Địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước dưới góc độ so sánh giữa pháp luật lào và việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

SENGDEUANE VANSILALOM

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH GIỮA PHÁP LUẬT
LÀO VÀ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành

: Luật Kinh tế

Mã số

: 60.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ THỊ HỒNG VÂN

HÀ NỘI- NĂM 2016


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường
Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa
Luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường.


: Cộng hòa dân chủ nhân dân

DN

: Doanh nghiệp

DNNN

: Doanh nghiệp nhà nước

Đảng NDCM Lào

: Đảng nhân dân cách mạng Lào

HĐQT

: Hội đồng quản trị

HĐTV

: Hội đồng thành viên

KTTT

: Kinh tế Thị trường

NSNN

: Ngân sách nhà nước

5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn................................................................ 3
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn ........................... 3
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ..................................................... 4
8. Bố cục (các chương) của luận văn .................................................................... 4
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC .......................................... 5

1.1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhà nước ...................................... 5
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước ................................... 5
1.1.2. Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của doanh nghiệp nhà nước ........ 10
1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung và các yếu tố chi phối đến địa vị pháp lý
của doanh nghiệp nhà nước............................................................................. 16
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung về địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà
nước ............................................................................................................... 16
1.2.2. Các yếu tố chi phối đến địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà nước ....... 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ....................................................................................... 26

CHƯƠNG 2. SO SÁNH ĐỊA CÁC QUY ĐỊNH VỀ VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP HIỆN HÀNH CỦA
LÀO VÀ VIỆT NAM ............................................................................................. 27

2.1. Về thành lập doanh nghiệp nhà nước ...................................................... 27
2.1.1. Về điều kiện để thành lập doanh nghiệp Nhà nước ............................... 27
2.1.2. Về thủ tục thành lập doanh nghiệp Nhà nước ........................................ 29
2.1.3. Quy định về đăng ký kinh doanh DNNN .............................................. 36
2.2. Về cơ cấu, tổ chức và quản lý doanh nghiệp nhà nước ................................ 39
2.2.1. Về điểm giống nhau .............................................................................. 39
2.2.2. Về điểm khác nhau ................................................................................. 40
2.3. Về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhà nước ...................................... 50
2.3.1. Quyền tổ chức, quản lý tổ chức kinh doanh .......................................... 50

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Với quyết tâm xây dựng nền hàng hóa nhiều thành phần, định hướng XHCN có
đặc trưng là đa dạng hóa các loại hình sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò
chủ đạo được Đại hội lần thứ V Đảng NDCM Lào năm 1986 đưa ra nền kinh tế - xã
hội Lào đã chuyển mình mạnh mẽ. Sau hơn 20 năm thực hiện chủ trương này, nền
kinh tế Lào đã có nhiều thay đổi vượt bậc, từ một nền kinh tế tập trung, quan liên bao
cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; kinh tế nhà nước giữ vị trí chủ
đạo, là công cụ điều tiết và quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô; vị trí và vai trò của các thành
phần kinh tế thuộc khu vực kinh tế tư nhân được khẳng định và không ngừng đóng
góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước CHDCND Lào.
Từ thực tiễn xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
định hướng XHCN của nước CHDCND Lào thời gian qua đã cho thấy: Các doanh
nghiệp nhà nước hiện nay đang nắm giữ những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế,
đóng góp tỷ lệ không nhỏ vào ngân sách quốc gia, tạo công ăn việc làm cho nhiều
người lao động. Các doanh nghiệp này, ngoài việc hướng tới mục tiêu lợi nhuận, còn
thể hiện vai trò trong việc phục vụ lợi ích công cộng, điều tiết nền kinh tế vĩ mô, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần đưa nền kinh tế Lào phát triển theo định hướng đã
đề ra. Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng này mà việc quy định về địa vị pháp lý
của doanh nghiệp nhà nước được đặt ra đối với khoa học pháp lý nước CHDCND Lào.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của DNNN, xuất phát từ
những nguyên nhân chủ quan và khách quan, vẫn chưa được chú trọng.
Từ thực tiễn cấp thiết trên và vốn kiến thức có được trong quá trình học tập,
làm việc, tác giả nhận thấy cần tiếp tục nghiên cứu về địa vị pháp lý của DNNN, trên
cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, trong đó có Việt Nam. Đó cũng chính là
lý do mà tác giả chọn đề tài: “Địa vị pháp lý của Doanh nghiệp nhà nước dưới góc độ
so sánh pháp luật của Lào và Việt Nam” để hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật
học tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của DNNN không phải là vấn đề
mới, có thể kể đến một số công trình sau: Cao Đăng Vân (1997), Một số vấn đề về địa

