1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới là bệnh phụ khoa thường gặp ở phụ
nữ, nếu không được phát hiện và điều trị có thể gây ra viêm phần phụ, viêm
tiểu khung, vô sinh,… Đặc biệt ở phụ nữ có thai nhiễm khuẩn đường sinh dục
dưới có thể gây sẩy thai, đẻ non, thai chết lưu, nhiễm khuẩn sơ sinh và nhiễm
khuẩn hậu sản ở mẹ [1]. Trong đó liên cầu khuẩn nhóm B là một trong những
nguyên nhân được nói tới nhiều nhất.
Liên cầu khuẩn nhóm B (LCK nhóm B) có thể tồn tại trong cơ thể
người phụ nữ ở đường tiết niệu, đường tiêu hóa hoặc đường sinh dục mà
không biểu hiện các triệu chứng lâm sàng. Những người lành mang mầm
bệnh này chiếm 10 - 35%, đặc biệt ở âm đạo và trực tràng. Schrag và cộng sự
(2002) đã báo cáo tỷ lệ mang mầm bệnh này là 20 - 30% trên thai phụ có tuổi
thai trung bình là 35 tuần [2]. Theo nghiên cứu của một số tác giả trong nước
về nhiễm LCK nhóm B ở phụ nữ có thai với tỷ lệ 17 - 19% [3], [4], [5]. LCK
nhóm B hiện diện ở âm đạo vào bất kỳ thời điểm nào của thai kỳ, nhưng sự
lây nhiễm từ mẹ sang con thường xảy ra khi ối vỡ hoặc vào thời điểm chuyển
dạ [6], là yếu tố nguy cơ dẫn đến nhiễm khuẩn sơ sinh nguy hiểm.
Nhiễm khuẩn sơ sinh (NKSS) chiếm tỉ lệ 1-10‰ số trẻ sơ sinh sống
trên toàn thế giới, tỉ lệ này cao gấp 10 lần ở trẻ đẻ non, là nguyên nhân hàng
đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh [7]. Trong đó LCK nhóm B chiếm 30 - 40% các
nhiễm khuẩn do vi khuẩn [8], là nguyên nhân gây ra phần lớn các bệnh nhiễm
khuẩn huyết và viêm màng não ở trẻ sơ sinh [9]. Mặc dù được chăm sóc trong
điều kiện tốt nhất thì 1/10 trẻ sơ sinh được chẩn đoán nhiễm LCK nhóm B
khởi phát sớm sẽ tử vong [10].
2
Năm 1996, Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) và Tổ chức
đạo là biểu mô lát tầng không sừng hóa có nhiều nếp nhăn ngang, chịu ảnh
hưởng của các hormon sinh dục nữ, có khả năng chống lại sự xâm nhập của vi
khuẩn [13].
4
Cổ tử cung: Cổ tử cung hình nón cụt, có hai phần được cấu tạo bởi âm
đạo bám vào cổ tử cung theo một đường vòng chếch từ 1/3 dưới ở phía trước,
2/3 trên ở phía sau. Ống cổ tử cung được giới hạn bởi lỗ trong và lỗ ngoài cổ
tử cung. Lỗ ngoài cổ tử cung được phủ bởi biểu mô vảy không sừng hóa. Ống
cổ tử cung được phủ bởi một lớp biểu mô trụ có tác dụng chế nhầy. Chất nhầy
cổ tử cung có tác dụng bảo vệ, chống vi khuẩn xâm nhập vào buồng tử cung.
1.1.2. Sinh lý học
1.1.2.1. Dịch âm đạo
Dịch âm đạo (thường gọi là khí hư) gồm các tế bào bong ra, chất tiết từ
tuyến Bartholin, tuyến Skène, dịch nhầy ở cổ tử cung, dịch tiết từ buồng tử
cung và dịch thấm từ thành âm đạo [14].
Bình thường dịch âm đạo trong, hơi quánh, thay đổi theo chu kỳ kinh
nguyệt. Vào thời kỳ phóng noãn, dịch âm đạo nhiều và loãng là dịch sinh lý [14].
