MỞ ĐẦU
Đất nước ta có rất nhiều các di tích lịch sử văn hóa các địa
danh cách mạng. Chính những di tích này đã tạo nên "khí thiêng
sông núi", thức tỉnh, nuôi dưỡng lòng yêu nước thương nòi, lòng tự
hào dân tộc và ý chí tự cường của bao thế thệ.
Di sản văn hóa Việt Nam là sự kết tinh của mối quan hệ tổng
hoà và tương tác giữa thiên nhiên - con người - văn hóa Việt nam
trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước hết sức gian khổ.
Qua chuyến đi thực tế các tỉnh miền Trung vừa qua, tôi đã
được thăm quan một số thắng cảnh nổi tiếng được UNESCO công
nhận là di sản văn hóa và di sản thiên nhiên thế giới là Vườn Quốc
Gia Phong Nha - Kẻ Bàng, cố đô Huế và phố cổ Hội An. Đã giúp tôi
hiểu đầy đủ hơn, sâu hơn về các địa danh lịch sử của đất nước. Với
những nét kíên trúc đặc sắc nằm giữa một vùng non nước nên thơ và
một quần thể danh thắng, di tích kỳ thú, trở thành trung tâm du lịch
nổi tiếng đã thu hút thu du khách trong nước và quốc tế đến thăm
quan.
1
I. PHONG NHA - KẺ BÀNG.
Người ta thường gọi chung là khối núi (vườn Quốc gia) Phong
Nha - Kẻ Bàng do sự kết hợp của Phong Nha (động nước) và Kẻ
Bàng (khối núi). Ngày xưa Phong Nha có tên là núi Thần Tiên do
chính bởi vẻ đẹp huyền ảo nơi đây, GS Trần Quốc Vượng đã nói:
"Người ta cứ theo mặt chữ của hai từ này mà đoán ý nghĩa tên
Phong Nha", Nghĩa Hán Việt của hai từ này là "Răng Gió", phải
chăng do bởi ngay ở cửa hàng có nhiều nhũ đá toả xuống tua tủa
giống như hình những cái răng lớn gồ ghề? Hay do bởi người ta
thường nghe thấy từ cửa động phát ra một tiếng lạ lùng, lúc ào ào
Trường Sơn đem ra biển để dựng những đảo bồng lai cho Hằng Nga
trốn trời xuống tình tự. Nhưng không may bị bại lộ, trời sai Thiên
Lôi trừng phạt khiến công việc dở dang, nửa gánh kết thành dãy
Xuân Sơn (một phần tách ra của rặng Kẻ Bàng) ở bên kia sông, nửa
ở bên kia sông, nửa ở bên này thành núi Voi và những núi khác.
Lưới búa oan của thiên lôi làm máu ông khổng lồ chảy thành dòng
sông Son (một trong bốn nguồn của sông Gianh - con sông lớn nhất
của tỉnh Quảng Bình), để hàng năm đến mùa lại đỏ màu khắc khoải,
màu thủy chung của thiên tình sử oan trái. Nước mắt thương con
của bà mẹ đất đã làm trong lại dòng sông. Để an ủi người con cũng
3
như chính mình bà thu gom mọi vẻ đẹp của thế gian lại và tạo nên
cảnh sắc Phong Nha. Từ đó nơi đây trở thành mảnh đất "tụ linh tụ
phúc" Nhiều người nghiệm rằng con trai tắm ở dòng sông này thì cơ
thể trở nên cường tráng, con gái rửa mặt giữa dòng thì sẽ xinh tươi
hơn… Và Phong Nha cũng trở thành nơi "quần tiên hội tụ". Một
buổi, theo thường lệ. Ngọc Hoàng thượng đế thiết triều nhưng chỉ
thấy các lão tiên tới hầu. Bằng trí tuệ của đấng sáng tạo. Ngài biết
các tiên đang vui vẻ trên trần thế mà quên đường về. Ngài thường
nghĩ cảnh đẹp trên trời là chuẩn mực cho thế giới nên không thể có
nơi nào đẹp hơn để lưu chân khách miền thiên quốc. Vì thế ngài đã
lặng lẽ xuống trần, tới Phong Nha, Ngài sững sờ trước cảnh non
nước hữu tình. Ngài tha tội cho các tiên, song để cho Phong Nha giữ
