Vấn đề kiểm soát quyền lực Nhà nước và kiểm soát quyền lực tại Việt Namhiện nay - Pdf 48

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Kiểm soát quyền lực nhà nước là một hệ thống những cơ chế được thực hiện
bởi nhà nước và xã hội nhằm giữ cho việc thực thi quyền lực nhà nước đúng mục
đích, hiệu quả. Kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm kiểm soát phạm vi hoạt
1


động của quyền lực nhà nước; kiểm soát quá trình thông qua và sửa đổi Hiến pháp;
kiểm soát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; kiểm soát những người thực
thi quyền lực nhà nước và có thể kiểm soát từ bên ngoài và bên trong nhà nước.
Kiểm soát từ bên ngoài nhà nước là sự kiểm soát của nhân dân và xã hội; kiểm soát
từ bên trong là sự kiểm soát do nhà nước thực hiện. Góp phần làm sáng tỏ vấn đề
kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay em xin chọn đề
tài “Vấn đề kiểm soát quyền lực Nhà nước và kiểm soát quyền lực tại Việt Nam
hiện nay” để đi sâu tìm hiểu vấn đề kiểm soát quyền lực Nhà nước.
NỘI DUNG
1.
1.1.

Vấn đề kiểm soát quyền lực Nhà nước
Quan niệm về hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước.

Quyền lực nhà nước là biểu hiện tập trung và là trung tâm của quyền lực
chính trị, được hình thành thông qua cuộc đấu tranh chính trị, nhằm giành quyền tổ
chức nhà nước và thực hiện chức năng thống trị xã hội.
Kiểm soát quyền lực nhà nước: là hoạt động có chủ đích của nhà nước và xã
hội, với tổng thể những phương tiện tổ chức và pháp lý thông qua các hình thức
hoạt động như giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, kiểm toán, tài phán nhằm hạn
chế nguy cơ xảy ra sai phạm cũng như những hành vi lộng quyền, chuyên quyền,

nước ở các nước dân chủ tư sản trên thế giới. Khi đảng nào được lòng dân thì đồng
nghĩa với thắng cử trong cuộc bầu cử cạnh tranh và giành được quyền lực nhà
nước, trở thành đảng cầm quyền. Vì thế, đảng chính trị luôn đại diện cho giai cấp,
tầng lớp, nhóm lợi ích trong xã hội và việc thu hút sự ủng hộ của cử tri thì luôn là
mục tiêu càng nhiều càng tốt, thậm chí việc tranh giành sự ủng hộ của cử tri đảng
đối lập cũng là ưu tiên của bất kỳ đảng phái nào. Sự ra đời và phát triển của các
đảng phái chính trị có liên quan chặt chẽ với quyền tồn tại của các nhóm lợi ích
khác nhau trong xã hội, các nhóm lợi ích hoặc hậu thuẫn hoặc kiểm soát, chi phối
lãnh đạo và hạn chế quyền của đảng cầm quyền tùy theo mục đích của mối quan hệ
ấy. Các đảng phái chính là các lực lượng chính trị đại diện cho các bộ phận nhân
dân đấu tranh, tranh giành quyền lực nhà nước với nhau và với đảng cầm quyền.
Vì thế, cơ chế đảng đối lập chính là một phương thức để nhân dân kiểm soát
quyền lực nhà nước ở các nhà nước dân chủ pháp quyền tư sản.
Hiến pháp Cộng hoà Pháp năm 1958 quy định: “Các đảng phái và các nhóm
chính trị giành quyền lực qua kết quả bầu cử. Các đảng phái và các tổ chức chính
trị được tự do thành lập và hoạt động trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về chủ
quyền quốc gia và dân chủ". Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến của nước Pháp, địa
vị pháp lý của các chính đảng được ghi nhận nhưng đó chỉ là “góp sức vào việc thể
hiện ý chí của số đông dân chúng”. Nước Pháp coi các đảng và các nhóm chính trị
3


