I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHNG ANH
PHáP LUậT Về HOạT ĐộNG CủA CÔNG TY QUảN Lý TàI SảN
CủA CáC Tổ CHứC TíN DụNG (VAMC) ở VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2018
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHNG ANH
PHáP LUậT Về HOạT ĐộNG CủA CÔNG TY QUảN Lý TàI SảN
CủA CáC Tổ CHứC TíN DụNG (VAMC) ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS Lấ TH THU THY
H NI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Kết luận chương 1 ................................................................................... 24
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Ở VIỆT NAM ................................................................................................ 25
2.1. Khái quát về sự hình thành, phát triển và hoạt động của công ty
quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam ............................. 25
2.2. Thực trạng pháp luật về hoạt động mua - bán nợ xấu của công
ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam ......................... 35
2.3. Đánh giá thực trạng pháp luật về hoạt động mua – bán nợ xấu
của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam .......... 53
Kết luận chương 2 ................................................................................... 61
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI
SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM ........................... 62
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động của công ty
quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam ............................. 62
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động của công ty
quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam ............................. 64
Kết luận chương 3 ................................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................... 71
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AMC:
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng
VAMC:
Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
VAMC (Vietnam Asset Management Company) – Công ty quản lý tài
sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam được thành lập và hoạt động từ năm
2013. Các hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng
được thực hiện là: Mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng; Thu hồi nợ, đòi nợ
và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm; Cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện
trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần của khách hàng vay; Đầu tư,
sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê tài sản bảo đảm đã được
Công ty Quản lý tài sản thu nợ; Quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra,
giám sát tài sản bảo đảm có liên quan đến khoản nợ xấu, bao gồm cả tài liệu,
hồ sơ liên quan đến khoản nợ xấu và bảo đảm tiền vay; Tư vấn, môi giới mua,
bán nợ và tài sản; Đầu tư tài chính, góp vốn, mua cổ phần; Tổ chức đấu giá tài
sản; Bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của tổ chức tín
dụng; Hoạt động khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Công ty Quản lý
tài sản sau khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép.
Những năm gần đây, các vấn đề xoay quanh hoạt động mua – bán nợ
xấu và xử lý nợ xấu luôn là mối quan tâm lớn của các quốc gia trên thế giới
nói chung và Việt Nam nói riêng. Nợ xấu được ví như là “căn bệnh ung thư”
quái ác hay “cục máu đông” gây tắc nghẽn hoạt động của các tổ chức tín
dụng, cản trợ sự phát triển của nền kinh tế. Trong hoạt động kinh doanh của
các tổ chức tín dụng, rủi ro cốt yếu chính là nợ xấu luôn tồn tại, tiềm ẩn. Nợ
xấu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng
của các tổ chức tín dụng, từ đó có thể thấy được “sức khỏe” tài chính, kỹ năng
mua bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Tú - Khoa Luật,
2
ĐHQGHN; Luận văn thạc sĩ 2014 “So sánh pháp luật Việt Nam và Malaysia
về mô hình quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng” của Nguyễn Thị Phương
Nga - Khoa Luật, ĐHQGHN; Luận văn thạc sĩ 2014 “Pháp luật về hoạt động
mua, bán nợ xấu của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam” của Trà Đình Thứ Khoa Luật, ĐHQGHN; Luận văn thạc sĩ 2015 “Pháp luật về hợp đồng mua
bán nợ xấu của NHTM ở Việt Nam” của Phan Thị Hồng Lê - Khoa Luật,
ĐHQGHN; Sách chuyên khảo “Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro
trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên
thế giới” của PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy (Chủ biên - 2016), NXB Đại học
Quốc Gia Hà Nội…
Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích về thực trạng nợ xấu và
nêu lên những giải pháp để giải quyết tình trạng nợ xấu. Trong số các giải
pháp đó, có giải pháp thực hiện hoạt động mua, bán nợ và tạo lập thị trường
mua, bán nợ tại Việt Nam. Việc xử lý nợ xấu của NHTM tại VAMC đang
được tập trung nghiên cứu. Đặc biệt, nghiên cứu về khía cạnh pháp lý hoạt
động của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) ở Việt
Nam ở cấp độ lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu của
các tổ chức tín dụng là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay, trong bối cảnh
nhiều ngân hàng vẫn đang trong tình trạng còn có nhiều các khoản nợ xấu.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận và thực tiễn pháp luật về hoạt động của VAMC – Công ty quản lý tài sản
của các tổ chức tín dụng Việt Nam, đặc biệt là hoạt động xử lý nợ xấu của các
TCTD tại VAMC. Qua đó chỉ ra những hạn chế, bất cập, thiếu sót của pháp
luật hiện hành, đồng thời nêu lên những định hướng và đặt ra các giải pháp để
hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng tại VAMC.
