Thực trạng tai nạn thương tích và gánh nặng tử vong tại huyện ba vì TP hà nội năm 2014 - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THƠM

THỰC TRẠNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH VÀ
GÁNH NẶNG TỬ VONG TẠI HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2014

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
Khóa 2011-2015

HÀ NỘI – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THƠM

THỰC TRẠNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH VÀ
GÁNH NẶNG TỬ VONG TẠI HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2014

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA

Sinh viên
Nguyễn Thị Thơm


Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi : - Phòng Đào tạo đại học – Trường Đại học Y Hà Nội
- Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng
- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp, năm học 2014 – 2015
Em xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của em, toàn
bộ số liệu được thu thập và xử lý một cách khách quan, trung thực và chưa
được công bố trong bất kỳ một tài liệu nào khác.

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Thị Thơm


DANH MỤC VIẾT TẮT

CDC

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (Hoa Kỳ)

ICD

Phân loại quốc tế về bệnh và các vấn đề sức khỏe liên quan



Tổ chức Y tế Thế giới

HCBVTV

Hóa chất bảo vệ thực vật


MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................... 3
1.1.

Tai nạn thương tích (TNTT) ................................................................... 3

1.1.1. Một số khái niệm .................................................................................... 3
1.1.2. Phân loại TNTT theo bảng phân loại ICD-10 ........................................ 5
1.2.

Tình hình tai nạn thương tích.................................................................. 6

1.2.1. Tình hình TNTT trên thế giới và trong khu vực ..................................... 6
1.2.2. Tình hình TNTT ở Việt Nam ................................................................ 10
1.3.

Gánh nặng tử vong do TNTT ............................................................... 13

1.3.1. Phương pháp đánh giá gánh nặng TV thông qua số năm sống tiềm tàng
bị mất đi do chết sớm ...................................................................................... 13


2.6.

Biến số và chỉ số ................................................................................... 18

2.7.

Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu..................................................... 19

2.8.

Sai số và không chế sai số .................................................................... 20

2.9.

Xử lý và phân tích số liệu ..................................................................... 20


2.10. Đạo đức trong nghiên cứu..................................................................... 21
2.11. Hạn chế của nghiên cứu ........................................................................ 21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ................................................................................. 22
3.1.

Tình hình TNTT tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm 2014.......... 22

3.2. Gánh nặng tử vong do TNTT tại huyện Ba Vì năm 2014 ....................... 29
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN .............................................................................. 33
4.1. Tình hình TNTT tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm 2014 ............. 33
4.2. Gánh nặng tử vong do TNTT tại quận huyện Ba Vì năm 2014............... 35
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 39

Bảng 3. 9: Gánh nặng tử vong theo nhóm nguyên nhân TNTT ở nam .......... 31
Bảng 3. 10: Gánh nặng tử vong theo nhóm nguyên nhân ở nữ ...................... 32


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3. 1: Phân bố nghề nghiệp của người bị TNTT ................................. 23
Biểu đồ 3. 2: Phân bố nguyên nhân gây TNTT .............................................. 24
Biểu đồ 3. 3: Tỷ lệ nơi xảy ra tai nạn thương tích .......................................... 27
Biểu đồ 3. 4: Nơi điều trị ban đầu sau TNTT ................................................. 28


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai nạn thương tích (TNTT) đang là một vấn đề Y tế công cộng đáng lo
ngại cho con người trên phạm vi toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) thì tai nạn thương tích là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây
tử vong, hàng năm có khoảng hơn 5 triệu người tử vong do tai nạn thương
tích tương đương với khoảng 98 trường hợp tử vong do TNTT/100.000
dân[1].
Tại Việt Nam, TNTT cũng là một trong những nguyên nhân gây tử vong
hàng đầu. Theo thống kê của ngành Y tế, trung bình hàng năm có đến 34.000
trường hợp tử vong do TNTT, chiếm 11-12% tổng số tử vong. Bên cạnh đó,
còn có một số lượng lớn hơn các trường hợp để lại di chứng sau khi bị tai nạn
thương tích mà hậu quả chính của tai nạn thương tích là gây tàn phế, chiếm tỷ
lệ cao trong những năm sống tiềm năng bị mất[2]. Theo kết quả khảo sát về
tai nạn thương tích năm 2010 (VMIS) ước tính một năm có tới 1,8 triệu lượt
người bị tai nạn thương tích không dẫn đến tử vong phải nghỉ việc hoặc cần
đến chăm sóc y tế [3]. Theo báo cáo của Bộ LĐ-TB & XH, tai nạn thương

