Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán việt naml - Pdf 48

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác gia

VŨ THỊ MAI HƯƠNG


MỤC LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CBTT

:

Công bố thông tin

DN

:

Doanh nghiệp

SGDCK

:

Sở giao dịch chứng khoán




bảng
2.1
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9

Tổng hợp đo lường các biến anh hưởng đến công bố
thông tin
Bang thống kê mức độ công bố thông tin
Thống kê mô ta các biến độc lập và biến kiểm soát
Ma trận tương quan giữa các biến
Kết qua đánh giá độ phù hợp của mô hình
Phân tích hồi quy
Kết qua kiểm tra gia thiết phương sai sai số thay đổi
Kết qua đánh giá độ phù hợp của mô hình lần 2
Phân tích hồi quy lần 2
Tổng hợp kết qua nghiên cứu các nhân tố anh hưởng
đến mức độ công bố thông tin

77
80


7

vậy có rất nhiều doanh nghiệp niêm yết đã chậm công bố thông tin hoặc bỏ
sót những thông tin quan trọng, anh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư.
Trong bối canh nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển
như hiện nay thì ngành vận tai đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sự
phát triển của đất nước. Vận tai là yếu tố cần thiết của tất ca các giai đoạn của
quá trình san xuất. Trong quá trình hoạt động của mình, dịch vụ vận tai đã góp
phần tiêu thụ một khối lượng lớn các san phẩm của ngành khác, bằng cách
đưa các san phẩm đó từ nơi san xuất đến nơi tiêu dùng, làm cho giá trị san
phẩm được tăng lên. Do đó, khi nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu vận chuyển
hàng hóa tăng lên thì ngày càng nhiều các doanh nghiệp cổ phần kinh doanh
dịch vụ vận tai ra đời để đáp ứng nhu cầu phát triển của toàn ngành. Trong đó,
nguồn vốn huy động từ thị trường chứng khoán đối với ngành này chiếm tỷ
trọng không hề nhỏ. Nhưng dường như nhà đầu tư chưa nhận được những
thông tin tương xứng về doanh nghiệp mà họ đã bỏ vốn đầu tư. Trong khi
thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự ra quyết định của nhà
đầu tư cũng như anh hưởng đến quá trình hoạt động và phát triển của thị
trường chứng khoán.
Chính vì vậy việc nghiên cứu mức độ công bố thông tin và các nhân tố
anh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty đại chúng lớn, công
ty niêm yết rất cần được quan tâm kể ca đối với ca nhà đầu tư, công ty niêm
yết và ca cơ quan quan lý. Có nhiều tác gia trong nước và thế giới đã nghiên
cứu anh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin trong doanh
nghiệp niêm yết nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu về mức độ công bố
thông tin của các doanh nghiệp ngành vận tai để giúp người đọc, nhà đầu tư
có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này, từ đó có thể giúp nhà đầu tư và các
bên liên quan có đánh giá chung trước khi ra quyết định.



nghiệp vận tai niêm yết tại tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh (HOSE) và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX).
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong luận văn này là phương pháp
nghiên cứu định lượng. Với phương pháp này luận văn sử dụng mô hình hồi
quy để kiểm tra những gia thuyết nghiên cứu đặt ra. Trong đó biến về về đặc
điểm quan trị doanh nghiệp gồm số lượng thành viên hội đồng quan trị, thành
viên hội đồng quan trị độc lập và việc kiêm nhiệm giữa chủ tịch hội đồng
quan trị và tổng giám đốc, loại công ty kiểm toán độc lập. Yếu tố về cơ cấu sở
hữu gồm: sở hữu nhà nước, sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, sở hữu của
nhóm nhà quan lý. Cuối cùng là các yếu tố về đặc tính của doanh nghiệp gồm
quy mô doanh nghiệp, kha năng sinh lời, đòn bẩy nợ.
- Trình tự nghiên cứu: Bước đầu tiên, tác gia đã tiến hành tìm hiểu và
tổng hợp các lý thuyết có liên quan. Tiếp theo, lựa chọn mẫu nghiên cứu là
các doanh nghiệp vận tai niêm yết tại HOSE và HNX trước năm 2015 và thu
thập báo cáo thường niên năm 2015 của các doanh nghiệp này. Bước 3, xây
dựng bang các yếu tố thông tin tự nguyện công bố trong báo cáo thường niên,
tính toán chỉ số công bố thông tin đồng thời xác định các nhân tố có thể có
anh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các
doanh nghiệp thuộc nhóm ngành vận tai niêm yết, đặt ra các gia thuyết nghiên
cứu. Và cuối cùng là tiến hành phân tích hồi quy, kiểm định các gia thuyết, rút
ra kết luận về vấn đề nghiên cứu.