4
Phương pháp so sánh và phân tích số liệu: So sánh và phân tích số liệu
về hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC ở Việt Nam so với hoạt động xử lý nợ
xấu của một số nước trên thế giới. Từ đó tìm ra các quy định đã phù hợp và
những điểm bất cập cần chỉnh sửa, bổ sung nhằm tạo ra cơ chế pháp lý thống
nhất, phù hợp, tạo sự phát triển cho VAMC ở Việt Nam.
Các phương pháp trên được áp dụng linh hoạt, kết hợp với nhau. Đồng
thời trong quá trình nghiên cứu, kết hợp cả lý thuyết và thực tế từ đó đánh giá,
kết luận được vấn đề nghiên cứu.
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu các vấn đề
lý luận về pháp luật về hoạt động của công ty quản lý tài sản của các tổ chức
tín dụng (VAMC) ở Việt Nam. Làm rõ được đặc thù của hoạt động xử lý nợ
xấu bởi VAMC so với các chủ thể xử lý nợ xấu khác như AMC và DATC.
Ngoài ra, luận văn còn đánh giá được những bất cập chủ yếu của pháp
luật cũng như bất cập trong thực tiễn thực hiện xử lý nợ xấu của VAMC (đặc
biệt là mua bán nợ xấu), để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về
hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC và nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu của các
TCTD ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Chương 1. Những vấn đề lý luận về nợ xấu và pháp luật về hoạt động
của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng
Chương 2. Thực trạng pháp luật về hoạt động của công ty quản lý tài
sản của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Chương 3. Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt
động của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi
và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi
đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản
thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ
được thực hiện đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào
danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp
vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và
gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế.[48]
- Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB)
Nợ xấu được hiểu theo hai khía cạnh sau:
Nợ xấu là những khoản vay không có khả năng thu hồi: (i) những
khoản nợ hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường
từ người mắc nợ; (ii) những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được
với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ; (iii) những khoản
nợ mà khách hàng chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh
doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ
Nợ xấu là những khoản vay có thể không thanh toán đầy đủ cho
Ngân hàng
Những khoản nợ này không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra thế
chấp không đủ trả nợ. Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ không thể
thu hồi đầy đủ toàn bộ khoản vay của khách hàng. Các trường hợp liên quan
tới khoản nợ này: (i) những khoản nợ mà khách hàng vay đồng ý thanh toán
trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản
nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán những giá trị còn lại không đủ
để thanh toán đầy đủ khoản nợ; (ii) những khoản nợ mà khách hàng vay khó
có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nhưng không thể thanh toán được khoản nợ
7
và/hoặc gốc thường quá ba tháng, căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng
để hạch toán các khoản vay vào các nhóm nợ thích hợp.
Đặc điểm nợ xấu của các tổ chức tín dụng
Mặc dù có nhiều quan niệm về nợ xấu nhưng hầu hết đều thừa nhận nợ
xấu là những khoản nợ khó đòi hoặc mất khả năng thu hồi. Ở mức độ khái
quát, những đặc điểm riêng của nợ xấu bao gồm:
Thứ nhất, nợ xấu của TCTD phát sinh gắn với hoạt động tín dụng của
TCTD và thông thường có giá trị lớn. Hoạt động này được diễn ra dưới hình
thức giao dịch giữa hai bên chủ thể, trong đó một bên là các TCTD và một
bên là các cá nhân, tổ chức khác. Đây là điểm khác biệt của nợ xấu so với các
khoản nợ phát sinh trong giao dịch dân sự khác, giữa hai chủ thể là các cá
nhân, tổ chức, không có sự tham gia của các TCTD. Các khoản vay trong
trường hợp này thường là những khoản vay có giá trị lớn, được bảo đảm thực
hiện bằng tài sản là động sản, bất động sản.