được vẻ đẹp thuần khiết, ngài phân tiên nam bên tả, tiên nữ bên hữu
dòng chảy. Từ đó dãy Xuân Sơn thành tên và là nơi hội họp của các
tiên ông đạo cao đức trọng… Truyền lại, trước đây núi Xuân Sơn
muôn loài hoà hợp, cuộc sống thật thanh bình trong niềm vui bất
quái hung hăng bắt gia súc, chúng xô nước ngập đồng, đe doạ cuộc
sống của dân lành. Chàng trai giận lắm, nghe già làng nói đã lâu lắm
rồi có một vị thành tiên vốn là người đời bỏ làng vào núi tu khổ
hạnh để tìm lẽ trường sinh. Ngài hay xuất hay xuất hiện giúp dân
khi có tai hoạ. Nhưng lần này sao chưa thấy ngài đâu? Chàng trai
quyết tâm vượt muôn ngàn sóng dữ và muôn trùng gian khó, ngược
sông đi tìm. Khi đến động Phong Nha, chàng thấy trong thảo am có
5
một ông già râu tóc bạc phơ ngồi bất động. Mặc cho mưa gió, già
đang chìm trong thâm định (đi sâu suy ngẫm về lẽ đạo, đẩy trí tuệ
vào cõi huyền vị mà quên cả ngoại cảnh), xung quanh bao phủ một
quầng sáng thanh cao của đạo pháp.Tới bên ngài, chàng trai quỳ gối
kính cẩn thưa. Về tai hoạ của muôn dân, tâm thành của chàng làm
tỉnh giấc của lão tiên. Ngài dẫn chàng trai vào động gọi Tiểu Tiên
nữ cho chàng mượn thanh bảo kiếm. Trước vẻ đẹp tinh khôi kết tụ
mọi dòng nguyên khí, chàng bị đắm chìm bởi dòng nước hung ác
mà lại chìm trong suối tóc vàng thánh. Âu cũng là số trời! Được lão
tiên giải cơn mê và dạy cho những điều phải làm cũng câu thần chú.
Ra về chàng trèo lên đỉnh núi Kỳ Lân, đứng ngoảnh mặt về hướng
đông, giữ cho tâm thật tinh khiết và đọc "A-U-M mani patê huum".
Tiếng úm (A-U-M) vang vọng át cả tiếng sóng, theo không không
gian bay tới miền hoang nguyên, làm rung chuyển cả đất trời và hội
về đây nguồn chân linh tuyệt đối. Chàng vung kiếm về phía Bắc,
chớp giật đẩy trời, vùng về hướng Tây, sấm nổi muôn nơi.Dùng hết
sức manh lưới kiếm chém thẳng xuống dòng sông, tạo nên tiếng sét
long trời, mọi thủy quái run sợ tản về biển cả. Dòng sông Son trong
dần lại êm đềm trôi.
để gặp chàng, mong làm vơi đi nỗi buồn. Nàng đã tạo nên những
hình tượng của sự ái ân và giận hờn, khiến cho động vừa mang vẻ
đẹp vừa mang uẩn khúc tâm tư, lại vừa thoáng nét đổ vỡ. Từ đó
người đời gọi một động trong động Tiên Sơn là động Ái Ân.
- Động Huyền Cung - Động Diệu Vân - Động Hẹn Hò.
7
Người xưa thường nói, có đại tiên thường tìm vào một động
để lánh đời và khổ hạnh tịch cốc mà chìm trong suy nghĩ, hay nhập
vào nguyên sớ để kiếm chất vô nhiễm làm thuốc trường sinh. Vì thế
có một hang động sâu thẳm mang tên Huyền Cung.
Có một động khác mà ở góc động vẫn thoảng nghe tí tách
tiếng thời gian, đọng lại thành nguồn phúc thủy trong veo. Người ta
gọi là Diệu Vân động, truyền rằng, nguồn nước thiêng kỳ diệu này
thường được các tín đồ của đạo Thần Tiên lấy về làm nước cúng,
nhằm biểu hiện lòng súng kính và cả năm sẽ gặp nhiều điều may
mắn.
Một động lớn với những cây "thiên mệnh" nối bầu trời với mặt
đất tạo nên sự đối đãi của âm dương (hay đó là một biểu hiện của
cuộc giao hoan giữa trời cha và đất mẹ). Có người cho rằng đến
động này chính là đến phút "hoàng hôn" của chuyến đi với lời hẹn
tái hợp nên động có tên là động Hẹn Hò.