10

- Phương pháp phân tích:
Nghiên cứu sử dụng chỉ số công bố thông tin theo cách tiếp cận không
trọng số để đo lường mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của
các doanh nghiệp vận tai và sử dụng phương pháp thống kê mô ta để xem xét

nhuận, tính thanh khoan, đòn bẩy nợ, chất lượng công ty kiểm toán, tình trạng
niêm yết, tuổi công ty. Có thể kể đến các nghiên cứu của Gray và cộng sự
(1995), Ho và Wong (2001), Chau và Gray (2002), Eng và Mak (2003),
Barako và cộng sự (2006), Yuen và cộng sự (2009), Rouf (2010) [25], [30],
[16], [20], [10], [49], [39]. Luận văn sẽ trình cụ thể từng nghiên cứu của họ để
giúp hiểu ban chất, phương pháp và kết qua của nghiên cứu này.
Nghiên cứu của Gray và cộng sự (1995): Nghiên cứu này đã phân tích
các yếu tố anh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty ở
Mỹ, Anh và châu Âu [25]. Họ đã sử dụng một bang điểm để đo lường số điểm
mức độ công bố thông tin tự nguyện. Các mục thông tin trong bang điểm
được chia thành chiến lược, thuyết minh tài chính và phi tài chính. Các yếu tố
được kiểm tra bao gồm quy mô công ty, quốc gia/khu vực, tình trạng niêm
yết, ngành, đòn bẩy tài chính, đa dạng hóa kinh doanh và lợi nhuận. Nghiên
cứu này đã không kiểm tra các yếu tố về cơ cấu sở hữu.


12

Kết qua phân tích hồi quy đã cho thấy rằng quy mô công ty và quốc
gia/khu vực là những yếu tố quan trọng nhất giai thích mức độ công khai
thông tin. Đòn bẩy cho một mối quan hệ ngược chiều đáng kể đối với mức độ
công bố thông tin đã được quan sát trong khi đó ít có bằng chứng cho thấy lợi
nhuận có anh hưởng đến mức độ công bố thông tin.
Nghiên cứu của Ho và Wong (2001): Nghiên cứu này bàn về mối quan
hệ giữa quan trị doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin tự nguyện của các
công ty niêm yết tại Hồng Kông [30]. Các biến trong nghiên cứu bao gồm
giám đốc điều hành độc lập, sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán, sự tồn tại
của các nhân chi phối và tỷ lệ phần trăm của các thành viên gia đình trong hội
đồng quan trị...
Kết qua nghiên cứu tìm thấy rằng tỷ lệ phần trăm của các thành viên gia

bố thông tin tự nguyện. Liên quan đến quyền sở hữu của chính phủ nghiên
cứu cho thấy rằng quyền sở hữu của chính phủ nhiều hơn dẫn đến công bố
thông tin tự nguyện cao hơn.
Nghiên cứu của Barako và công sự (2006): Nghiên cứu này phân tích
các yếu tố anh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty
Kenya [10]. Các yếu tố được sử dụng trong nghiên cứu của họ là sự xuất hiện
của ủy ban kiểm toán, thành phần hội đồng quan trị, sở hữu nước ngoài, sở
hữu tổ chức, sự tập trung cổ đông, quy mô doanh nghiệp, công ty kiểm toán
độc lập, kha năng sinh lời, kha năng thanh toán, ngành và tỷ lệ đòn bẩy. Mẫu
của họ bao gồm 54 công ty niêm yết trên NSE. Kết qua cho thấy rằng sự hiện
diện của một ủy ban kiểm toán liên quan tích cực đến mức độ công bố thông
tin tự nguyện. Nghiên cứu này được thực hiện qua nhiều năm và trong những


14

năm đầu có một mối quan hệ ngược chiều giữa các thành phần hội đồng quan
trị và số lượng công bố thông tin tự nguyện trong khi trong những năm sau
này là một mối quan hệ cùng chiều. Ngoài ra, sở hữu nước ngoài, tổ chức sở
hữu, quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy cũng có một mối quan hệ cùng chiều
đáng kể với mức độ công bố tự nguyện. Tập trung sở hữu cổ đông cho thấy
một mối quan hệ ngược chiều với mức độ công bố thông tin.
Nghiên cứu của Yuen và cộng sự (2009): Nghiên cứu này xem xét tác
động của sở hữu, cơ chế quan trị doanh nghiệp, và đặc điểm công ty với việc
công bố tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Thượng Hai [49]. Các tính năng cơ cấu sở hữu và cơ chế quan trị doanh
nghiệp bao gồm: (1) mức độ sở hữu tập trung, (2) sở hữu của các tổ chức nhà
nước; (3) quyền sở hữu cá nhân, (4) giám đốc điều hành kiêm chủ tịch hội
đồng quan trị, (5) hội đồng quan trị độc lập, và (6) sự tồn tại của ủy ban kiểm
toán. Các đặc tính công ty gồm (1) quy mô doanh nghiệp, (2) đòn bẩy, (3) lợi