thực trạng và gánh nặng tử vong của huyện Ba Vì sau khi tái nhập chúng tôi
tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng tai nạn thương tích và gánh nặng tử
vong dựa trên báo cáo tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm 2014” với
các mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng tai nạn thương tích tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
năm 2014.
2. Đánh giá gánh nặng tử vong do tai nạn thương tích tại huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội năm 2014.


3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tai nạn thương tích (TNTT)
1.1.1. Một số khái niệm
 Tai nạn
Tai nạn là một sự kiện không định trước gây ra thương tích có thể nhận
thấy được (WHO).
 Thương tích
Thương tích là tổn thương của cơ thể do có sự va đập mạnh hoặc cọ sát
hay bọ các vật sắc nhọn đâm gây hậu quả.
 Tai nạn thương tích [1]
Tai nạn thương tích là thương tổn thực thể trên cơ thể con người do tác
động của năng lượng (cơ học, nhiệt, điện, hóa học/phóng xạ) với mức độ, tốc
độ khác nhau quá sức chịu đựng của cơ thể người. Ngoài ra, tai nạn thương
tích còn là thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống (thiếu oxy trong đuối
nước, nghẹt, giảm nhiệt trong đông lạnh). TNTT gây tổn hại tới sức khỏe
người bị tai nạn và làm người đó phải nghỉ việc hoặc nghỉ học, cần phải chăm
sóc y tế, làm hạn chế các sinh hoạt bình thường ít nhất một ngày hoặc gây tử
vong.

cùng một mặt bằng. Ngã là nguyên nhân gây nên những chấn thương nghiêm
trọng khiến cho nạn nhân buộc phải nằm viện. Ngã thường gây ra các thương
tật vĩnh viễn và dẫn đến rất nhiều chấn thương nhỏ khác. Phần lớn các vụ gãy
xương, chấn thương sọ não, tủy sống đều do ngã gây ra.
- Đuối nước: là những trường hợp bị ngạt do bị chìm trong chất lỏng.
- Bỏng: là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc với lửa,
chất lỏng nóng, chất rắn nóng. Các tổn thương da do sự phát xạ của tia cực
tím hoặc phóng xạ, điện, chất hóa học,….


5

- Ngộ độc: là những trường hợp hít phải, ăn vào, ngấm vào, tiêm vào cơ
thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc cần đến sự chăm sóc y tế.
- Điện giật: là những chấn thương do tiếp xúc trực tiếp với nguồn điện
dẫn đến chấn thương hoặc tử vong. Điện giật trong các gia đình do sử dụng
không an toàn, nơi công cộng trong mùa mưa bão, trong đánh cá bằng điện, bị
điện giật ở nơi lao động
- Súc vật cắn, đốt, húc: là các trường hợp bị súc vật (chó, mèo, rắn, trâu,
bò,…) tấn công.
- Tự tử: là trường hợp chấn thương, ngộ độc hoặc ngạt….do chính nạn
nhân tự gây ra với mục đích đem lại cái chết cho chính họ.
- Bạo lực trong gia đình, xã hội: là hành động sử dụng vũ lực hăm dọa
hoặc đánh đập người, nhóm người, cộng đồng khác dẫn đến chấn thương, tử
vong, tổn thương tinh thần, chậm phát triển.
 Tuổi thọ trung bình hay Kỳ vọng sống (KVS) khi sinh là số năm trung
bình có thể sống của một cá thể trong một cộng đồng dân cư nào đó, ước tính
từ khi mới sinh ra. Tuổi thọ là con số được tính trên cơ sở những cuộc điều tra
về dân số, về tử vong ở một cộng đồng xác định [6].
 Tử vong do TNTT:

gần 1,2 triệu người [9]. Năm 2004, tử vong do TNGT chiếm 2,1% tử vong
toàn cầu [10]. Ước tinh đến năm 2030 TNGT đường bộ sẽ là nguyên nhân thứ
8 trong các nguyên nhân gây tử vong [11]. Theo số liệu thống kê tình hình
bệnh tật của WHO năm 2002 cho thấy các nước đang phát triển đang có sự
chuyển dịch dịch tễ học từ mô hình bệnh tật các bệnh truyền nhiễm sang mô
hình bệnh tật các bệnh không truyền nhiễm và tai nạn thương tích[12]. Kèm
theo mỗi trường hợp tử vong do TNTT thì có hơn vài ngàn người bị thương
tích, rất nhiều người bị thương tật vĩnh viễn. Thương tích xảy ra ở mọi khu
vực và quốc gia, ảnh hưởng đến con người ở mọi lứa tuổi từ trẻ em đến người


7

già, kể cả lứa tuổi lao động. Tuy nhiên mức độ tổn thương khác nhau tùy theo
độ tuổi, giới, khu vực, nhóm lao động và tùy loại TNTT gặp phải. Ở các nước có
thu nhập thấp và trung bình trong khu vực Tây Thái Bình Dương thì thương tích
giao thông đường bộ, đuối nước và tự tử là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong.
Còn ở các nước Châu Phi là chiến tranh, xung đột cá nhân và thương tích giao
thông đường bộ[13]. Ở những nước có thu nhập cao ở Châu Mỹ, nguyên nhân
hàng đầu gây tử vong do thương tích ở lứa tuổi 15-44 là thương tích giao thông
đường bộ, trong khi đó ở những nước có thu nhập thấp và trung bình ở Châu Mỹ
thì nguyên nhân chủ yếu là do xung đột cá nhân [14].
Mật độ TNTT và tử vong do TNTT khác nhau giữa các quốc gia và khu
vực. Ở Châu Âu, tỷ lệ chết do TNTT chiếm khoảng 8,3% so với tất cả các
loại tử vong khác. Khu vực Tây Thái Bình Dương có khoảng 1,2 triệu người
tử vong do TNTT/năm, tương đương với khoảng 3300 người tử vong do
TNTT /ngày. Khu vực Đông Nam Á có khoảng 1,4 triệu người tử vong do
TNTT/năm[15]. Tại Trung Quốc- một nước đông dân nhất thế giới thì TNTT
là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở độ tuổi 1-44 với khoảng 750.000
người tử vong do TNTT/năm [16]. Tử vong do TNTT ở độ tuổi 0-39 ở vùng

thường xuyên xảy ra. Mùa xuân lại là mùa thường xuyên xảy ra các vụ tự tử
(OR=1,09; 95%CI:1,04-1,14), tỷ lệ tử vong do nghẹt thở cao nhất vào mùa
đông (OR=1,12; 95%CI:1,03-1,21) [23]
TNTT đang trở lên là vấn đề phổ biến và tăng hầu hết ở những nước
đang phát triển, bao gồm cả châu Phi cận Sahara. Một tỷ lệ lớn các thương
tích do TNGT đường bộ, ngã, bỏng, cuộc tấn công bạo lực, súc vật cắn, đốt và
thương tích liên quan đén ngộ độc, đuối nước và tự tử. Gánh nặng và mô hình
chấn thương ở châu Phi và các khu vực đang phát triển khác ít được biết đến
và chưa được nghiên cứu tốt. Khu vực Đông Phi tương đối điển hình với tỷ lệ
tử vong lên tới 1.300/100.000/năm, chấn thương có thể gây ra khoảng 100


9

trường hợp tử vong. Tổng tỷ lệ tương ứng của tổn thương nặng ước tính
khoảng 40.000/100.000/năm[24].
Ở Bangladesh, năm 2005, tỷ lệ tử vong do TNTT tăng theo lứa tuổi của
trẻ em với 2% ở trẻ sơ sinh, 29% tử vong trong độ tuổi 1-4, 48% trường hợp
tử vong trong độ tuổi 5-9, 52% trường hợp tử vong từ 10-14 tuổi, 64% trường
hợp tử vong từ 15-17 tuổi. Đuối nước là nguyên nhân gây tử vong lớn duy
nhất ở trẻ trên 1 tuổi. TNGT, bỏng, ngã, ngất, chấn thương có chủ đích là
những cấu phần quan trọng trong chấn thương ở trẻ. Đuối nước cũng là vấn
đề lớn ở Bangladesh với khoảng 19% ca tử vong ở trẻ 1-4 tuổi. Tỷ lệ tử vong
do TNTT năm 2007 là 6,01% [25].
Nghiên cứu ở Mỹ 1986-1996 cho kết quả TNTT là nguyên nhân tử
vong đàu tiên ở trẻ >1 tuối và thanh thiếu niên với tỷ lệ 67,9%. Ngoài ra,
TNTT còn là một trong bảy nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở người lớn
tại nước này chủ yếu là ngã, TNGT và bỏng [26].
Tính trên toàn cầu, nguyên nhân gây tử vong thứ 2, sau TNGT là đuối
nước. Đây lại là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em trên 1 tuổi trong