2. Còn các động khác của di sản Phong Nha đều được đặt
tên theo hình dáng của những khối đá lớn có trong động hoặc
hang đó.
- Núi Bình Phong.
Tên một ngon núi lớn che ngọn gió độc thổi vào trong động
Phong Nha.
nên chuẩn mực, đến nỗi chỉ thấy tâm hoá cảnh.
- Chùa Hang - Động Thanh Hư - Động Bi Ký.
9
Nhiều người gọi Chùa Hang là động Thanh Hư vì đây giống
chốn hư không thanh tịnh nơi đất Phật. Từ cuối thế kỷ trước, cố đạo
R.P.Cardiere đã đi sâu vào động Phong Nha 600m và tìm thấy dấu
tích một bàn thờ (của người Việt) và một số chữ Chàm khắc trên
vách hang. A.Pavis nói bàn thờ ấy bằng gạch của người Chàm do
người An Nam trét lại. Có lẽ đây chính là di tích văn hóa Chăm.
Khu vực này chính là Chùa Hang - có tượng phật ngồi kiết già, có
chữ "Vạn" trước ngực. Pavis đọc được một chữ Chàm
"Campimala", nó xác định tính chất Phật giáo của hang động ấy.
Campimala hay Kapimala chính là tên của một vị La Hán. Nơi đây
có người lại gọi là động Bi Ký (tức động khắc chữ).
- Động Huyền Không
Huyền là sâu, đen, là cái gốc, không là "chất điểm" khởi đầu
của muôn loài vật. Huyền không chỉ có ý nói rằng muôn vật cùng
chung nguồn gốc mà còn là một nền tảng để phát triển đại từ tâm.
Động Huyền Không là cội nguồn của xuyên thủy động Phong Nha,
vào sâu tận cùng của động không rõ là còn bao xa?
- Hang Thánh Đường.
Một hang cao rộng kiểu nhà thờ. Tới hang, người ta có thể
nghe tiếng rơi kêu như lời chúc tiễn: "Ngũ phúc lâm môn" (Phú,
quý, thọ, khang, ninh). Con tơi theo cách nghĩ của người phương
Đông chính là biểu tượng của sự hạnh phúc.
- Kim Chung Đài - Phật thủ- Bầu Tiên - Động Âu Cơ.
Là những tên của một nhũ trần khổng lồ cao gần tới trần động.
11
cửa hang cao rộng có những tên gọi khác nhau, những hồ ngầm
cùng những thạch nhũ tráng lệ kỳ ảo, với giá trị địa chất địa mạo,
với cảnh quan môi trường đa dạng phong phú, với những nét văn
hóa lịch sử tiêu biểu... vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng xứng
đáng được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào tháng 7 năm
2003.
II. HUẾ.
Hoà cùng sự phát triển của du lịch nhà, trong những năm gần
đây, du lịch Huế cũng có những bước phát triển đáng kể nhất là từ
khi cố đô Huế được Unesco công nhân là di sản văn hóa nhân loại
vào ngày 11 tháng 12 năm 1993. Huế - cố đô của một chế độ quân
chủ cuối cùng ở Việt Nam, có nhiều tiềm năng du lịch văn hóa với
hơn 200 di tích đã được xếp hạng như kinh thành Huế, hệ thống
lăng tẩm của các vua Nguyễn... Tên gọi các địa danh của Huế gắn
liền nhiều với lịch sử bởi đây là một Di sản văn hóa.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh ở miền Trung Việt Nam, phía Bắc
giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà nẵng, Tây nam
giáp tỉnh Quảng Nam, phía tây giáp dãy Trường Sơn hùng vĩ chính
là biên giới Việt Lào, phía Đông được giới hạn bởi biển Đông. Là
khúc ruột nối liền phía Bắc với phía Nam của tổ quốc (cách Hà Nội
660km về phía Bắc và cách TP. Hồ Chí Minh 1080km về phía
Nam). Huế chính là hình ảnh thu nhỏ lại của tổ quốc Việt Nam tươi
đẹp và đa dạng. Thừa Thiên Huế là tỉnh có đặc thù ưu việt đó là sự
đa dạng về cảnh quan thiên nhiên. Nơi đây có dòng sông Hương
chảy yên bình và thơ mộng, có những dòng kênh bao quanh, những
tên và một vẻ đẹp riêng như cầu Giã Viễn, Phú Xuân, Tràng Tiền,
Đông Ba, Gia Hội, Phú Cam...