1.1.2.2. Tính chất sinh hóa của dịch âm đạo
Dịch âm đạo chứa các phân tử carbohydrat (glucose, maltose), protein,
ure, acid amin, acid béo, các ion K+, Na+, Cl- [14].
1.1.2.3. Độ pH âm đạo
Bình thường môi trường âm đạo nghiêng về acid (có độ pH toan từ 3,8
đến 4,6) độ pH âm đạo là do glycogen tích lũy trong tế bào biểu mô chuyển
thành acid lactic khi có trực khuẩn Doderlin. Nồng độ glycogen dự trữ trong
tế bào chịu ảnh hưởng của estrogen [14].
1.1.2.4. Hệ vi sinh vật bình thường trong âm đạo[14]
Dịch âm đạo thường chứa 108 đến 1012 vi khuẩn/ml, gồm trực khuẩn
mạc cổ tử cung hình thành chất dịch. Chất dịch này đặc quánh lại tạo thành
nút nhầy cổ tử cung trong thời kỳ thai nghén, ngăn cản sự xâm nhập của vi
khuẩn vào buồng tử cung.
Sự thay đổi này của niêm mạc âm đạo có thể kèm theo sự ứ trệ tuần
hoàn tĩnh mạch và bạch mạch trong mô kẽ và chính sự ứ trệ này sẽ tạo thuận
lợi cho sự phát triển của vi khuẩn.
6
1.2.2. Thay đổi về sinh lý
Trong thời kì có thai estrogen và progesteron làm tăng sự tổng hợp
glycogen trong tế bào biểu mô âm đạo. Các tế bào này bong ra làm giải phóng
glycogen vào trong khoang âm đạo. Dưới ảnh hưởng của trực khuẩn
Doderlin, glycogen chuyển thành axit lactic, từ đó làm giảm pH âm đạo từ 3,8
đến 4,6 ngoài thời kì thai nghén xuống 3,5 đến 4,5 trong khi có thai là phương
tiện chủ yếu bảo vệ âm đạo, làm ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn nhưng
ngược lại làm dễ dàng cho sự phát triển của nấm [15].
1.3. Các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới thường gặp ở phụ nữ có thai
- Viêm âm hộ - âm đạo do nấm Candida.
- Viêm âm đạo do Trichomonas vaginalis.
- Viêm âm đạo không đặc hiệu do vi khuẩn Bacterial Vaginosis.
- Viêm cổ tử cung do Chlamydia trachomatis.
- Một số căn nguyên khác:
+ Lậu cầu.
+ E. coli.
+ LCK nhóm B.
1.4. Liên cầu khuẩn nhóm B
Liên cầu khuẩn nhóm B (Group B Streptococcus hay streptococcus
agalactiae) là một vi khuẩn Gram dương, thường gặp ở đường tiêu hóa và
Nguyên nhân có thể là do thai nhi hoặc trẻ sơ sinh hít, nuốt dịch ối hoặc
dịch âm đạo nhiễm LCK nhóm B, trẻ bị tổn thương da, niêm mạc do bị sang
chấn trong quá trình chuyển dạ, sổ thai đã tạo điều kiện cho vi khuẩn trong
âm đạo của mẹ xâm nhập. Mức độ nhiễm khuẩn phụ thuộc vào mức độ nhiễm
của mẹ và các yếu tố thuận lợi cho nhiễm khuẩn như: viêm âm đạo tái phát,
viêm đường tiết niệu do LCK nhóm B, nhiễm LCK nhóm B nặng ở mẹ, ối vỡ
sớm, sốt khi chuyển dạ, đái tháo đường, thiếu máu,...Nguyên nhân nhiễm
khuẩn sau đẻ có thể do mẹ, người chăm trẻ hoặc lây chéo từ các trẻ khác [5].
1.4.3. Các phương pháp định danh
- Nhuộm Gram: Cầu khuẩn Gram dương đứng riêng lẻ, từng đôi hay
từng chuỗi.
- Cấy khuẩn: LCK nhóm B có vòng tan huyết nhỏ trên thạch máu.
- Thử nghiệm catalase: giúp phân biệt với Staphylococci (cũng là cầu
khuẩn Gram dương).
- Thử nghiệm CAMP (là chữ viết tắt của Christie, Atkins và Munch Peterson): giúp phân biệt với Staphylococci (cũng là cầu khuẩn Gram dương).