Năm 2005, tử vong do bỏng là 1 trong 5 nguyên nhân đầu tiên gây tử vong do
TNTT [45].
Ở Trung Quốc, tự tử là nguyên nhân làm tỷ lệ tử vong ở tuổi 15-39
vùng nông thôn cao và ngạt là nguyên nhân chính gây tử vong [17].
1.2.2. Tình hình TNTT ở Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển, cùng với sự phát triển về kinh tế
xã hội thì trong nhiều năm trở lại đây, tình hình TNTT ngày càng gia tăng gây
nhiều tổn thất nặng nề về sức khỏe, tính mạng và tài sản của người dân, xã
hội, trở thành một gánh nặng bệnh tật và tử vong của quốc gia. Theo kết quả
sơ bộ của cuộc điều tra chấn thương năm 2006, tỷ lệ tử vong do TNTT lên tới


11

11%, đứng thứ 3 trong số các nguyên nhân gây tử vong, chỉ sau các bệnh tim
mạch (18%) và bệnh truyền nhiễm (15%)[31]. Bên cạnh đó có tới 57% vụ
TNTT không gây tử vong nhưng gây chấn thương cho nạn nhân, trong khi đó
bệnh truyền nhiễm chỉ chiếm 23% và bệnh mạn tính chiếm 20% [32]. Chỉ tính
riêng TNGT, theo số liệu thống kê về tỷ suất và số trường hợp tử vong theo
nguyên nhân năm 2010, trên cả nước có tới 14.442 vụ TNGT, trong đó có
11.449 người chết và 10.633 người bị thương [33]. Nghiên cứu của Cục Y tế
dự phòng cho kết quả số bệnh nhân nhập viện do TNTT chiếm 31,97% tổng
số trường hợp vào viện, và trung bình mỗi nạn nhân phải nằm viện 4,96 ngày,
trong đó, có 68,72% nạn nhân có thời gian bắt buộc phải nằm viện từ 1-5
ngày, sau đó là 6-10 ngày [3].
Theo kết quả điều tra quốc gia liên trường về TNTT năm 2010 (VMIS
2010) cho thấy tỷ suất TNTT không tử vong cho tất cả các nguyên nhân, tất
cả các lứa tuổi ở Việt Nam là 2.092/100.000 dân/năm. Trong số các nguyên
nhân TNTT gây tử vong, TNGT là nguyên nhân hàng đầu với tỷ suất là
1,6/100.000 dân. Kết quả điều tra cho thấy ngã là nguyên nhân thứ 2 trong các

Hòa Bình là 59,5/100.000 dân [34]. Tại huyện Từ Liêm- Hà Nội, tỷ lệ này là
51,1/100.000 dân, tại Định Công là 65,3/100.000 dân [36].
Tỷ lệ tử vong do TNTT cũng khác nhau theo giới. Tỷ lệ tử vong do
TNTT ở nam cao gấp 3 lần ở nữ (nam chiếm 76%, nữ chiếm 24%) [37]. Năm
2005, tỷ lệ tử vong theo các nguyên nhân TNTT cũng khác nhau giữa 2 giới.
Tỷ lệ tử vong do TNGT ở nm là 30,8/100.000 người, ở nữ là 8,6/100.000
người; do đuối nước ở nam là 11,2/100.000 người, ở nữ là 5,7/100.000 người;
do tự tử ở nam là 6,4/100.000 người, ở nữ là 3,5/100.000 người; do ngộ độc ở
nam là 3,6/100.000 người, ở nữ là 1.0/100.000 người. Năm 2006, tỷ lệ tử
vong do TNTT ở nam là 64,2/100.000 người, ở nữ là 23/100.000 người. Tỷ lệ
tử vong do TNGT ở nam là 32,8/100.000 người, ở nữ là 9,0/100.000 người;
do đuối nước ở nam là 11,8/100.000 người, ở nữ là 5,5/100.000 người; do tự