Còn về tên núi Ngự sách "Đại Nam Nhất Thống Chí" của
Quốc sử quán triều Nguyễn viết: "ở phía Đông Bắc Hương Thủy,
nổi vọt ở quãng đất bằng hình thức bình phong làm lớp án thứ nhất
trước kinh thành, tục gọi là núi Bằng (tức núi Bằng Sơn). Đời Gia
Long dặt cho tên núi như hiện nay là Ngự Bình, đỉnh núi bằng
phẳng khắp nơi trồng thông". Núi Ngự Bình cao 105m, dáng uy
nghi cân đối, hai bên Bằng Sơn có hai ngọn núi nhỏ trầu vào là Tả
Bật Sơn và Hữu Bật Sơn, Vương Triều Nguyễn được thành lập,
quyết định xây dựng kinh thành Huế, thấy Bằng Sơn như một bức
bình phong án ngữ trước mặt. Gia Long chấp nhận đề án của các
thầy địa lý chọn núi này làm tiền án của hệ thống phòng thành đồ sộ
kiên cố và đổi tên cho ngọn núi này là núi Ngự Bình.
Cùng với sông Hương, Núi Ngự là quà tặng vô giá thứ hai của
tạo hóa, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của Huế. Từ
lâu, ngọn núi xinh đẹp này cùng sông Hương trong xanh đã trở
thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Người ta quen gọi Huế là xứ
sở của sông Hương núi Ngự Bình cũng bởi thế.
2. Đồi Vọng Cảnh - đồi thông Thiên An.
Cách núi Ngự Bình vài km là đồi Vọng Cảnh, một danh thắng
khác của Huế đứng soi bóng duyên dáng bên dòng sông Hương,
nhìn qua núi Ngọc Trản Vọng Cảnh có nghĩa là nhìn ngắm cảnh
đẹp. Từ đồi Vọng Cảnh có thể nhìn thấy những khu vườn cây ăn
quả mướt xanh bóng cau, nhãn, cam quýt, thanh trà... chen lẫn bóng
14
Có một di tích mà từ xưa người Chàm đã dựng lên để thờ nữ
thần PoNagar, (về sau người Việt theo Thiên Tiên Thánh giáo tiếp
tục thờ bà dưới danh xưng thánh mẫu Thiên Y A Na) là điện Hòn
Chén. Điện Hòn Chén được xây dựng trên núi Ngọc Trản thuộc
lòng Hải Cát. Ngọc Trản là một ngọn nũi cheo leo bên bờ vực thẳm
- chỗ sâu nhất của dòng sông Hương. Sườn núi cây cối mọc um
tùm. Trên đỉnh có một chỗ trũng xuống, đường kính vài mét, nước
mưa thường đọng lại, trông giống cái chén đựng nước trong. Vì vậy
từ xưa núi được đặt tên là Ngọc Trản Sơn (Núi Chén Ngọc) dân gian
thường gọi là Hòn Chén.
4. Các địa danh thuộc kinh thành Huế.
Sừng sững bên bờ Bắc sông Hương có một toà thành rộng lớn
dài hơn 2km, đó là kinh thành Huế,còn gọi là phòng thành Huế. Có
thể nói đây là công trình kiến trúc đồ sộ nhất về khối lượng của đất
nước ta thời phong kiến, tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc quân sự
Việt Nam thế kỷ XIX.
Nằm giữa kinh thành Huế là Hoàng Thành (còn gọi là Đại nội
hay Hoàng Cung). Hoàng Thành nằm ở mặt trước (mặt nam của
kinh thành) và cách đó khoảng 200m. Hoàng thành được xây dựng
năm 1804 sớm hơn trước kinh thành một năm. Hoàng thành được
xây dựng bằng mặt gạch quay về cùng một hướng với kinh thành và
nằm trên cùng một trục với chính nó. Mặt trước cửa ra vào quan
trọng nhất là Ngọ Môn, mặt sau có cửa Hoà Bình, mặt bên trái là
16
cửa Hiển Nhơn, mặt bên phải là cửa Chương Đức. Hoàng Thành
được chia làm chín khu vực, mỗi khu vực có xây tường cao 2m để
làm giới hạn can ngăn.
nhất trong hệ thống kiến trúc cung đình còn lại ở Huế, là nơi diễn ra
những sinh hoạt quan trọng nhất của triều đình quân chủ.