Haophommaseng (2013), Tổ chức quản lý công ty nhà nước theo pháp luật Cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào, Luận văn thạc sĩ luật học; Si Vi Xay Pa San Phonne (2009),
Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật của nước Cộng hoà dân chủ
nhân dân Lào - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học,
Hà Nội. Những công trình này mới chỉ đề cập đến khía cạnh nhỏ của địa vị pháp lý
DNNN ở Lào.
Đặc biệt, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu, so sánh một cách
toàn diện về địa vị pháp lý của DNNN ở Lào và Việt Nam. Chính vì vậy, việc nghiên
cứu về địa vị pháp lý của DNNN dưới góc độ so sánh giữa pháp luật Lào và pháp luật
Việt Nam vẫn còn là một lỗ hổng khoa học lớn, cần các nhà nghiên cứu pháp lý tiếp
tục khai thác, nghiên cứu và luận văn này với việc nghiên cứu tổng thể về cả pháp luật
và thực thực thi pháp luật về địa vị pháp lý của DNNN dưới góc độ so sánh giữa các
quy định pháp luật hiện hành của CHDCND Lào và nước CHXHCN Việt Nam với hy
vọng sẽ lấp đầy lỗ hổng khoa học pháp lý đó.


3

3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật hiện hành của
CHDCND Lào và nước CHXHCN Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp nhà
nước dưới góc độ luật học so sánh.
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của
pháp luật Việt Nam và pháp luật Lào trong mối tương quan so sánh các quy định về
địa vị pháp lý DNNN, trong đó, trọng tâm là nghiên cứu các quy định của Luật Doanh
nghiệp 2014 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành của Việt Nam và Luật
Doanh nghiệp 2013 của Lào. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ rõ những khác biệt cơ bản
trong quy định của pháp luật Việt Nam về loại hình Doanh nghiệp này này để rút ra
bài học kinh nghiệm cho Lào trong quá trình hoàn thiện pháp luật liên quan tới thành
phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân này.

Lào. Phương pháp so sánh để so sánh quy định pháp luật về địa vị pháp lý về DNNN
của Lào với Việt Nam. Bên cạnh đó còn là các phương pháp như: Phương pháp phân
tích để phân tích, đánh giá các quy định pháp luật; phương pháp tổng hợp để tổng hợp
các kết quả của thực tiễn thi hành pháp luật; phương pháp diễn giải - quy nạp để trình
bày các nội dung cụ thể.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở kế thừa những nội dung nghiên cứu về địa vị pháp lý của DNNN
của pháp luật Việt Nam và Lào, Luận văn đã triển khai nghiên cứu so sánh về địa vị
phá lý của DNNN theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam và đưa ra được
những đóng góp mới như sau:
- Luận văn đã tìm hiểu và khái lược được quá trình hình thành, phát triển của
pháp luật về DNNN trên bình diện thế giới và Lào, đây là tiền đề cơ sở cho nội dung
quy định pháp luật về địa vị pháp lý DNNN ở Lào.
- Luận văn đã triển khai nghiên cứu và đưa ra cái nhìn sâu sắc về những điểm
tương đồng và khác biệt trong các quy định của pháp luật hiện hành giữa hai nước về
địa vị pháp lý DNNN trên các phương diện: Thành lập DNNN; Cơ cấu, tổ chức và quản
lý DNNN; Quyền và nghĩa vụ của DNNN; Tổ chức lại, giải thể, phá sản DNNN. Đây là
công trình nghiên cứu địa vị pháp lý của DNNN dưới góc nhìn luật học so sánh, nhưng vẫn
đảm bảo việc nghiên cứu địa vị pháp lý của DNNN một cách toàn diện nhất.
- Luận văn đã rút ra những bài học kinh nghiệm từ việc so sánh địa vị pháp lý của
DNNN theo pháp luật hiện hành giữa hai nước. Từ đó, luận văn đã xác định được những
định hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của DNNN theo quan điểm của Đảng và Nhà nước
Lào. Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra được một số giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý
của DNNN ở nước CHDCND Lào.
Đây là những đóng góp mới của luận văn mà chưa có một công trình khoa học
nào làm được.
8. Bố cục (các chương) của luận văn
Bên cạnh phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo. Để bảo
đảm về kết cấu, tính hợp lý, liên tục của nội dung, luận văn được chia làm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Doanh nghiệp Nhà nước và địa vị pháp lý