13

tử ở nam là 6,4/100.000 người, ở nữ là 3,4/100.000 người; do ngộ độc ở nam
là 2,3/100.000 người, ở nữ là 1,6/100.000 người [34].
Trong vòng 10 năm từ 1990 đến 2001, số trường hợp tử vong do TNTT
tăng gấp 5 lần [38], trong 5 năm gần đây, mỗi năm có khoảng 12.000 người tử
vong do TNGT, chiếm khoảng 50% số tử vong do TNTT [15].
Nghiên cứu tại xã Thượng Cát – Từ Liêm – Hà Nội năm 2005, tỷ lệ tử
vong do TNTT chiếm 8,3% tổng số các trường hợp tử vong, đứng thứ 3 trong
các nguyên nhân gây tử vong. Năm 2006, tại Từ Liêm-Hà Nội, tử vong do
TNGT chiếm 50,5% số tử vong do TNTT [33].
1.3. Gánh nặng tử vong do TNTT
1.3.1. Phương pháp đánh giá gánh nặng TV thông qua số năm sống tiềm
tàng bị mất đi do chết sớm
Hiện nay, các chỉ số thường dùng để đánh giá tình hình sức khỏe cộng
đồng như: kì vọng sống hi sinh (KVS khi sinh), tỷ suất chết thô, tỷ suất chết

Theo báo cáo toàn cầu về phòng chống thương tích đường bộ năm
2004 cho thấy riêng TNGT đường bộ mỗi năm cướp đi mạng sống của 1,2
triệu người; làm bị thương và tàn tật hơn 20-50 triệu người. Nếu không có
những hành động thích hợp, đến năm 2020, thương tích do TNGT đường bộ
được dự đoán sẽ là nguyên nhân thứ 3 của gánh nặng bệnh tật và thương tích
toàn cầu theo bảng xếp hạng DALY’s về 10 nguyên nhân đứng đầu gánh nặng
bệnh tật [14].
1.3.3. Gánh nặng tử vong do TNTT ở Việt Nam
Việt Nam là một nước thuộc nhóm có thu nhập thấp và trung bình.
Theo ước tính của ngân hàng châu Á, tổn thất kinh tế hàng năm do TNGT


15

đường bộ vào khoảng 845 triệu đôla Mỹ [9].
Theo nghiên cứu Gánh nặng của thương tích nghề nghiệp ở công nhân
cơ khí đóng tàu, tống số năm mất đi với 145 công nhân bị thương là 4,04
DALYs; nam mất nhiều DALYs hơn nữ (nam 3,743 DALYs, nữ 0,287
DALYs [40].
Theo nghiên cứu năm 2002 về gánh nặng bệnh tật tại huyện Chí Linh
– Hải Dương thì trong giai đoạn 1997-1998, TNTT là gánh nặng bệnh tật
hàng đầu, chiếm gần 40% tổng số năm sống tiềm tàng bị mất do chết sớm.
Trong đó, gánh nặng tử vong do TNTT ở nam cao hơn ở nữ. Gánh nặng tử
vong do TNTT đứng đầu ở nhóm 5-14 tuổi, 15-29 tuổi và 30-49 tuổi, chiếm
hơn 70% tổng gánh nặng bệnh tật, đứng thứ 2 ở nhóm 0-4 tuổi. Tử vong do
đuối nước ở nam chiếm gần 1/3 gánh nặng bệnh tật do TNTT (30,3%), ở nữ
chiếm tới 2/3 (61,5%) [3].
Nghiên cứu tử vong năm 2005 tại lâm Thao- Phú Thọ cho thấy tổng số
năm mất đi do chết sơm vì TNTT là 1.245/100.000 dân (theo KVS của người
Nhật Bản) chiếm 8,97% và ở nam (11,28%) cao hơn nữ (4,85%) [41].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status