là "thành quả của loài người trong việc đi tìm những phương thức thực hành dân
chủ ".
Ở Mỹ, hiến pháp, pháp luật buộc mọi đảng phái chính trị, kể cả đảng cầm
quyền, nhóm lợi ích phải tuân thủ, thực hiện pháp luật, hoạt động cạnh tranh, tranh
giành ảnh hưởng và sự ủng hộ của cử tri phải trong khuôn khổ quy định của pháp
luật, của "luật chơi" đã thoả thuận; mọi vi phạm đều bị tố cáo, bị cử tri phản ứng và
pháp luật trừng phạt bất kể là ai. Hoạt động đảng phái chính trị rộng rãi, cạnh tranh
theo luật cùng với cơ chế bầu cử dân chủ người đứng đầu nhà nước, nghị sĩ Quốc

quản lý. Cốt lõi của tư tưởng về xã hội dân sự là lý thuyết về dân chủ, quyền con
người, quyền công dân, về bản chất tự do của xã hội và mỗi cá nhân trong mối
quan hệ với nhà nước và thị trường. Các tổ chức xã hội dân sự tập hợp, đoàn kết
mọi người nhằm thúc đẩy các mục tiêu chung và lợi ích chung. Các tổ chức này
hiện diện trong đời sống công cộng, đại diện thể hiện lợi ích, giá trị của mình
(thành viên, tổ chức) và của người khác được thành lập theo pháp luật và dựa trên
cơ sở đạo đức, văn hoá, tôn giáo hoặc từ thiện...Các tổ chức xã hội dân sự bao
gồm: các tổ chức phi chính phủ (NGO), hiệp hội nghề nghiệp, các quỹ, các viện
nghiên cứu độc lập, các tổ chức cộng đồng (CBOs) , các tổ chức tín ngưỡng, các tổ
chức nhân dân, các phong trào xã hội và công đoàn.
Quan điểm phổ biến của phương Tây coi các tổ chức xã hội dân sự là một bộ
phận cấu thành xã hội, không hoàn toàn tách biệt với nhà nước, không hẳn đối lập
với nhà nước. Các nhà nước dân chủ tư sản luôn đề cao, nhấn mạnh vai trò của xã
hội dân sự trong bảo vệ tự do cá nhân, dân chủ trước sự can thiệp của quyền lực
nhà nước. Tổ chức xã hội dân sự có vai trò thúc đẩy các công dân tham gia vào các
vấn đề công cộng, cụ thể là tham gia vào quá trình hình thành và thực thi chính
sách của nhà nước. Đó cũng là cơ chế để người dân chủ động tham gia vào công
việc của chính phủ nhằm kiểm soát và làm cân bằng mối quan hệ giữa nhà nước
với xã hội.
Ở Mỹ, các hội, hiệp hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các chính sách của
Chính phủ: Hiệp hội nghề nghiệp là một hình thức của các nhóm lợi ích trong xã
hội, bao gồm Hiệp hội y tế, Hội luật gia, Hội cựu chiến binh, Hội nhà báo, Hội
những người về hưu v..v. , các nhóm lợi ích có vai trò nhất định trong sự tham gia
và giám sát hoạt động của quyền lực nhà nước, và là công cụ đắc lực giúp người
dân tham gia quản lý xã hội. Nhóm lợi ích đại diện cho các hội viên dựa trên lợi
ích chung và bảo vệ lợi ích đó. Thông qua các nhóm lợi ích góp phần giám sát
quyền lực nhà nước.
Ở Nhật Bản, các tổ chức xã hội dân sự rất phát triển, đó là những hội, hiệp
hội và tổ chức khác nhau hoặc liên kết hoặc độc lập luôn tác động, giám sát quyền
lực nhà nước; nhà nước trên cơ sở pháp luật luôn mở rộng và tạo điều kiện để các

không vượt ra ngoài khôn khổ, giới hạn mà pháp luật quy định. Mặt khác, tự do
ngôn luận và tự do báo chí luôn gắn liền với thể chế chính trị, pháp lý của mỗi
quốc gia, thể chế đó chi phối và quyết định mặt tích cực hay tiêu cực của truyền
thông đại chúng. Các phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò đến đâu trong
hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước tùy thuộc vào vị trí của thiết chế đó trong
cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước. Nếu cơ chế tự do, dân chủ
thì truyền thông có tác dụng rất mạnh mẽ đến công luận, đến chính phủ, các nhà
chính trị, các đảng phái ... và đó là một hình thức đồng thời là một phương tiện hữu
hiệu để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Thứ năm, bầu cử tự do và giới hạn nhiệm kỳ được xem là một phương thức để
kiểm soát quyền lực nhà nước
Bầu cử tự do và giới hạn nhiệm kỳ là những yếu tố để công khai, minh bạch
hoạt động quyền lực nhà nước được các nước dân chủ tư sản hết sức coi trọng. Nó
là yếu tố cơ bản để thực hiện việc chuyển giao quyền lực một cách hòa bình. Bầu
cử là hình thức uỷ quyền từ nhân dân tới những người đại diện. Chính vì vậy mà
nó được xem là một phương thức để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước.
Việc bầu cử các chức danh nguyên thủ quốc gia, nghị sĩ quốc hội ở các nước
dân chủ tư sản luôn là cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các ứng cử viên trong các
đảng phái với nhau, giữa ứng cử viên của các đảng phái chính trị với nhau và giữa
8