nghiệp trong đó Nhà nước chỉ có thể sở hữu phần vốn khống chế nào đó mà thôi. Vậy
thực chất DNNN là gì? Có thể hiểu DNNN là những cơ sở kinh tế (sản xuất, kinh doanh
hàng hóa; cung ứng dịch vụ) do Nhà nước sở hữu hoàn toàn hoặc sở hữu một phần đủ để
chi phối trong quản lý, điều hành. Như vậy, quyền sở hữu là yếu tố quyết định để phân
biệt DNNN với các doanh nghiệp khác ở khu vực kinh tế tư nhân. Nhưng DNNN không
phải là cơ quan hành chính nhà nước, bởi DNNN được thành lập là để hoạt động vì mục
đích lợi nhuận hay vì mục tiêu chính trị - xã hội khác. Ngoài ra, quyền chi phối về quản
lý, điều hành của Nhà nước trong DNNN là đặc điểm để phân biệt loại hình doanh nghiệp
này với các loại hình doanh nghiệp khác mà Nhà nước chỉ góp một lượng vốn nhỏ không
đủ để chi phối, điều hành doanh nghiệp đó.
Trong một báo cáo của Đại hội đồng Liên hợp quốc được đưa ra vào năm 1985,
đã định nghĩa về DNNN như sau: “Doanh nghiệp nhà nước là những doanh nghiệp do
Nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và Nhà nước kiểm soát tới một mức độ
1

Si Vi Xay Pa San Phonne (2009), Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật của nước Cộng hoà
dân chủ nhân dân Lào - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật
Hà Nội, Hà Nội., tr.8.


6

nhất định quá trình ra quyết định của doanh nghiệp”. Ở định nghĩa này, Liên hợp
quốc đã sử dụng hai tiêu chí để định nghĩa về DNNN đó là: (i) Tiêu chí về sở hữu của
Nhà nước trong doanh nghiệp đó là sở toàn phần hoặc một phần; (ii) Tiêu chí về sự
kiểm soát hay nói cách khác là Nhà nước có vị trí quyết định trong quá trình quản lý,
điều hành doanh nghiệp đó2. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau trong việc sử
dụng các tiêu chí để định nghĩa về DNNN. Có quốc gia lựa chọn tiêu chí về mục đích,
hình thức; có quốc gia lại lựa chọn tiêu chí về lý do thành lập, cơ cấu tổ chức; có quốc gia
lại lựa chọn tiêu chí quyền sở hữu của Nhà nước để định nghĩa về DNNN.

Daochay Haophommaseng (2013), Tổ chức quản lý công ty nhà nước theo pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 7-8.