- Cửu Đỉnh
Chín đỉnh đặt tại sân Thế Miếu trong Hoàng thành hiện nay là
sản phẩm của những người thợ thủ công đúc đồng nổi tiếng ở Phùng
Đúc (Huế). Trong lời dụ đúc Cửu đỉnh (ở chính giữa), rồi tiếp đến
hai bên trái, phải là Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh,
Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh. Tên đỉnh cũng chính
là tên Thụy của những nhà vua nối tiếp nhau sau khi mất được đưa
vào thờ tại Thế Miếu. Cụ thể "Cao" là miếu hiệu của vua Gia Long,
"Nhân" là miếu hiệu của vua Minh Mạng, "Chương" là miếu hiệu
của vua Kiến Phúc, "Thuần" là miếu hiệu của vua Đồng Khánh,
"Tuyên" là miếu hiệu của vua Khải Định. Còn "Dũ" và "Huyền" hai
tên đỉnh sau cùng này thì chưa kịp tượng trưng cho vua nào thì Cách
mạng tháng Tám đã xóa bỏ vĩnh viễn vương triều nhà Nguyễn.
- Cung Diên Thọ.
Là một đơn vị kiến trúc lớn nhất trong toà cung và là một
trong những công trình kiến trúc quan trọng và được xây dựng sớm
nhất trong Đại nội, cung Diên Thọ đã qua nhiều lần đổi tên: cung
Trường Thọ thời Gia Long, cung Từ Thọ thời Minh Mạng, cung Gia
18
Thọ thời Tự Đức, cung Ninh Thọ thời Thành Thái và cung Diên Thọ
thời Khải định.
- Lầu Tàng Thơ.
Gọi là lầu Tàng Thơ hay Tàng Kinh vì đây là kho lưu trữ tài
liệu quốc gia của triều đình nhà Nguyễn. Theo tài liệu thời Nguyễn
thì tất cả sẽ sổ sách của sáu bộ và các nhà tại kinh đô sau mỗi năm
Tên gọi lăng Gia Long thực ra để chỉ một quần thể lăng tẩm
của nhiều trong hàng quyến thuộc nhà vua với trọng địa là khu lăng
mộ của vua Gia Long và bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu - một
chính phi của Gia Long. Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với
42 đồi núi lớn nhỏ có tên gọi riêng, trong Đại Thiên Thọ là ngọn lớn
nhất được chọn làm tiền án của lăng và tên gọi chung cho quần sơn
này là Thiên Thọ Sơn, Thiên Thọ lăng cũng bắt nguồn từ đó.
- Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng).
Sau khi vua Minh Mạng ở ngôi được bảy năm, nhà vua sai
người đi tìm đất để xây dựng sơn lăng cho mình. Quan địa lý Lê
Văn Đức đã chọn được chỗ đất tốt thuộc địa phận núi Cẩm Kê, gần
ngã ba Bằng Lăng, nơi hợp lưu nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch tạo
thành con sông Hương để xây dựng lăng tẩm. Tháng tư năm 1840,
Minh Mạng lên xem lại chỗ đất và đổi tên núi Cẩm Kê thành Hiếu
Sơn và gọi tên lăng thành Hiếu Lăng.
20
- Lăng Tự Đức (Khiêm lăng).
Lăng Tự Đức xây dựng trong một thung lũng hẹp thuộc làng
Dương Xuân Thượng (nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân thành
phố Huế). Đây là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc
cung đình thời Nguyễn. Lăng nằm giữa một rừng thong bát ngát.
Sau khi các quan địa lý chọn được vị trí làng Dương Xuân Thượng,
nhà vua đã chuẩn định đồ án kiến trúc lăng tẩm theo ý mình và đặt
tên cho công trình và Vạn Niên Cơ (Cái tên tồn tại dài lâu đến muôn
năm). Theo dự kiến ban đầu công trình sẽ được xây dựng trong sáu
năm, nhưng hai viên quan coi thi công bắt binhm, dân phải lao động
cực nhọc để hoàn thành trong ba năm. Kết quả của việc cưỡng bức
Mạng khi đến cửa Tư Hiền, ghé thăm Mỹ Am Sơn thấy chùa cổ điêu
tàn, hoang vu mới cho xây dựng lại và đổi tên là chùa Túy Ba. Năm
Minh Mạng thứ 17 chùa được trùng tu và dựng thêm lầu. Năm
1841, vua Thiệu Trị cho trùng tu lại chùa đổi tên là chùa Túy Vân.