Thứ hai, nợ xấu là những khoản nợ dưới chuẩn. Theo quan niệm của
nhiều quốc gia trên thế giới đã phân tích ở trên thì một khoản nợ được coi là
nợ xấu khi: (i) khách hàng vay quá hạn trả nợ và\hoặc (ii) khách hàng vay
không có khả năng trả nợ.
Thứ ba, nợ xấu là những khoản nợ có bằng chứng nghi ngờ khả năng
trả nợ của con nợ như: con nợ trong quá trình kinh doanh thua lỗ dẫn tới nguy
cơ phá sản, con nợ bất thường, chậm trễ trong việc cung cấp các báo cáo tài
chính và trả nợ theo hợp đồng đã thỏa thuận…
Nói tóm lại, thời hạn trả nợ cũng như tình trạng của con nợ là hai yếu
tố cơ bản để xác định khoản nợ có phải nợ xấu hay không. Hai yếu tố này
cũng cho thấy nợ xấu ngân hàng là những khoản nợ khó có khả năng thu
hồi hơn so với các khoản nợ phát sinh trong giao dịch dân sự. Vì nợ xấu
9
Thứ nhất, bảo đảm công khai, minh bạch, bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp, chính đáng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ
chức mua bán, xử lý nợ xấu và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Thứ hai, phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo
đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống.
Thứ ba, cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy
ra nợ xấu và trong quá trình xử lý nợ xấu phải chịu trách nhiệm theo quy định
của pháp luật.
Trên thực tế hiện nay chính bản thân các tổ chức tín dụng phải có
những biện pháp xử lý cho khoản cho vay của mình để đảm bảo được
tính thanh khoản của các TCTD. Cụ thể có một số phương thức xử lý nợ
xấu như sau:
Thứ nhất, phương thức trích lập dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu.
Hiện nay, phương thức trích lập dự phòng này được xem là phương
thức tối ưu trên thế giới trong hoạt động ngân hàng. Ngân hàng nhà nước Việt
Nam cũng đã ban hành quy định về trích, lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro
để đảm bảo an toàn cho hoạt động của các TCTD.
Thứ hai, phương thức thu hồi trực tiếp và thông qua bán phát mại tài
sản bảo đảm
Đây là phương thức truyền thống trong các biện pháp xử lý nợ xấu của
các TCTD. Việc phát mại tài sản thường đem lại cho ngân hàng sự đảm bảo
thu hồi vốn trực tiếp vì giá trị tài sản đảm bảo thường được định giá thấp hơn
giá trị thực. Tuy nhiên, cái khó hiện nay của các TCTD là có rất nhiều tài sản
đảm bảo là bất động sản, nên việc xử lý nợ sẽ khó khăn hơn.
Thứ ba, phương thức tái cơ cấu nợ và hỗ trợ khách hàng để có thể trả nợ.
11
Phương thức xử lý nợ xấu này đang được áp dụng rộng rãi. Điều quan
nhiệm vụ cấp thiết.
Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng được thành lập với
các mục đích chính như sau:
Thứ nhất, nhằm chuyên nghiệp hóa hoạt động quản lý, xử lý nợ quá
hạn của toàn hệ thống ngân hàng;
Thứ hai, góp phần xử lý nợ xấu nhanh chóng và hiệu quả; Cơ cấu
lại nợ tồn đọng, tiếp nhận quản lý các khoản nợ tồn đọng của NH bằng
các biện pháp: giãn nợ, miễn giảm lãi suất, đầu tư thêm, chuyển đổi nợ
thành vốn góp…
Thứ ba, góp phần cải tiến quản lý rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng
của ngân hàng;
Thứ tư, từng bước phát triển hoạt động mua bán nợ; quản lý, kinh
doanh tài sản (cho thuê, mua bán, khai thác);
Thứ năm, lấy thu đủ bù chi; bảo toàn và phát triển vốn;
Thứ sáu, quản lý an toàn tài sản NH giao; đóng góp một phần lợi nhuận
cho NH.