7

Ở Việt Nam, định nghĩa về DNNN được quy định trong Điều 1 Luật số
14/2003/QH11 ngày 26/11/ 2003 về DNNN: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh
tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối; được tổ
chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”.
Tuy nhiên, đến Luật số 68/2014/QH13 ngày 26/ 11/ 2014 về doanh nghiệp thì định
nghĩa DNNN được xây dựng đơn giản hơn. Tại khoản 8 Điều 4 Luật này quy định:
“Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”. Sự
thay đổi ở đây là DNNN ở Việt Nam là doanh nghiệp do Nhà nước nắm 100% vốn điều
lệ, chứ không còn là doanh nghiệp do mà Nhà nước có cổ phần, vốn góp chi phối. Ngoài
ra, trong định nghĩa mới này cũng không liệt kê các hình thức tồn tại của DNNN như
Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003.
Như vậy, so với định nghĩa về DNNN trong Luật Doanh nghiệp Lào 2013 thì
định nghĩa về DNNN của pháp luật Việt Nam cũng sử dụng tiêu chí về quyền sở hữu
của Nhà nước để định nghĩa về DNNN. Tuy nhiên, định nghĩa về DNNN theo pháp luật
hiện hành của Việt Nam chỉ thừa nhận là DNNN khi Nhà nước năm 100% vốn điều lệ
trong doanh nghiệp đó. Trong khi đó, pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào coi
DNNN là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm từ trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp
đó. Ngoài ra, định nghĩa về DNNN của cả hai quốc gia đều không đề cập đến các vấn đề
về mục đích hoạt động, lý do thành lập, quyền quản lý và điều hành của Nhà nước trong
DNNN do hai định nghĩa này chỉ sử dụng tiêu chí về sở hữu vốn của Nhà nước để định
nghĩa về DNNN4.
Như vậy, ta có thể hiểu DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ
vốn điều lệ hoặc toàn bộ số cổ phần, được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH. Đây
là một điểm mới trong quy định pháp luật DNNN so với Luật DNNN 2003. Ở Luật

thành lập thì Nhà nước sẽ nắm 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó. Đối với các
liên doanh thì Nhà nước sẽ góp vốn bằng cách mua cổ phần, góp vốn chi phối trên
50% vốn điều lệ để nắm quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp đó. Do vậy, đây vẫn
được xếp vào loại hình DNNN theo quy định của pháp luật nước CHDCND Lào. Đây
là đặc điểm nổi bật giúp phân biệt DNNN với các doanh nghiệp khác theo quy định
của pháp luật doanh nghiệp hiện hành của nước CHDCND Lào hiện nay5.
Thứ ba, về phương thức quản lý – thông qua người đại diện vốn. DNNN
theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2013 nước CHDCND Lào có đặc điểm là Nhà
nước thông qua các đại diện của mình, có thể là tổ chức hoặc cá nhân do Nhà nước chỉ
định làm đại diện sẽ thay mặt Nhà nước trong DNNN đó để nắm quyền quyết định,
quyền chi phối hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh của DNNN đó. Đó là quyền
quyết định trong các vấn đề như: Tăng, giảm vốn điều lệ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi
nhiệm các chức danh quan trọng của DNNN; quyền tổ chức quản lý; quyền đưa ra các
quyết định liên quan đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh của DNNN6.
Thứ tư, về tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản của DNNN. Theo quy định
của Luật Doanh nghiệp 2013 nước CHDCND Lào thì DNNN có tư cách pháp nhân.
Tức là, DNNN có thể nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật. DNNN có tài
sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình - chế độ chịu trách
nhiệm hữu hạn. Ngoài ra, DNNN thực hiện chế độ hoạch toán độc lập, lấy thu bù chi.
Tất cả những nội dung trên đều thể hiện một đặc điểm là DNNN có tư cách độc lập và
độc lập về kinh tế đối với Nhà nước.

5

Daochay Haophommaseng (2013), Tổ chức quản lý công ty nhà nước theo pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 9.
6
Hữu Hạnh (1998), Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - Những vấn đề đặt ra, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr. 10.


- Thứ ba, theo quy mô của DNNN. Dựa vào các tiêu chí như số vốn điều lệ,
doanh số kinh doanh, số lượng lao động, DNNN được chia thành: DNNN có quy mô
lớn, DNNN có quy vừa và DNNN có quy mô nhỏ.
- Thứ tư, dựa vào ngành nghề và tính chất sản phẩm. Dựa vào tiêu chí này,
DNNN được chia thành: DNNN là doanh nghiệp sản xuất hàng hóa; DNNN là doanh
nghiệp cung ứng dịch vụ; DNNN hỗn hợp, tức là vừa sản xuất hàng hóa vừa cung ứng
dịch vụ.
7

Đặng Hồng Hoa (2007), Cổ phần hóa công ty nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt
nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 17.