Gần Tuý Vân có núi Linh Thái, còn gọi là Quy Sơn (núi có hình
dáng con rùa) cũng là một danh lam thắng cảnh làm đối cảnh cho
chùa Tuý Vân thêm sinh động hài hòa.
- Chùa Báo Quốc.
Chùa do Hoà thượng Giác Phong khai lập vào khoảng những
năm cuối thế kỷ XVII với tên gọi là Hàm Thiên Thọ tự. Chùa mang
tên quả đồi mà chùa toạ lạc, nay thuộc địa phận phường Đúc thuộc
trung tâm thành phố Huế. Xưa kia chùa chỉ là một ngôi thảo am, về
sau mới dần dần được xây dựng tu sửa quy mô lớn. Năm 1747, chúa
22
Nguyễn Phúc Khoát ban tấm biển thếp vàng giữa khắc "Sắc tứ Báo
Quốc Tự". Năm 1808, Hiểu Khương hoàng hậu quyên tiền trùng tu
lại chùa to lớn hơn và đổi tên thành "Thiên Thọ Tự". Năm 1824, vua
Minh Mạng lấy lại tên cũ "Báo Quốc"
- Chùa Từ Hiếu.
Chùa Từ Hiếu ở địa phận xã Thủy Xuân, cách thành phố
khoảng 5km về phía Tây Nam. Buổi đầu ngôi chùa này mang tên
An Dưỡng Am. Tương truyền rằng: Hoà Thượng Nhất Định nguyên
tăng cam chùa Giác Hoàng khi trông coi chùa có mang theo mẹ già.
Một lần mẹ hoà thượng đau nặng, thầy thuốc khuyên bệnh nhân nên
ăn thịt cá mới chống hồi ức. Thương mẹ nên hàng ngày ngài xuống
chợ Bến Ngự mua cá về nấu cho mẹ, chịu mọi tiếng tai chê cười để
cứu dưỡng mẹ già. Khi Vua Tự Đức biết chuyện đã cảm kích trước
đến đi.
Đô thị thương cảng Hội An nằm ở hạ lưu con sông Thu Bồn,
cách thành phố Đà Nẵng 30km về phía Đông Nam. Phía Tây, đô thị
cổ Hội An giáp huyện Điện Bàn, phía Đông nối với biển Đông
thông qua Cửa Đại, phía Nam giáp huyện Duy Xuyên. Khu phố cổ
tâm điểm của Hội An (được công nhận là di sản văn hóa thế giới
vào 2/12/1999) nằm trọn trong địa phận phường Minh An, có diện
tích là 2km2.
1. Hội An.
Thương cảng Hội An được hình thành khoảng thế kỷ XV XVI, thịnh đạt khoảng thế kỷ XVII - XVIII. Trung tâm hoạt động
24
của thương cảng là vùng bến cảng vùng phố chợ buôn bán nằm trên
bờ Bắc con sông Thu Bồn (vùng nội thị của Hội An ngày nay).
Thời xưa Hội An còn gọi là Hải Phố, Hoài Phố, Hai Phố hay Faifo,
haisfo, haiso… những tên rất lạ này do các thương nhân buôn bán
đến đây gọi. Đặc biệt là cái tên Faifo rất nổi tiếng từ thế kỷ XVI XVII.Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì Hội An vốn là một tên xã,
xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII (theo tấm bia ở
Non Nước - Ngũ Hành Sơn). Nó vẫn có và vẫn còn một cái tên dân
gian là Phố Hội, Hội An là nơi mà "Hội nhân như hội thủy" và
"Nhất cận thị nhị cận giang" (vừa có sự tụ họp của người của nước,
vừa ở gần chợ, vừa ở nơi có dòng chảy).
2. Một số chùa nổi tiếng ở Hội An.
- Chùa Cầu - Cầu Nhật Bản.
Đây là cây cầu bắc ngang qua con lạch chảy ra sông Thu Bồn
giáp ranh giữa hai con đường Nguyễn Thị Minh Khai và Trần Phú,
thị xã Hội An. Cầu được xây dựng vào thế kỷ XVI - XVII do các
thương nhân Nhật Bản thực hiện nên còn có tên gọi là Cầu Nhật