Hoạt động xử lý nợ xấu của công ty quản lý tài sản của các tổ chức
tín dụng là cần thiết, bởi:
Thứ nhất, nợ xấu đại diện cho một lượng vốn tồn đọng trong nền kinh
tế. Lượng vốn này khiến việc lưu thông nguồn tiền bị hạn chế. Như vậy
nguồn tiền trong nền kinh tế không lưu thông được và hệ thống ngân hàng sẽ
gặp khó khăn về thanh khoản, chi phí phát sinh do nợ xấu là rất lớn.
Thứ hai, tình trạng nợ xấu ảnh hưởng đến tỷ lệ vốn đầu tư từ nước
ngoài vào thị trường ngân hàng. Nhất là trong bối cảnh các nước trên thế giới
13
đang tiến nhanh tới toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thì một quốc gia với nền
kinh tế bị thu hẹp sẽ rất bất lợi.
Thứ ba, nợ xấu là một nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến việc ngân hàng
các bên liên quan đến khoản nợ kể cả các quyền gắn liền với các bảo đảm
cho khoản nợ từ bên bán nợ sang bên mua nợ. Điều này đồng nghĩa việc
bên mua nợ được trao cho những quyền hạn đặc biệt khi xúc tiến xử lý và
thu hồi các khoản nợ cho vay (mà không thể thực hiện được khi chủ thể là
ngân hàng). Từ đó tăng cường khả năng thu hồi nợ đối với các khoản nợ
xấu của doanh nghiệp.
Thứ hai, Thông thường việc mua bán một khoản nợ xấu không chỉ đơn
thuần là chuyển đổi khoản nợ từ chủ thể này sang một chủ thể mới mà bên
mua nợ sau khi mua còn bằng nhiều biện pháp trực tiếp và gián tiếp tham gia
vào hoạt động điều hành quản lý doanh nghiệp, nhằm xử lý triệt để nợ xấu.
Việc này làm cho hoạt động của doanh nghiệp thêm lành mạnh, hạn chế tốt
nhất nguyên nhân gây ra nợ xấu.
Mục tiêu chính của bán nợ xấu là góp phần xử lý nợ xấu của các tổ
chức tín dụng về mức an toàn; góp phần giảm lãi suất cho vay.
Nợ xấu ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của các TCTD. Sở dĩ phải
quan tâm nhiều tới các vấn đề về nợ xấu bởi nó có ảnh hưởng sâu rộng tới các
TCTD và nền kinh tế.
Thông qua việc xử lý nợ xấu của công ty quản lý tài sản của TCTD, các
TCTD yếu kém được nhận diện và được cơ cấu lại, không để xảy ra đổ vỡ
TCTD ngoài tầm kiểm soát, đảm bảo giữ vững sự ổn định, an toàn của hệ
thống các TCTD.
Khi nợ xấu càng kéo dài thì chi phí bỏ ra để xử lý nợ xấu sẽ càng lớn
như vậy tài sản cầm cố tại các TCTD sẽ có nguy cơ bị hao mòn, hư hỏng, giá
15
trị và giá trị sử dụng sẽ giảm dần, có khi còn bị mất dẫn tới thiệt hại cho ngân
hàng và người gửi tiền. Trên thực tế, nếu nợ xấu được xử lý nhanh, khắc phục
sớm thì các tài sản này sẽ được sử dụng giá trị của nó một cách nhanh chóng
nhất, không bị tổn thất về giá trị.