10

* Các hình thức tổ chức DNNN
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2013 nước CHDCND Lào thì DNNN
tồn tại dưới các hình thức tổ chức như: Công ty cổ phần nhà nước, Công ty TNHH nhà
nước một thành viên, Công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên.
- Công ty cổ phần nhà nước. Hiện tại, pháp luật nước CHDCND Lào hiện hành
chưa có định nghĩa về Công ty cổ phần nhà nước. Do vậy, dựa theo khái niệm về Công
ty cổ phần của Luật Doanh nghiệp 2013 nước CHDCND Lào và đặc điểm của DNNN,
có thể định nghĩa về Công ty cổ phần nhà nước như sau: Công ty cổ phần nhà nước là
công ty mà cổ đông bao gồm Nhà nước, các cá nhân, tổ chức khác. Trong đó, Nhà
nước nắm phần lớn cổ phần của công ty, cũng như nắm quyền quản lý và điều hành
công ty8.
- Công ty TNHH nhà nước một thành viên. Cũng như Công ty cổ phần nhà nước
thì Công ty TNHH nhà nước một thành viên chưa được định nghĩa. Dựa vào quy định
của Luật Doanh nghiệp 2013 về Công ty TNHH một thành viên có thể định nghĩa về
Công ty TNHH nhà nước một thành viên như sau: Công ty TNHH do Nhà nước nắm

46%, Vương quốc Anh là 9,3%, Pháp là 12,1%, Nhật Bản là 10,7%, Thái Lan là
20,3%.... Khác với những loại hình doanh nghiệp ở khu vực kinh tế tư nhân, việc phát
triển DNNN gần như không phụ thuộc vào các quy luật kinh tế khách quan mà nó phụ
thuộc rất lớn vào đường lối chính trị, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một
quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể. Do đó, không thể lấy tiêu chí về lợi ích kinh tế để
làm thước đo cho hiệu quả hoạt động của DNNN9.
Trong quá trình phát triển của khu vực kinh tế nhà nước ở các quốc gia trên thế
giới trong thời gian gần đây, thì vị trí và vai trò của DNNN đang dần dần được củng
cố. Sự củng cố này không đến từ việc gia tăng số lượng DNNN trong nền kinh tế quốc
gia mà từ hiệu quả hoạt động của DNNN sau quá trình cổ phần hóa DNNN. Do vậy,
có thể chia quá trình hình thành và phát triển của DNNN trên bình diện thế giới thành
hai giai đoạn như sau: (i) Giai đoạn các DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân về cả số lượng và hiệu quả hoạt động; (ii) Giai đoạn các DNNN hoạt động
hiệu quả sau quá trình cổ phần hóa DNNN.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc là một sự kiện đánh dấu một bước chuyển
mới trong quá trình hình thành và phát triển của DNNN ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Một trong những sự thay đổi đó là các DNNN từ hoạt động không hiệu quả, phục vụ
chủ yếu cho Nhà nước chuyển sang hoạt động hiệu quả, đáp ứng các nhu cầu của xã hội
dân sự, bên cạnh đó DNNN vẫn thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội của Nhà nước.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, xu hướng cổ phần hóa, tư nhân hóa
DNNN ở các quốc gia diễn ra ngày càng mạnh mẽ, với nội dung chính là tăng cường
cơ chế thị trường vào quản lý, điều hành và hoạt động của các DNNN. Tuy đây là một
xu hướng mang tính khách quan nhưng nó không loại bỏ DNNN ra khỏi đời sống kinh
tế - xã hội của quốc gia. Ở các nước tư bản phát triển hiện nay, mặc dù tỉ trọng và số
lượng các DNNN không còn nhiều nhưng DNNN vẫn tồn tại một cách khách quan
trong các loại hình doanh nghiệp, cũng như đóng góp một phần đáng kể cho GDP
cũng như thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế - xã hội của Nhà nước. Đối với các
quốc gia đang phát triển, thì DNNN lại có một vị trí hết sức quan trọng, bởi lẽ các
DNNN vẫn nắm trong tay hầu hết các lĩnh vực kinh tế then chốt trong nền kinh tế quốc
dân như: Khai thác khoáng sản, năng lượng, nhiên liệu, cơ khí chế tạo… Hoạt động