- Thử nghiệm kháng nguyên - kháng thể: gồm các thử nghiệm kết tụ
hoặc thử nghiệm huỳnh quang miễn dịch.
- Thử nghiệm tổng hợp chuỗi di truyền [5].
1.4.4. Tính chất nuôi cấy
LCK nhóm B là vi khuẩn hiếu khí. Các môi trường để nuôi cấy LCK
nhóm B là thạch máu, BHI, thioglycolate,...ủ 37ºC ở không khí bình thường
hoặc bình nến để có 5 - 10% CO2.
Các nghiên cứu đã được tiến hành để xác định độ nhạy và thời gian
mọc của LCK nhóm B trong từng môi trường khác nhau như thạch máu, môi
trường giàu dinh dưỡng (môi trường Columbia, môi trường Todd - Hewitt),
môi trường chứa kháng sinh chọn lọc vi khuẩn và các loại môi trường chọn
9
để LCK nhóm B có thể sống sót được cho đến 96 giờ, điều này rất quan trọng
nếu như mẫu bệnh phẩm được mang đến từ một nơi khác [4]. Kết quả nuôi
cấy thường có trong vòng 48 - 72 giờ.
1.5.2. Lây truyền LCK nhóm B từ mẹ sang con
LCK nhóm B hiện diện ở âm đạo vào bất kỳ thời điểm nào của thai kỳ,
nhưng sự lây truyền từ mẹ sang con chủ yếu xảy ra khi ối vỡ sớm hoặc khi
thai nhi đi qua đường sinh dục của người [18]. Cơ chế của sự lây nhiễm là
thai nhi hoặc trẻ sơ sinh hít, nuốt dịch ối hoặc dịch âm đạo nhiễm LCK nhóm
B hoặc trẻ bị xâm nhiễm qua những vết thương sang chấn trong đẻ [6].
Tỷ lệ sơ sinh phát hiện nhiễm LCK nhóm B từ những người mẹ có
mang LCK nhóm B ở âm đạo là 50% [24]. Khoảng 1 - 2% trẻ sơ sinh này sẽ
bị bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn này. Các nghiên cứu trong thập niên 1980
cho thấy nguy cơ trẻ sơ sinh bị NKSS tăng 29 lần khi mẹ bị nhiễm LCK nhóm
B ở âm đạo [25].
1.5.3. Nhiễm khuẩn ở người mẹ
Mẹ khi nhiễm LCK nhóm B có thể gây sẩy thai muộn, thai chết lưu, ối
vỡ sớm, đẻ non, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn ối, màng ối, gây viêm
âm hộ, âm đạo, cổ tử cung trước khi chuyển dạ, sau đẻ gây viêm niêm mạc tử
cung, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn vết mổ. Các nghiên cứu chỉ ra rằng
20% viêm niêm mạc tử cung liên quan đến LCK nhóm B, tuy đây là hình thái
nhiễm khuẩn nhẹ nhất của nhiễm khuẩn tử cung trên lâm sàng, nhưng cũng là
hình thái khởi đầu của các nhiễm khuẩn nặng nề hơn như viêm tử cung toàn
bộ, viêm phúc mạc toàn bộ [4], [10], [25].
11
1.5.4. Nhiễm khuẩn sơ sinh
NKSS gồm các bệnh nhiễm khuẩn xuất hiện trong vòng 28 ngày đầu
của cuộc sống. Trên thế giới tỉ lệ NKSS chiếm 1 - 10‰ số trẻ sơ sinh sống [7].
vẫn xem đẻ non là trẻ được đẻ ra có tuổi thai từ 28 - 37 tuần.
Tỷ lệ đẻ non ở Việt Nam dao động khoảng 6,8 - 11,8% [27].
1.5.6. Ảnh hưởng của LCK nhóm B đến thai nghén
LCK nhóm B có mặt ở AĐ - TT của người phụ nữ khỏe mạnh và không
gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Tuy nhiên phụ nữ mang thai khi bị nhiễm LCK
nhóm B có thể gây ối vỡ sớm, đẻ non, nhiễm khuẩn đường tiết niệu [28], đối
với trẻ sơ sinh có thể gây nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi, viêm màng não và
thậm chí gây tử vong. Sau sinh gây viêm nội mạc tử cung, nhiễm khuẩn hậu
sản và nhiễm khuẩn huyết.
