BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỖ KỲ ANH
CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐINH DŨNG SỸ
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Đinh Dũng Sỹ. Kết quả nghiên cứu trong
Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví
dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính trung thực, chính xác và tin cậy.
Hà Nội, ngày
tháng
Đỗ Kỳ Anh
BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật Dân sự năm 2005
CTCP
Công ty cổ phần
CP
Cổ phiếu
CPPT
Cổ phần phổ thông
CPUĐ
Cổ phần ưu đãi
DN
Doanh nghiệp
Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
NĐ75/2011/NĐ-CP
Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của
Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu
nhà nước;
NĐ58/2012/NĐ-CP
Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán
NĐ209/2013/NĐ-CP
Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng
NĐ222/2013/NĐ-CP
Nghị định số 222/2013/NĐ-CP ngày 31/12/2013
của Chính phủ về thanh toán bằng tiền mặt
NĐ96/2015/NĐ-CP
Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 16/10/2015 của
TT219/2013/TT-BTC
Thông tư số 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành
luật thuế giá trị gia tăng
TT211/2012/TT-BTC
Thông tư 211/2012/TT-BTC ngày 05/12/2012
hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 của Chính phủ về
phát hành trái phiếu doanh nghiệp
TT09/2015/TT-BTC
Thông tư số 09/2015/TT-BTC hướng dẫn giao dịch tài
chính của doanh nghiệp
UBCKNN
Uỷ ban chứng khoán nhà nước
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1.
KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ CÁC
HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1.
với công ty cổ phần
1.2.1.
Khái niệm huy động vốn của công ty cổ phần và ưu thế về huy
14
động vốn của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp
khác
1.2.2.
Sự cần thiết phải huy động vốn đối với công ty cổ phần
17
1.3.
Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của
18
công ty cổ phần
1.3.1.
Nhân tố khách quan
18
1.3.2.
1.4.
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT DOANH
NGHIỆP VỀ CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA
CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
2.1.
Thực trạng các quy định pháp luật doanh nghiệp về huy
36
động vốn bằng việc phát hành chứng khoán
2.1.1.
Thực trạng quy định pháp luật doanh nghiệp về huy động vốn
36
bằng việc phát hành cổ phiếu
2.1.2.
Thực trạng quy định pháp luật doanh nghiệp về huy động vốn
bằng việc phát hành trái phiếu
43
Thực trạng quy định pháp luật về huy động vốn thông qua liên
50
doanh, liên kết với công ty cổ phần khác
2.3.2.
Thực trạng quy định pháp luật về huy động vốn bằng việc vay
53
vốn của doanh nghiệp khác
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3.
55
THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY
ĐỘNG VỐN CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
3.1.
Thực tiễn thi hành pháp luật doanh nghiệp về huy động vốn
56
của công ty cổ phần
3.1.1.
ty cổ phần
3.2.2.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn của các
72
công ty cổ phần ở nước ta hiện nay
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
74
KẾT LUẬN
75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
76
1
LỜI MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới cho thấy thứ hạng Môi
thị trường, nhất là tăng cường huy động vốn. Bởi để có thể tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh thì CTCP cần có vốn để hoạt động.
So với các loại hình doanh nghiệp khác, CTCP là loại hình doanh nghiệp
với nhiều ưu thế nổi trội trong huy động vốn. Vốn để các CTCP tiến hành và
phát triển các hoạt động kinh doanh của mình không chỉ riêng nguồn vốn tự
có mà chủ yếu là nguồn vốn huy động được. Do đó, có thể nói hoạt động huy
động vốn có tác động rất lớn đến sự sống còn của các CTCP. Với tầm quan
trọng đó của hoạt động huy động vốn, Nhà nước cần phải xây dựng một hành
lang pháp lý an toàn và thông thoáng, tạo điều kiện cho các CTCP thực hiện
hoạt động này một cách dễ dàng và hiệu quả. Nhận thấy tầm quan trọng của
vấn đề, tôi đã quyết định chọn đề tài “Các hình thức huy động vốn của công
ty cổ phần ở Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp năm 2014” làm đề tài
nghiên cứu Luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu Đề tài
Xét trong phạm vi khu vực và trên thế giới, các công trình nghiên cứu về
hoạt động huy động vốn của CTCP chủ yếu tập trung vào những nội dung
như: (i) giới thiệu các hình thức huy động vốn của CTCP, nhất là các hoạt
động chào bán cổ phần, CP, TP; (ii) Đánh giá những tác động của huy động
vốn đối với CTCP và ảnh hưởng tới nền kinh tế; (iii) Nghiên cứu quy định
pháp luật về huy động vốn của CTCP.