tiêu chí nhất định và bằng nhiều phương pháp khác nhau như phân tích, định
giá và đàm phán giá bán cuối cùng. Việc thanh lý các khoản nợ xấu được tiến
hành từ cuối năm 2008, dưới nhiều hình thức, từ đấu thầu quốc tế cho đến bán
buôn, bán lẻ và tiến hành tái cấu trúc doanh nghiệp. Về cơ bản, Hàn Quốc đã
thực hiện thành công việc giải quyết nợ xấu, tái cơ cấu doanh nghiệp, tái cơ
cấu khu vực tài chính, góp phần ổn định nền kinh tế. Chính phủ Hàn Quốc đã
can thiệp nhanh chóng, kịp thời và toàn diện, triển khai các biện pháp xử lý
nợ xấu hợp lý khi đưa KAMCO vào hoạt động và phát triển thị trường thứ cấp
cho các khoản nợ xấu, các chứng khoán được bảo đảm bằng nợ xấu được tiến
hành giao dịch thuận lợi, thu hút các nhà đầu tư [37].
Ở Mỹ, năm 1989, Chính phủ Mỹ thành lập Công ty ủy thác xử lý nợ
RTC (Resolution Trust Corporation) theo Đạo luật Cải tổ, phục hồi và quản lý
các thể chế tài chính (FIRREA). RTC đóng vai trò là một cơ quan liên bang
giám sát, quản lý, thu hồi tài sản của các thể chế tiết kiệm và cho vay liên
bang bị vỡ nợ do cuộc khủng hoảng tiết kiệm và cho vay. Với tư cách là một
cơ quan nhà nước, RTC có các mục tiêu: tối đa hóa lợi nhuận ròng từ việc bán
các tài sản chuyển giao, tối thiểu hóa ảnh hưởng đến thị trường bất động sản
và tài chính địa phương, cũng như hỗ trợ các cá nhân có thu nhập thấp có thể
tiếp cận và chi trả cho các khoản mua nhà [15].
Ở Nhật Bản, năm 2001, Chính phủ Nhật và BoJ (ngân hàng trung ương
Nhật bản) đã đưa ra một chiến lược giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu trong hệ
thống ngân hàng. Chiến lược này được gọi là “Major bank” và hướng đến đẩy
17
nhanh việc xử lý nợ xấu từ sổ sách của các ngân hàng kể từ 3 năm trước đó.
Các ngân hàng bắt buộc phải loại bỏ các khoản vay (NPLs) bằng cách hoặc
bán nợ xấu trực tiếp trên thị trường, hoặc theo đuổi thủ tục phá sản, hoặc nỗ
lực phục hồi khoản vay…
quyết nợ xấu ngân hàng.
Hai là hoạt động của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng
chủ yếu là để khắc phục nợ xấu của các ngân hàng thương mại, cân đối được
tài chính và giúp cho các TCTD hạn chế tình trạng bị phá sản.
Ba là hoạt động của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng
được thể hiện qua việc rà soát, phân loại, đánh giá lại các khách hàng vay, tài
sản bảo đảm và các khoản nợ đã mua để xác định khả năng thu hồi nợ và có
giải pháp xử lý phù hợp;
Bốn là hoạt động của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng
được thể hiện thông qua việc mua, bán, xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường
theo quy đinh
̣ của pháp luâ ̣t và phương án đươ ̣c duyê ̣t , đồng thời áp dụng các
biện pháp giảm thiểu rủi ro trong việc mua bán nợ theo cơ chế thị trường;
Năm là phố i hơ ̣p với TCTD bán nợ khởi kiện khách hàng vay chây ỳ ,
không hơ ̣p tác trong viê ̣c trả nơ ̣ , tích cực triển khai hoạt động kiểm tra, giám
sát việc thực hiện các nội dung ủy quyền của TCTD được ủy quyền, khách
hàng vay, khoản nợ và tài sản bảo đảm của khoản nợ đã mua;
1.2.3. Nguyên tắc hoạt động của công ty quản lý tài sản của các tổ
chức tín dụng
Có thể nói công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng hình thành
là một trong các biện pháp trọng điểm để xử lý nợ xấu quốc gia nên công ty
quản lý tài sản hoạt động theo nguyên tắc không vì mục tiêu lợi nhuận; công
khai minh bạch trong hoạt động mua, xử lý nợ xấu với mục tiêu chính yếu là
19