1.5.7. Ảnh hưởng của thai nghén đến viêm đường sinh dục do LCK nhóm B
Trong thời kỳ thai nghén âm đạo giãn dài và rộng ra, niêm mạc âm đạo
tăng các nếp và nổi rõ các nhú. Âm đạo tăng sinh mạch máu và nhất là các
tĩnh mạch giãn nở làm cho âm đạo có màu tím. Tăng estrogen làm tăng sinh
các lớp tế bào của niêm mạc âm đạo nhất là lớp trung gian và lớp đáy. Dưới
ảnh hưởng của progesteron, niêm mạc âm đạo bong hàng loạt các tế bào bề
mặt. Sự bong kết hợp với dịch thấm âm đạo và sự tăng chế tiết của niêm mạc
cổ tử cung hình thành chất dịch. Sự thay đổi này của niêm mạc âm đạo kèm
theo ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch và bạch mạch trong mô kẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho vi khuẩn nói chung và LCK nhóm B nói riêng phát triển [15].
Ảnh hưởng của thai nghén đến viêm đường sinh dục đã được chứng
minh qua nhiều nghiên cứu, nhưng ảnh hưởng của thai nghén tới việc nhiễm
LCK nhóm B hầu như chưa có.
13
1.6. Điều trị dự phòng nhiễm LCK nhóm B
1.6.1. Sơ lược về chiến lược dự phòng LCK nhóm B
Năm 1996, trung tâm kiểm soát dịch bệnh của Mỹ (CDC) và Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO) đã ban hành khuyến cáo về chiến lược điều trị dự phòng
- Thai phụ không được cấy tầm soát LCK nhóm B hoặc đã tầm soát
nhưng chưa có kết quả mà lại bị vỡ ối hay chuyển dạ thì chỉ định dùng kháng
sinh dự phòng dựa vào yếu tố nguy cơ. Thai phụ cso kết quả tầm soát âm tính
thì không cần sử dụng kháng sinh dự phòng ngay cả khi có những yếu tố nguy cơ.
- Các thai phụ bị dọa sinh non, cần được cân nhắc sự cần thiết sử dụng
kháng sinh dự phòng nhiễm khuẩn sơ sinh do LCK nhóm B.
- Việc lấy mẫu để cấy vi khuẩn có thể được thực hiện tại phòng khám
do chính thai phụ (đã được hướng dẫn) hoặc nhân viên y tế thực hiện.
- Kết quả cấy và kháng sinh đồ được cung cấp cho nhân viên y tế. Nếu
thai phụ dị ứng với penicillin thì thông tin này phải được ghi nhận trên nhãn
của mẫu bệnh phẩm để phòng xét nghiệm chú ý thực hiện kháng sinh đồ với
clindamycin và erythromycin.
- Các nhân viên y tế nên thông báo kết quả cấy cho thai phụ và thông
tin về các biện pháp điều trị. Khi không bị nhiễm khuẩn tiết niệu do LKC
nhóm B thì không nên sử dụng kháng sinh dự phòng khi chưa có chuyển dạ.
- Các thai phụ có kết quả cấy vi khuẩn dương tính mà cần phải mổ lấy thai
khi chưa chuyển dạ và chưa vỡ ối thì không cần dùng kháng sinh dự phòng.
- Với những thai phụ dị ứng với penicilin, các khuyến cáo đã đưa ra
những lựa chọn kháng sinh khác nhau như cefazolin, erythromycin,
clindamycin hay vancomycin.
Những trường hợp thai phụ có nguy cơ cao bị phản vệ do penicilin mà
nhiễm LCK nhóm B kháng với cả 2 kháng sinh nhóm macrolide hoặc không được
thực hiện kháng sinh đồ thì vancomycin là kháng sinh được khuyên dùng.
15
1.7. Một số nghiên cứu về LCK nhóm B và thai nghén
1.7.1. Nghiên cứu trong nước
- Năm 2001, Nguyễn Thị Ngọc Khanh nghiên cứu trên 602 phụ nữ có
thai phụ không bị nhiễm [34].