năng đó.
- Hai là, xuất phát từ tư tưởng chính trị của một số quốc gia trên thế giới. Ở các
quốc gia đa Đảng, khi một Đảng nào đó lên nắm quyền điều hành đất nước thì luôn có
tư tưởng tăng cường vai trò của Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong
đó có lĩnh vực kinh tế. Chính điều này đã làm cho DNNN tồn tại và phát triển nhanh.
- Ba là, một số các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia sau khi giành được độc lập
đã được thừa hưởng một cơ sở vật chất của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc để
lại và các quốc gia này tiến hành quốc hữu hóa để bảo vệ lợi ích đó cho Nhà nước.
Hơn nữa, các nước theo mô hình XHCN luôn có xu hướng tăng cường vai trò của Nhà
nước vào nền kinh tế nên các DNNN ở các quốc gia này phát triển rất nhanh.
- Bốn là, với tiềm năng vốn lớn được hỗ trợ từ Nhà nước, DNNN có nhiều lợi
thế trong các lĩnh vực, đặc biệt là ứng dụng khoa học - kỹ thuật, công nghệ vào sản
xuất, kinh doanh. Ở các nước đang phát triển thì việc thành lập các DNNN đôi khi vì
mục đích để ứng dụng khoa học - kỹ thuật, công nghệ, điều mà các loại hình doanh
nghiệp khu vực kinh tế tư nhân không đủ tiềm lực để thực hiện. Đây cũng chính là một
trong những lý do khiến DNNN gia tăng một cách nhanh chóng.
10

Hoàng Đức Thảo (1993), Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước- kinh nghiệm thế giới, Nxb. Thống kê, Hà Nội,
tr. 20.


13

Như vậy, dù ở bất cứ thời điểm nào thì khu vực kinh tế nhà nước, DNNN vẫn
tồn tại và phát triển một cách khách quan trong nền kinh tế của các quốc gia trên thế
giới. Bên cạnh việc thực hiện chức năng kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, các DNNN
đã và đang đóng góp rất nhiều cho việc hoàn thành các mục tiêu chính trị, kinh tế - xã
hội của Nhà nước.
1.1.2.2. Quá trình thành, phát triển và vai trò của doanh nghiệp nhà nước ở

Sengnilack Kongchai (chủ biên, 2003), Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào, Nxb. Viêng Chăn, tr. 22-23.


14

việc thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế - xã hội của Nhà nước thì DNNN cũng
hoạt động vì mục đích lợi nhuận như các doanh nghiệp ngoài quốc doanh khác.
Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường định hướng XHCN thì Đảng và Nhà nước Lào đã thừa nhận sự tồn
tại và phát triển công bằng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa khu vực kinh
tế nhà nước với khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, trong quá trình đó, khu vực kinh
tế nhà nước cần phải được củng cố và phát triển trong những lĩnh vực then chốt, cần
có sự can thiệp sâu của Nhà nước. Có như vậy, khu vực kinh tế nhà nước, DNNN ở
nước CHDCND Lào mới tạo điều kiện và cơ hội cho khu vực kinh tế tư nhân ở nước
CHDCND Lào phát triển nhanh và bền vững.
Trong khu vực kinh tế nhà nước ở Lào như hiện nay, DNNN vẫn được Đảng và
Nhà nước Lào xác định là loại hình doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế
quốc dân. Do vậy, để tiếp tục phát triển DNNN, chủ trương của Đảng và Nhà nước
Lào là: “Doanh nghiệp nhà nước phải được củng cố, đổi mới và phát triển, nâng cao
hiệu quả để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế”.
Như vậy, DNNN vẫn giữ vai trò là thiết chế cần thiết để Nhà nước Lào điều tiết
nền kinh tế vĩ mô, khẳng định vì trí, vai trò và chức năng của Nhà nước Lào trong
quản lý trong nền kinh tế thị trường. Đây vừa là vai trò, vừa là yêu cầu cho sự phát
triển chính trị, kinh tế - xã hội ở nước CHDCND Lào hiện nay. Bởi lẽ, việc phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở CHDCND Lào sẽ có những hạn chế, khó
khăn của nền kinh tế thị trường, mà muốn khắc phục thì phải có sự tham gia mạnh mẽ
và tích cực của Nhà nước.
Do đó, DNNN bên cạnh các hoạt động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận còn
phục vụ cho các mục tiêu của Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội.