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề huy động vốn
của CTCP có thể kể đến một số công trình như:
- Thực trạng và phương hướng hoàn thiện chế độ huy động vốn kinh
doanh của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay: khoá luận tốt nghiệp / Hoàng
Thị Minh Hằng ; Vũ Văn Cương hướng dẫn. - Hà Nội, 2002;
3
- Pháp luật về huy động vốn nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam và
2005 và LCK năm 2006 / Nguyễn Minh Hằng / Luật học. Trường Đại học
Luật Hà Nội, Số 8/2006;
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về huy động vốn của CTCP ở
nước ta tập trung nhiều vào cơ chế pháp lý, cơ chế huy động vốn hoặc cụ thể
hơn là hoạt động chào bán CP. Các công trình nghiên cứu này đều đã đi sâu
vào nghiên cứu quy định pháp luật thực định liên quan đến vấn đề huy động
vốn của CTCP và đưa ra các định hướng hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, kể
từ khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, cùng với nhiều đạo luật trực tiếp
điều chỉnh vấn đề huy động vốn của CTCP được sửa đổi, bổ sung cho phù
hợp với quy định của Hiến pháp được xây dựng thì chưa có công trình nghiên
cứu nào về vấn đề này. Trong bối cảnh BLDS năm 2015 sắp có hiệu lực,
LDN năm 2014, LCK sửa đổi năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm
2010, LĐT năm 2014,… và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có nhiều thay
đổi, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của CTCP ở nước ta
hiện nay mà chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này theo quy định
LDN hiện hành.
3. Phạm vi nghiên cứu Đề tài
Các hình thức huy động vốn của CTCP theo quy định của LDN năm
2014 là một đề tài gồm rất nhiều vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ phạm vi của luận văn thạc sĩ luật học, học viên chỉ tập
trung nghiên cứu các vấn đề như sau: Khái niệm CTCP, vốn và vai trò của
vốn đối với CTCP; khái niệm huy động vốn; những nhân tố ảnh hưởng đến
hoạt động huy động vốn của CTCP; các hình thức huy động vốn của CTCP;
thực trạng các quy định pháp luật về huy động vốn của CTCP ở Việt Nam.
5
Qua đó, Luận văn chỉ ra các giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật về
những hạn chế, bất cập cần được hoàn thiện.
- Luận giải về những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật Việt
Nam về các hình thức huy động vốn của CTCP theo quy định LDN và đề xuất
các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện pháp luật về các hình thức
huy động vốn của CTCP.
6. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được chia thành 3 chương với bố cục như sau:
Chương 1. Khái quát về hoạt động huy động vốn và các hình thức huy
động vốn của công ty cổ phần
Chương 2. Thực trạng các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về
các hình thức huy động vốn của các công ty cổ phần ở Việt Nam
Chương 3. Thực tiễn thi hành và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật, nâng cao hiệu quả huy động vốn của các công ty cổ phần ở nước ta hiện
nay.
7
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
VÀ CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái niệm công ty cổ phần; vốn và vai trò của vốn đối với công
ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần
Công ty cồ phần là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được
xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy
động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia
phát triển [1, tr.18]. Ở nước ta, luật lệ về công ty lần đầu tiên được quy định là
trong “Bộ Dân luật thi hành tại các toà Nam án Bắc Kỳ”, trong đó tiết thứ 5
(Chương IX) nói về hội buôn được chia thành hai loại là hội người và hội
Về vốn của CTCP: Vốn điều lệ của CTCP là số vốn do tất cả các cổ
đông góp được ghi vào điều lệ công ty. Đó là cam kết về trách nhiệm của
công ty trước công chúng. Vốn điều lệ của CTCP phải được chia thành những
phần nhỏ nhất có giá trị bằng nhau gọi là cổ phần.