đảng cầm quyền với đảng đối lập. Nhân dân trên cơ sở pháp luật, qua phương tiện
thông tin đại chúng, qua tiếp xúc với ứng cử viên...có thể tự do biểu đạt ý chí của
mình bằng quyết định lựa chọn bầu hay không bầu cho ứng cử viên nào. Để bầu cử
được tự do, dân chủ thể hiện trọn vẹn ý chí của người dân vào sự lựa chọn đại diện
cho mình thì phải có một cơ chế pháp lý bảo đảm được điều đó.
Cách thức vận hành của các cuộc bầu cử ở Mỹ rất phức tạp và đôi khi còn
khó hiểu nhưng đảm bảo mọi công dân Mỹ, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử.
Cứ bốn năm một lần, người Mỹ lại đi bầu tổng thống và phó tổng thống. Cứ hai

phương thức, quy trình, quy định mà dựa vào đó, Nhà nước và xã hội có thể ngăn
chặn, loại bỏ những hoạt động sai trái của các thiết chế quyền lực nhà nước, phát
hiện và điều chỉnh được việc thực thi quyền lực nhà nước, đảm bảo cho quyền lực
nhà nước thực thi đúng mục đích chung và đạt được hiệu quả cao nhất. Vì thế,
quyền lực nhà nước chỉ có thể kiểm soát được khi có cơ chế xác định và các điều
kiện cần thiết cho sự vận hành của nó trên thực tế. Cơ chế đó bao gồm kiểm soát
bên ngoài, lẫn kiểm soát bên trong quyền lực nhà nước.
Mục đích của kiểm soát quyền lực nhà nước, theo chủ nghĩa Mác - Lênin, là
loại bỏ những điều kiện xã hội đã sản sinh ra Nhà nước và giai cấp. Đây chính là
quá trình khắc phục sự tha hóa của quyền lực nhà nước, đưa quyền lực nhà nước
trở về với đúng nghĩa của nó là quyền lực của nhân dân, quyền lực thực hiện chức
năng công quản xã hội. Vì thế, có thể nói, nội dung của kiểm soát quyền lực nhà
nước là: đảm bảo cho quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích; và đảm
bảo cho quyền lực nhà nước thực thi có hiệu lực, hiệu quả.
Để khắc phục những nhược điểm của hoạt động thực thi quyền lực nhà
nước, kiểm soát quyền lực được xem là một nguyên tắc hiến định. Vì thế, kiểm
soát quyền lực cần được ghi nhận và bổ sung vào Hiến pháp và tiếp tục thể chế
trong các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước. Việc thể chế nguyên tắc kiểm soát
quyền lực của Cương lĩnh thành nguyên tắc hiến định và tiếp tục cụ thể hóa trong
các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước trong thời gian sắp tới, cần tập trung vào
các nội dung sau đây:
- Xuất phát từ bản chất của hệ thống chính trị nước ta được tổ chức và hoạt
động theo cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và Nhà nước quản lý, nên kiểm
soát quyền lực nhà nước là kiểm soát quyền lực nhà nước giữa Đảng lãnh đạo đối
với Nhà nước quản lý. Đây là đặc điểm thể hiện mối quan hệ tất yếu lịch sử và
khách quan ở nước ta.
- Kiểm soát quyền lực nhà nước giữa nhân dân - chủ thể tối cao và duy nhất
của quyền lực nhà nước, đối với Nhà nước - chủ thể quản lý. Đồng thời, xây dựng
một cơ chế giám sát hữu hiệu để nhân dân kiểm soát được quyền lực nhà nước đã
giao, đã ủy quyền cho Nhà nước, đặc biệt là hoàn thiện và cụ thể hóa cơ chế nhân