- Năm 2013, Phan Thị Kim Dung nghiên cứu trên 230 thai phụ có tuổi
thai từ 28 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương thì tỷ lệ nhiễm LCK nhóm
B là 19,1%, bệnh phẩm lấy ở âm đạo và trực tràng. Tác giả không tìm thấy
mối liên quan giữa tỷ lệ nhiễm LCK nhóm B với nơi ở, nghề nghiệp, trình độ,
cũng như một số tiền sử sản khoa và phụ khoa của thai phụ [5].
1.7.2. Nghiên cứu ở nước ngoài
- Năm 1981, nghiên cứu của Anthony BF và cộng sự cho thấy tỷ lệ
nhiễm LCK nhóm B tại Anh là 11,5% [35].
- Năm 2003, nghiên cứu của Orret FA trên 201 thai phụ cho thấy tỷ
lệ nhiễm là 32,9%. Các thai phụ trong nhóm ≥ 24 tuổi có tỷ lệ nhiễm LCK
nhóm B cao hơn so với nhóm < 24 tuổi (36,6% & 26,9%); con rạ có tỷ lệ
(+) cao hơn
(p < 0,05); trong 13 trẻ sơ sinh nhiễm LCK nhóm B có 1
trường hợp đã tử vong.
- Năm 2004, nghiên cứu của Altoparlak U, Kadanali A, Kadanali S trên
150 thai phụ đã chỉ ra tuổi trung bình nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B của thai
phụ là 26,1 ± 6,7 (với độ tuổi của thai phụ trong nghiên cứu là từ 17 - 45 tuổi),
tuổi thai trung bình khi nhiễm LCK nhóm B là 31,4 ± 5,3 tuần (với tuần thai
trong nghiên cứu từ 22 tuần đến 40 tuần) [36].
- Năm 2005, Valkenburg - van den Berg AW và cộng sự nghiên cứu
trên 1702 thai phụ có tuổi thai 35 - 37 tuần tại Hà Lan tỷ lệ nhiễm LCK nhóm
B là 21%. So với người châu Âu thì phụ nữ châu Phi có nguy cơ cao hơn
(29%, RR 1.4, CI 1,1 - 1,7) và phụ nữ châu Á có nguy cơ thấp hơn (13%, RR
0,6, CI 0,4 - 0,8) [37].
17
Trong đó:
- n: Cỡ mẫu nghiên cứu.
Z (1 – α/2): Là độ lệch rút gọn ứng với các sai lầm α khác nhau và bằng
1,96 tương ứng với α = 0,05.
p: Ước tính tỷ lệ thai phụ nhiễm LCK nhóm B theo nghiên cứu của
Trần Quang Hiệp tại khoa Phụ Sản - Bệnh viện Bạch Mai [34] p = 6,5%
- d: Độ chính xác mong muốn, chọn d = 0,04.
Từ công thức trên thay các giá trị tương ứng:
1,96² x 0,065(1 – 0,065)
n=
= 145
0,04²
Mẫu nghiên cứu 145 bệnh nhân.
2.3.3. Các biến số và chỉ số nghiên cứu
* Tuổi thai phụ: Tuổi thai phụ được phân thành các nhóm:
+ Dưới 20 tuổi.
+ 30 - 34 tuổi.
+ 20 - 24 tuổi.
+ ≥ 35 tuổi.
+ 25 - 29 tuổi.
* Tuổi thai: Được tính theo tuần dựa vào ngày đầu của chu kỳ kinh cuối
với chu kỳ kinh đều. Nếu trường hợp không nhớ chính xác ngày kinh cuối
*Tiền sử sản khoa:
Số lần đẻ:
+ Chưa đẻ.
+ 2 lần.
+ 1 lần.
+ ≥ 3 lần.
Tiền sử sản khoa khác:
+ Nạo hút.
+ Đẻ non.
+ Sẩy thai.
+ Không có các tiền sử trên.
+ Thai chết lưu.
*Thói quen vệ sinh của thai phụ:
+ Kiêng tắm rửa (có/không).
+ Thụt rửa âm đạo (có/không).