Về chế độ trách nhiệm tài sản: Công ty phải tự chịu trách nhiệm một
cách độc lập về các nghĩa vụ tài sản bằng toàn bộ tài sản của công ty. Cổ đông
không phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của công ty ngoài phạm
vi giá trị cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Tuy nhiên, chế độ TNHH mà cổ đông
được hưởng cũng kèm theo những ràng buộc nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi
của người thứ ba. Theo LDN, khi công ty thanh toán cổ phần mua lại hoặc trả
cổ tức trái quy định thì tất cả cổ đông phải hoàn trả số tiền hoặc tài sản đã
nhận cho công ty. Nếu cổ đông không hoàn trả được thì cổ đông phải chịu
trách nhiệm về nợ của công ty.
Về tư cách pháp lý: CTCP là chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân.
Theo quy định của LDN năm 2014, CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày
được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Có nghĩa là CTCP tồn tại độc
lập với tư cách chủ thể khác về mặt pháp lý và có tài sản riêng, độc lập với
9
toàn bộ tài sản của cổ đông. Cổ đông có quyền sở hữu một phần công ty
tương ứng với giá trị cổ phần nắm giữ. Khi tham gia các quan hệ pháp luật,
công ty nhân danh chính mình và phải chịu trách nhiệm với các nghĩa vụ phát
sinh đến hết giá trị tài sản của mình.
Về tổ chức quản lý của CTCP: Do những đặc điểm về cấu trúc vốn và cơ
cấu cổ đông, cơ chế quản lý CTCP được pháp luật quy định có phần phức tạp
hơn và chặt chẽ hơn so với các loại hình kinh doanh khác. Sự phân định thẩm
quyền của các cơ quan được xây dựng trong điều lệ công ty trên cơ sở quy
định của pháp luật. Sự phân định cơ cấu bộ máy quản lý CTCP xuất phát từ
động của công ty, được công ty sử dụng trong kinh doanh nhằm mục đích
sinh lợi. Vốn là nhân tố cơ bản không thể thiếu của tất cả các doanh nghiệp.
Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để tiến hành các hoạt động kinh
doanh, CTCP phải có vốn. Là loại hình công ty đối vốn điển hình nên vấn đề
vốn của CTCP là vấn đề hết sức phức tạp.
Vốn của CTCP có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ, dựa trên những
tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành vốn, vốn của CTCP
được chia thành: vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và vốn tín dụng (vốn vay). Căn
cứ theo thời gian huy động vốn: vốn thường xuyên và vốn tạm thời. Căn cứ
theo công dụng kinh tế của vốn bao gồm: vốn cố định và vốn lưu động [38].
1.1.3. Vai trò của vốn đối với công ty cổ phần
* Đối với hoạt động đầu tư: Hoạt động đầu tư là hoạt động rất quan
trọng, thông qua hoạt động đầu tư mà doanh nghiệp có thể tăng trưởng và
phát triển. Đầu tư ở đây có thể là đầu tư vào một dự án kinh doanh mới hay là
đầu tư vào mua sắm trang thiết bị mới, xây dựng nhà xưởng… Nhưng để có
thể tiến hành hoạt động đầu tư thì doanh nghiệp cần phải có vốn. Vốn như là
dòng máu mang dinh dưỡng đến nuôi cơ thể vậy. Hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp như là hoạt động nhằm làm tăng tiềm lực cho doanh nghiệp, làm tăng
quy mô của doanh nghiệp.
Quy mô của vốn mà doanh nghiệp có và có thể huy động sẽ quyết định
đến khả năng đầu tư vào dự án kinh doanh của công ty, quyết định đến quy
mô của dự án kinh doanh hay phạm vi của dự án. Vì vậy, khi quyết định đầu
11
tư thì công ty bao giờ cũng cân nhắc tới yếu tố vốn. Thêm vào đó, quy mô
vốn cũng ảnh hưởng tới phạm vi của dự án. Vốn càng lớn thì dự án đầu tư sẽ
có phạm vi càng rộng và ngược lại nếu mà quy mô vốn nhỏ thì phạm vi hoạt
động của dự án sẽ thu hẹp từ đó mà ảnh hưởng tới sự thành công của dự án
đi trước đầu tư vào công nghệ mới để chiếm lĩnh thị trường, mở rộng thị
trường.
* Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì vốn cũng có
vai trò quyết định. Vì hoạt động sản xuất kinh doanh muốn được diễn ra thì
cần phải có máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, công nhân… Do đó, doanh
nghiệp cần có vốn để đầu tư vào những nhân tố sản xuất đó. Đồng thời vốn
cũng có vai trò quyết định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Vòng quay của vốn sẽ quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
công ty. Nếu vòng chu chuyển vốn càng ngắn thì điều đó chứng tỏ hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả. Vì vòng quay của vốn ở đây nói
lên vòng quay của sản phẩm, vốn được thu hồi càng nhanh chứng tỏ rằng sản
phẩm được sản xuất ra không bị tồn kho mà được tiêu thụ trên thị trường nhờ
đó mà vốn không bị ứ đọng mà luôn được luân chuyển, từ đó sẽ tạo ra được
nhiều doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng ngược lại khi mà vòng quay
của vốn chậm sẽ phần nào nói lên thực trạng hoạt động của doanh nghiệp,
phản ảnh những khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp khi mà sản phẩm sản xuất ra bị tồn kho không tiêu thụ được. Tuy
nhiên, vòng quay của vốn dài hay ngắn cũng tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như
lĩnh vực sản xuất kinh doanh và đặc tính của sản phẩm. Vì có nhiều lĩnh vực
hoạt động mà cần có đầu tư lớn mà vốn thu hồi có thể kéo dài qua nhiều chu
kỳ kinh doanh như ngành xây dựng… thì cần phải đầu tư nhiều mà quá trình
13
xây dựng lại diễn ra dài ngày lên vòng quay vốn của ngành sẽ dài hơn nhưng
cũng có những ngành mà trong một chu kỳ sản xuất thì vốn được chu chuyển
có thể mua được tài sản mới thì công ty cần có được một lượng vốn nhất định.
CTCP một khi muốn mua sắm thêm tài sản mới để nâng cao năng lực sản
xuất kinh doanh của công ty, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thì điều
đầu tiên là phải cân nhắc tới số lượng vốn mà doanh nghiệp hiện có và có thể
huy động để mua sắm, việc mua sắm tài sản mới này cũng như là một dự án
đầu tư. Do vậy, yếu tố vốn có vai trò quyết định đến việc đầu tư mua sắm tài
sản mới.
Việc mua sắm tài sản để thay thế các tài sản cũ hỏng không thể dùng
được nữa cũng thường được diễn ra trong mỗi doanh nghiệp. Điều này cũng
làm ảnh hưởng tới nguồn vốn của doanh nghiệp vì việc mua sắm tài sản để
thay thế này cũng cần có vốn để tiến hành.
Nói tóm lại, dù hoạt động nào trong doanh nghiệp thì cũng cần có vốn để
hoạt động, vốn có vai trò quan trọng quyết định đến mọi hoạt động trong
doanh nghiệp từ hoạt động đầu tư mua sắm tài sản mới hay là đầu tư vào một
lĩnh vực kinh doanh mới cũng như các hoạt động thường xuyên là hoạt động
sản xuất kinh doanh. Do đó huy động vốn là hoạt động hết sức quan trọng của
tất cả các doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng.
1.2. Khái niệm huy động vốn, sự cần thiết phải huy động vốn đối với
công ty cổ phần
1.2.1. Khái niệm huy động vốn của công ty cổ phần và ưu thế về huy
động vốn của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác
Theo nghĩa triết tự, huy động được hiểu là kêu gọi số đông vào một việc
cần thiết [39]. Dưới góc độ khoa học phát lý, thuật ngữ “huy động” không
được định nghĩa một cách cụ thể. Bởi lẽ khi sử dụng thuật ngữ này đã thấy rõ
được hành động và mục đích thực hiện hành vi.
15
Từ cách hiểu về CTCP và vốn của CTCP, có thể đưa ra cách hiểu khái
phú, đa dạng phù hợp với những nhu cầu đầu tư khác nhau…
* CTCP có nhiều ưu thế trong việc thu hút các nhà đầu tư
CTCP có cấu trúc vốn linh hoạt, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người đầu
tư. Cấu trúc vốn của CTCP bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay. Một đặc
điểm quan trọng trong cấu trúc vốn điều lệ của công ty là vốn điều lệ có thể
chia thành nhiều loại cổ phần có tính chất pháp lý khác nhau.