pháp, tư pháp. Thể chế hóa nguyên tắc này, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định:
“1- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; 2- Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
11


dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức; 3- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp,
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp”.
Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định chủ thể kiểm soát quyền lực
nhà nước là nhân dân. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định, bản chất của Nhà
nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân. Nhân dân là người làm chủ Nhà nước. Nếu không kiểm soát được quyền
lực nhà nước thì quyền lực nhà nước sẽ bị tha hóa, nhân dân là chủ thể giao quyền,
ủy quyền (quyền lực nhà nước) của mình cho Nhà nước sẽ bị mất quyền, bị lạm
quyền từ phía Nhà nước.
Thứ hai, nói đến kiểm soát quyền lực nhà nước, điều quan trọng trước tiên là
tổ chức bộ máy nhà nước phải được phân công, phân nhiệm một cách đúng đắn,
mạch lạc giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hiến pháp năm 2013 quy
định Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ là cơ quan thực
hiện quyền hành pháp và tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Việc
thừa nhận các cơ quan khác nhau thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp là một đổi mới quan trọng so với mô hình tập quyền xã hội chủ nghĩa trước
đây. Nó tạo điều kiện để quy định nhiệm vụ, quyền hạn một cách đúng đắn, mạch
lạc giữa các cơ quan Quốc hội, Chính phủ và tòa án nhân dân trong việc thực hiện
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây chính là cơ sở để kiểm soát quyền lực
nhà nước và nhân dân có căn cứ để nhận xét, đánh giá hiệu lực và hiệu quả thực
hiện quyền lực nhà nước của mỗi quyền; đồng thời khắc phục được sự trùng lắp,

*Tồn tại, hạn chế của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của nước ta:
Về nhận thức, thói quen truyền thống của mô hình tổ chức quyền lực nhà
nước theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa được tuyệt đối hóa, trở thành sức
ỳ, cản trở việc thực hiện những tư duy, nhận thức mới. Vì thế, cơ chế kiểm soát
quyền lực nhà nước, xét về phương diện nhận thức, còn nhiều vấn đề thiếu nhất
quán, mâu thuẫn với nhau. Ví dụ, Hiến pháp năm 2013 thừa nhận nhân dân là chủ
thể của quyền lập hiến, là người “xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp” (Lời
nói đầu), nhưng chưa ghi nhận cơ chế tài phán các vi phạm Hiến pháp trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, như văn kiện của Đảng đã chỉ
ra. Do đó, hoạt động lập pháp của Quốc hội chưa có cơ chế kiểm soát. Có thể nói,
nhiều vấn đề rất mới, rất phù hợp với quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã đề ra, như “Phân công, phối hợp và kiểm soát
13


trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”... chưa có được nhận
thức hoàn toàn thống nhất, nhất quán và sâu sắc trong các đạo luật, nhất là các đạo
luật về tổ chức bộ máy nhà nước ban hành sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu
lực.
Về thực tiễn, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, kể cả
sau khi có Hiến pháp năm 2013 cũng chưa hoàn thiện. Vẫn chưa có thiết chế bảo
vệ Hiến pháp độc lập, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ ra: “Xây dựng cơ
chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp
và tư pháp”. Theo đó, hoạt động lập pháp của Quốc hội vẫn nằm ngoài cơ chế kiểm
soát quyền lực nhà nước.
Thanh tra, kiểm tra trong bộ máy hành pháp là phương tiện chủ yếu phục vụ
cho quản lý nhà nước, được xem là một thiết chế độc lập thực hành kiểm soát
quyền lực nhà nước, nhưng trong thực tế, Thanh tra Chính phủ và thanh tra của các
cơ quan quản lý nhà nước là những thiết chế phụ thuộc vào thủ trưởng quản lý,
phục vụ cho quản lý nhà nước. Vì thế, thanh tra, kiểm tra trong bộ máy quản lý nhà

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học Mác-Lênin (dùng trong các trường

2.

đại học, cao đẳng), Nxb. CTQG, Hà Nội, 2002, 2007.
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
VII, VIII, IX, X, Nxb. CTQG, Hà Nội.
15


3.

/>
4.

%20Huong.pdf
/>
16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status