+ Sử dụng dung dịch vệ sinh phụ nữ (có/không).
+ Số lần rửa âm hộ mỗi ngày (trung bình).
+ Nguồn nước sử dụng (nước máy/nước giếng/nước khác).
*Biểu hiện viêm trong lần có thai này
+ Ra khí hư nhiều.
+ 12-24 giờ.
+ >24 giờ.
*Cách đẻ:
+ Đẻ đường âm đạo.
+ Mổ lấy thai.
2.3.4. Phương tiện nghiên cứu
+ Găng tay, mỏ vịt.
+ Dụng cụ lấy bệnh phẩm.
+ Máy móc xét nghiệm: Máy định danh vi khuẩn Phoenix.
+ Kỹ thuật kháng sinh đồ.
2.3.5. Kỹ thuật và các bước tiến hành thu thập số liệu
Tất cả các thai phụ trong mẫu nghiên cứu sẽ được khám thai theo quy
trình khám thai bình thường.
- Phỏng vấn theo bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu.
- Quy trình lấy mẫu bệnh phẩm được tiến hành như sau: Thai phụ nằm
trên bàn phụ khoa khám trong tư thế phụ khoa, dùng mỏ vịt bộc lộ âm đạo, sử
dụng một que tampon phết bệnh phẩm ở 1/3 dưới âm đạo qua lỗ âm đạo 2cm,
xoay tampon 1 hoặc 2 vòng quanh trục. Đặt tampon vào ống nghiệm, dán
nhãn trên ống chứa bệnh phẩm ghi rõ họ tên và ngày lấy mẫu. Bệnh phẩm
được chuyển về khoa Vi sinh - Bệnh viện Bạch Mai. Kết quả xét nghiệm sẽ
có trong vòng 72 giờ. Quy trình phân lập và định danh liên cầu khuẩn nhóm B
tại khoa Vi sinh - Bệnh viện Bạch Mai bằng máy Phoenix.
- Sau khi các thai phụ đã sinh
+ Phỏng vấn lại nhóm thai phụ có kết quả LCB (+).
+ Hồi cứu lại tất cả hồ sơ bệnh án của các thai phụ.
Đủ tiêu chuẩn lựa chọn
Phỏng vấn thai phụ theo bảng câu hỏi
Khám phụ khoa Lấy bệnh phẩm
(+)
(-)
Sau sinh
Sau sinh
Phỏng vấn lại
Hổi cứu hồ sơ bệnh án
23
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 8/2014 đến tháng
3/2015, chúng tôi đã thu thập được số liệu của 145 thai phụ có tuổi thai từ 28
tuần đến điều trị và quản lý thai nghén tại khoa Phụ Sản - Bệnh viện Bạch
Mai. Trong 145 thai phụ thì có 15 thai phụ nuôi cấy tìm thấy LCK nhóm B.
Kết quả được trình bày như sau:
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Tuổi của thai phụ
≥ 35
7
4,8
Tổng số
145
100
Tuổi trung bình
27,5 ± 3,9
(19 - 38)
Nhận xét:
- Thai phụ nhỏ tuổi nhất là 19 tuổi, lớn tuổi nhất là 38 tuổi và tuổi trung
bình là 27,5 ± 3,9.
- Trong nghiên cứu nhóm tuổi hay gặp nhất là từ 25 - 29 tuổi chiếm
53,8%, nhóm chiếm tỷ lệ thấp nhất là dưới 20 tuổi (1,4%).
24
3.1.2. Nơi ở của thai phụ
Nội thành
0,7
0
Đại học, sau đại Cao đẳng, trung
học
cấp
THPT
THCS, tiểu học
Biểu đồ 3.2. Trình độ học vấn của thai phụ
Học vấn
25
Nhận xét:
- Thai phụ có trình độ học vấn đại học và sau đại học chiếm tỷ lệ cao
nhất 63,4%, tiếp đến là trung học phổ thông chiếm 22,1% và cao đẳng, trung
cấp chiếm 13,8%.
- Thai phụ có trình trung học cơ sở và tiểu học chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,7%.
3.1.4. Nghề nghiệp của thai phụ
Tỷ lệ %
70
65,5
60
50