thực nghiệm cho thấy một mối liên hệ thuận giữa số lượng thành viên hội
đồng quan trị, cơ cấu hội đồng quan trị và Ủy ban ban kiểm toán với công bố
tự nguyện. Ngược lại, mức độ công bố thông tin tự nguyện có liên quan
ngược chiều đối với việc kiêm nhiệm Chủ tịch hội đồng quan trị và tổng giám
đốc, cơ cấu sở hữu và lợi nhuận ròng.
- Các nghiên cứu tại Việt Nam
Việc nghiên cứu các chủ đề liên quan đến công bố thông tin được thực
hiện tại các quốc gia trên thế giới sớm hơn so với Việt Nam, tuy nhiên, trong
thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã quan tâm nhiều
hơn và đã có những nghiên cứu liên quan đến chủ đề này.


16

Nghiên cứu của Kelly Vu (2012): “Determinants of Voluntary
Disclosure for Vietnamese Listed Firms” Nghiên cứu này xem xét các yếu tố
tác động đến mức độ công bố thông tin của 252 doanh nghiệp niêm yết trên
sàn chứng khoán Việt Nam trong năm 2009 [34]. Nghiên cứu này sử dụng
bang điểm gồm 84 mục và không có trọng số để xác mức độ công bố thông
tin các doanh nghiệp tại Việt Nam. Tác gia đã sử dụng phân tích hồi quy hỗ
trợ cho việc giai thích nghiên cứu về thực tế công bố thông tin tự nguyện tại
Việt Nam. Các bằng chứng cho thấy công bố thông tin tự nguyện của doanh
nghiệp bị anh hưởng tích cực bởi sức mạnh của quan trị doanh nghiệp (tỷ lệ
thành viên hội đồng quan trị độc lập). Sở hữu nhà nước cao là một đặc thù của
các công ty niêm yết Việt Nam, có liên quan đáng kể và ngược chiều với mức
độ công bố thông tin. Trong khi một tỷ lệ cao hơn về quyền sở hữu của ban
điều hành làm giam mức độ công bố thông tin tự nguyện, sở hữu nước ngoài
không anh hưởng đến công bố thông tin. Quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận,
ngành, yếu tố về công ty kiểm toán, thời gian niêm yết và nơi niêm yết là
những thuộc tính quan trọng liên quan đến việc công bố tự nguyện trong các

tư trong việc ra quyết định. Có bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng việc
công bố thông tin tăng làm giam chi phí vốn của một công ty bằng cách giam
thông tin bất cân xứng (Botosan, 1997) [12]. Như vậy, công bố thông tin tự nó
là một công cụ chiến lược giúp tăng cường kha năng của một công ty để huy
động vốn với chi phí thấp nhất có thể. Các thông tin được cung cấp bởi các


20

công ty bao gồm hai loại: công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự
nguyện.
- Công bố thông tin bắt buộc:
Là việc công bố những thông tin cơ ban theo quy định của pháp luật mà
cụ thể là các quy định công bố thông tin theo luật doanh nghiệp, luật chứng
khoán 2005 (đã có sửa đổi và bổ sung), thông tư 155/2015/TT-BTC về công
bố thông tin. Theo Simon (2001) công bố thông tin bắt buộc là các quy tắc
cho phép truy cập những thông tin cơ ban [40]. Hay công bố thông tin bắt
buộc là các thông tin mà các doanh nghiệp nhất thiết phai công bố theo quy
chuẩn, nội dung và thời gian bắt buộc do luật quy định (Durukan, 2003) [19].
Hiện tại theo quy định của thông tư 155/2015/TT-BTC việc công bố thông tin
được phân chia làm 3 loại gồm: công bố thông tin định kỳ, công bố thông tin
bất thường, công bố thông tin theo yêu cầu.
Công bố thông tin định kỳ: Công bố thông tin định kỳ gồm những báo
cáo: báo cáo tài chính quý, bán niên, năm, đối với công ty là công ty mẹ công ty con hoặc công ty có kế toán phụ thuộc phai có ca báo cáo tài chính
riêng và báo cáo tài chính hợp nhất. Ngoài ra, công bố thông tin định kỳ còn
có báo cáo thường niên và báo cáo quan trị. Thông tư 155 còn quy định cụ thể
nội dung, thời hạn và cách thức công bố thông tin.
Công bố thông tin bất thường: Cũng theo quy định của thông tư 155
những sự kiện, thông tin xay ra anh hưởng đến tình hình hoạt động kinh
doanh, cổ đông của công ty thì phai công bố thông tin trong thời hạn quy định

