là
CaSO4.2H2O).
Thạch cao xây dựng rắn chắc nhanh (kết thúc ninh kết không quá 30 phút), nhưng
cường độ thấp và chỉ bền trong không khí, được sử dụng chủ yếu là vật trang trí trong
nhà, nơi khô ráo. Tính chất quan trọng của thạch cao xây dựng là độ mịn và cường độ
chịu nén. Thạch cao xây dựng được chia thành 2 loại dựa vào 2 tính chất chính như trên
(phụ lục 3 - 1).
7.4 Thuỷ tinh lỏng
Thuỷ tinh là một dung dịch rắn ở dạng vô định hình nhận được bằng cách làm nguội
khối silicát nóng chảy. Quá trình chuyển đổi từ trạng thái lỏng sang trạng thái thuỷ tinh
(vật rắn) là quá trình thuận nghịch. Đặc điểm của trạng thái thuỷ tinh là không có điểm
c
tinh, tạo hình sản phẩm
và ủ sản phẩm.
Gia công bao gồm đập và nghiền nguyên vật liệu ở dạng cục (đôlômít, đá vôi, than),
sấy nguyên liệu (cát, đôlômít, đá vôi), sàng các cấu tử qua sàng có đường kính cho trước.
Chuẩn bị phối liệu là làm đồng đều, cân và trộn phối liệu: phối liệu đựoc coi là có
chất lượng nếu sai số không vượt quá 1%
Nấu thuỷ tinh đựơc tiến hành ở các loại lò
đặc biệt hoạt động liên tục hoặc gián
đoạn. Để làm tăng độ trong và độ đồng nhất, khối thuỷ tinh phải được nâng đến 1500 –
16000C. Tại đây độ nhớt của chất lỏng giảm xuống tạo điều kiện tách khí dễ dàng và
nhận đựơc một khối đồng nhất. Quá trình nấu thuỷ tinh đựơc kết thúc bằng việc làm
nguội đến nhiệt độ
để có một độ nhớt thích hợp cho việc gia công sản phẩm. Công tác tạo
hình sản phẩm đựoc tiến hành bằng các phương pháp khác nhau: kéo , rót , cán, ép và
thổi, nổi. Việc tạo hình kính đựoc thực hiện bằng cách kéo đứng hoặc kéo ngang các
băng thuỷ tinh từ dung dịch, phương pháp kéo đựoc sử dụng để chế tạo các tấm dày
2,6mm. Băng được kéo từ khối nóng chảy qua các thuyền (thanh chị nhiệt có rãnh dọc)
bằng các con lăn quay c
ủa máy hoặc bằng bề mặt tự do của khối thuỷ tinh. Phương pháp
nổi là phương pháp hoàn hảo nhất, có năng suất cao. Nó cho chất lượng bề mặt của kính
cao. Đặc biệt của phương pháp này là quá trình tạo băng thuỷ tinh trên bề mặt thiếc chảy
lỏng do khối thuỷ tinh trào ra. Bề mặt của tấm băng thuỷ tinh phẳng và nhẵn, cũng không
cần phải đánh bóng nữa.
Ủ
: là công đoạn cuối bắt buộc khi chế tạo sản phẩm. ủ để tránh hiện tượng phát sinh
nội ứng suất lớn có thể gây ra sự phá hoại sản phẩm nhằm cố định hình dạng của chúng.
Tôi: là công đoạn cuối cùng để chế tạo thuỷ tinh với cường độ chịu nén cao hơn 4-6
lần và cường độ chịu uốn cao hơn 5-8 lần so với thuỷ tinh thườ
ng. ủ đựơc thực hiện bằng
cách đưa thuỷ tinh đến trạng thái dẻo sau đó làm lạnh sâu bề mặt của nó.
ng không khí và cả môi trường ẩm ướt.
7.5 Ximăng pooclăng và ximăng đặc biệt
Xi măng pooclăng là chất kết dính quan trọng nhất trong xây dựng, đư
ợ
c sản xuất từ
2 nguyên liệu chính là đá vôi và đất sét. Sau khi gia công cơ học và nung ở nhiệt độ
14500C được clinke ximăng. Sau đó nghiền clinke với 1 hàm lượng đá thạch cao thích
hợp được Xi măng pooclăng. Thành phần hoá học chính của Xi măng pooclăng như sau:
CaO : 63 - 66%
SiO
2
: 21 - 24%
Fe
2
O
3
: 2 - 4%
MgO : 0.5 - 5%
Hình 7.2. Một số sản phẩm thuỷ tinh
Chương 7. Chất kết dính vô cơ
7-
5
Al
2
O
3
: 4 - 8%
SO
2
O
3
( viết tắt C4AF) : 10 - 25%
Để đánh giá tổng quát hơn thành phần của xi măng thường dùng các hệ số :
1. Hệ số kiềm ( môđun thủy lực):
32322
OFe%+OAl%+SiO%
CaO%
=m
(m = 1,9 - 2,4) (7- 3)
2. Hệ số silicát
3232
2
OFe%+OAl%
SiO%
=n
(n = 1,7 - 3,5) (7- 4)
3. Hệ số aluminat :
32
32
OFe%
OAl%
=p
(p = 1 - 3) (7- 5)
4. Hệ số bão hoà :
( ) ( ) ( )
[ ]
()
2
O (hay gặp ở dạng 3CaO. Fe
2
O
3
.6H
2
O)
và 3CaO.Al
2
O
3
.3CaSO4.32H
2
O. Các khoáng hyđrat biến đổi sẽ làm cho xi măng rắn
chắc. Để đánh giá chất lượng xi măng người ta dựa vào các thông số khác nhau. Nhưng
thông số quan trọng nhất là mác xi măng. Hiện nay trên thế giới thường dùng 2 phương
pháp để xác định mác xi măng: phương pháp vữa cứng và phương pháp vữa dẻo.
Đôi khi trong lúc nghiền xi măng người ta còn cho thêm 1 số phụ gia hoạt tính: xỉ,
puzôlan, trêpen v.v…Những phụ gia này làm tăng tính bền của xi măng poocl
ăng, vì
thành phần hoạt tính của phụ gia (SiO
2
hoạt tính) sẽ tác dụng với Ca(OH)
2
trong xi măng
pooclăng khi trộn với nước để tạo ra silicát canxi ngậm nước bền hơn trong môi trường
tự nhiên.
Ximăng đặc biệt: để chế tạo ximăng đặc biệt người ta thường dùng các biện pháp
sau đây:
+ Điều chỉnh thành phần khoáng vật và cấu trúc của clanke ximăng