CTCP là hình thức doanh nghiệp duy nhất có quy định đặc thù về mệnh
giá cổ phần, các loại cổ phần khác nhau (bao gồm cổ phần CPPT và cổ phần
ưu đãi) và cổ phiếu quỹ [10, tr.427]. Theo LDN, CTCP phải có cổ phần
CPPT, có thể có cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần
ưu đãi cổ tức và các cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định. Mỗi
loại cổ phần đem lại lợi ích nhất định, đáp ứng yêu cầu đa dạng của nhà đầu
tư. Tùy thuộc vào tình hình tài chính, vào tâm lý của các nhà đầu tư mà họ có
sự lựa chọn khác nhau. Các cổ phần trong vốn điều lệ của CTCP đã đáp ứng
được nhu cầu đa dạng của họ. Nhà đầu tư có thể lựa chọn đơn giản và ít rủi ro
hơn là mua TP doanh nghiệp do công ty phát hành.
Ở nước ta, CTCP có thể tạo lập cơ cấu vốn vay linh hoạt với các khoản
vay có tính chất pháp lý khác nhau bằng việc phát hành TP thường, TP
chuyển đổi và các loại TP khác. Cổ phần có mệnh giá nhỏ kết hợp với tính
thanh khoản và chuyển nhượng được đã khuyến khích mọi tầng lớp dân
chúng đầu tư. Về nguyên tắc, một người sở hữu một CP trở lên có thể trở
thành cổ đông của công ty. Với mệnh giá nhỏ, CTCP đã khuyến khích mọi
tầng lớp trong xã hội góp vốn đầu tư, đặc biệt cả tầng lớp cán bộ công chức.
Tính thanh khoản của cổ phần là nói đến khả năng dễ dàng chuyển đổi thành
tiền của CP. Nhờ khả năng chuyển nhượng tự do, cổ đông có thể rút vốn ra
bất kỳ lúc nào bằng cách bán CP trên thị trường chứng khoán. Vì những lý do
17
chúng ta có thể đánh giá được trình độ phát huy nội lực của quốc gia, khai
thác tiềm năng của mọi nguồn vốn đang còn tiềm ẩn, thu gom được một
lượng tiền tương đối lớn trong nền kinh tế, giảm dần lượng tiền mặt trong lưu
thông. Từ đó, các CTCP có thể tập trung được các nguồn vốn cho đầu tư phát
triển kinh tế, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.
Như vậy, việc huy động vốn đối với CTCP là rất quan trọng nó quyết
định đến sự hoạt động suôn sẻ của công ty. Huy động vốn đem lại nguồn vốn
lớn, chủ yếu cho các CTCP tiến hành các hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn
này là cơ sở để các CTCP tổ chức mọi hoạt động sản xuất kinh doanh; quyết
định năng lực cạnh tranh của CTCP... Chính vì vậy, CTCP có thể huy động
vốn bằng nhiều hình thức khác nhau.
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của
công ty cổ phần
1.3.1. Nhân tố khách quan
- Hành lang pháp lý: Hành lang pháp lý có ảnh hưởng lớn đến hoạt động
huy động vốn của CTCP. Có những bộ luật tác động trực tiếp đến hoạt động
này như: BLDS, LDN, LCK, LĐT,... Những luật này quy định tỷ lệ huy động
vốn của CTCP so với vốn tự có, quy định các hình thức huy động vốn... Bên
cạnh những bộ luật này, chính sách tiền tệ của quốc gia cũng ảnh hưởng rất
lớn đến huy động vốn của các CTCP.
- Chính sách đầu tư của Nhà nước: Chính sách đầu tư của Nhà nước có
hợp lý hay không đều ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh không
chỉ của khách hàng mà ngay cả đối với các CTCP. Bởi vì, khi chính sách đầu
tư hợp lý sẽ tạo điều kiện cho sản xuất phát triển dẫn đến các CTCP có môi
trường đầu tư thuận lợi và đòi hỏi các CTCP phải tìm mọi cách để mở rộng
hoạt động huy động vốn của mình.