nhiệm xã hội của một doanh nghiệp, bên cạnh việc thông tin cho các nhà đầu
tư, cũng liên quan đến công chúng nói chung. Có nhiều phương thức khác
nhau để cung cấp thông tin tự nguyện, thông qua các báo cáo thường niên,
nửa năm, hàng quý, báo cáo quan hệ nhà đầu tư, báo cáo phát triển bền vững,
chú thích, phỏng vấn, thông cáo báo chí và những cách thức khác [25].
1.1.2 Tầm quan trọng của việc công bố thông tin
Verrecchia (1983) lập luận rằng quyết định của người quan lý tiết lộ
hoặc che giấu thông tin phụ thuộc vào sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích của
việc cung cấp thông tin [45]. Chi phí liên quan công bố tự nguyện, bao gồm
chi phí thu thập, lưu trữ, kiểm toán và chi phí cạnh tranh bất lợi. Trong đó, chi
phí cạnh tranh bất lợi là đến từ các thông tin như các chiến lược và đổi mới


23

công nghệ, quan lý về hoạt động của một công ty. Như công bố thông tin liên
quan đến kế hoạch phát triển san phẩm trong tương lai của công ty với công
chúng thì dễ xay ra một nguy cơ cạnh tranh tiềm tàng cho chính công ty đã
công bố thông tin. Đó chính là đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng công bố
thông tin của công ty để phát triển một san phẩm tương tự hoặc cập nhật san
phẩm, kết qua là gây bất lợi trong cạnh tranh với công ty.
Tuy nhiên, có nhiều ích lợi trong việc công bố thông tin của các công ty
như khuyến khích các giao dịch thị trường vốn. Khi quan lý một công ty dự
kiến giao dịch thị trường vốn trong tương lai gần, một số công bố thông tin tự
nguyện được sử dụng để làm giam sự bất đối xứng thông tin giữa công ty và
nhà đầu tư. Lý do việc nhà quan lý làm như vậy là nó có thể làm giam chi phí
tài chính bên ngoài. Nhiều nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng thực nghiệm
cho lý thuyết này. Botosan (2000) kết luận rằng kết qua công bố thông tin
nhiều hơn thì có chi phí vốn thấp hơn [13].
Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng tăng công bố tự nguyện có thể cai thiện

bổ hiệu qua các nguồn lực của xã hội và giam thiểu sự nhiễu loạn thông tin
giữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh
nghiệp, (Adina, 2008) [5]. Thật vậy, một số các vấn đề liên quan đến thông tin
và động cơ công bố thông tin đã can trở việc phân bổ nguồn lực tối ưu trong
thị trường vốn. Đó chính là các vấn đề như vấn đề bất đối xứng thông tin, vấn
đề đại diện,... Vấn đề bất đối xứng thông tin nay sinh từ sự khác biệt về mức
độ và nội dung thông tin, từ sự khác biệt về động cơ giữa chủ doanh nghiệp,
nhà quan trị doanh nghiệp với các nhà đầu tư. Thông tin bất đối xứng tạo ra
những kỳ vọng về giá khác nhau đối với mỗi chủ thể trên thị trường dẫn đến
sự khác nhau về mặt hiệu qua kinh tế và thường là thiệt hại cho các nhà đầu tư


25

có những thông tin không đầy đủ hay những thông tin thiếu chính xác, thậm
chí còn gây ra các hành vi tiêu cực như đầu cơ, giao dịch nội gián, tung tin
đồn thất thiệt, ... làm cho thị trường kém hiệu qua, dễ chao đao, hoạt động đầu
tư của các nhà đầu tư cũng dễ rủi ro hơn, .... Còn vấn đề đại diện phát sinh khi
các cổ đông của doanh nghiệp, tức là những nhà đầu tư đã đầu tư vốn vào
doanh nghiệp, bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quan lý doanh nghiệp
(người đại diện - agents), để thực hiện việc quan lý doanh nghiệp cho họ,
trong đó bao gồm ca việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài san
của doanh nghiệp. Nếu ca cổ đông và người quan lý doanh nghiệp đều muốn
tối đa hóa lợi ích của mình, thì chắc chắn rằng người quan lý doanh nghiệp sẽ
không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông
và doanh nghiệp, mà trái lại họ luôn có xu hướng tìm kiếm lợi ích cá nhân (lý
thuyết đại diện). Và một trong số những giai pháp làm giam các vấn đề nêu
trên là việc thúc đẩy công bố thông tin doanh nghiệp trên thị trường chứng
khoán.
Nhìn chung, tăng cường công bố thông tin cho phép các công ty dễ dàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status