quốc gia đều phải thực hiện đó là giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội, nhiệm vụ này
không phát sinh lợi nhuận nên các thành phần kinh tế tư nhân không muốn tham gia
vào. Do vậy, các DNNN ở nước CHDCND Lào ra đời để thực hiện nhiệm vụ đó và thể
hiện sứ mệnh trong lĩnh vực này.
Bốn là, các DNNN với tiềm vực vốn lớn, nắm giữ những lĩnh vực kinh tế then
chốt cộng với đi đầu trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở nước CHDCND Lào và
bước đầu thu được những hiệu quả trong kinh doanh là điều kiện để thu hút đầu tư vào
phát triển kinh tế - xã hội ở Lào.
Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo kinh tế thị trường, nhưng trong nền kinh tế
thị trường đó, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, điều tiết nền kinh tế quốc dân
và DNNN là thiết chế quan trọng để Nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân. Đây là
một trong những vai trò xuyên suốt trong quá trình tồn tại và phát triển của khu vực
kinh tế nhà nước và DNNN ở Lào.
Để phát huy được vai trò của mình, DNNN ở nước CHDCND Lào phải thực
hiện các nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, DNNN có nhiệm vụ nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm tài
nguyên, nguyên, nhiên liệu, giảm chi phí sản xuất. Đóng góp của DNNN là cơ sở để
Nhà nước tích lũy và tái đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội trong nền kinh tế
đóng12.

12

Trần Văn Thành (2006), Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào- 20 năm xây dựng và phát triển, Nxb. Viêng Chăn,
Viêng Chăn, tr 15.


16

Thứ hai, DNNN phải sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn nhà nước, thu

vị pháp lý của DNNN là tổng hợp những quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm mà pháp
luật xác định cho nó phù hợp với vị trí vai trò và chức năng mà nó được Nhà nước
giao phó trong quá trình tái sản xuất nền kinh tế quốc dân và những quyền hạn, nghĩa
vụ, trách nhiệm mà nó tự đảm nhận trên cơ sở tận dụng những khả năng mà pháp luật
cho phép khi tham gia vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động. Nhưng dù


17

là quan điểm nào cũng chỉ phản ánh được một phần khái niệm địa vị pháp lý của
doanh nghiệp.
Nói đến địa vị pháp lý của doanh nghiệp là nói đến việc xác định vị trí pháp lý
của các công ty trong hệ thống các doanh nghiệp của nền kinh tế. Xác định địa vị pháp
lý của một doanh nghiệp là xác định năng lực pháp lý và năng lực hành vi của công ty
để trên cơ sở đó công ty có thể tham gia độc lập vào các quan hệ pháp luật. Điều đó
cũng có nghĩa là, địa vị pháp lý của doanh nghiệp là toàn bộ các quy định của pháp
luật về sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp.
Từ định nghĩa về địa vị pháp lý của doanh nghiệp, có thể thấy, địa vị pháp lý của
doanh nghiệp nhà nước là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định sự tồn tại và
hoạt động của doanh nghiệp nhà nước13.
Trải qua các cơ chế quản lý kinh tế khác nhau dẫn tới địa vị pháp lý của DNNN
cũng khác nhau. Giữa cơ chế kinh tế và cơ chế pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh
tế bao giờ cũng tồn tại mối quan hệ biện chứng và lệ thuộc. Sự thay đổi địa vị pháp lý
của DNNN trước hết xuất phát từ sự thay đổi về quan điểm của Đảng và Nhà nước về
vị trí, vai trò của DNNN trong nền kinh tế quốc dân. Từ những quan điểm về vị trí, vai
trò của DNNN dẫn đến những thay đổi về hệ thống thẩm quyền, về quy định dẫn tới sự
ra đời hay chấm sứt của DNNN.
1.2.1.2. Các nội dung cấu thành địa vị pháp lý của Doanh nghiệp nhà nước
Từ định nghĩa chung về địa vị pháp lý của doanh nghiệp, có thể chia địa vị pháp
lý của Doanh nghiệp làm 3 bộ phận:

thể DNNN;
Những quy định thể hiện cơ cấu, tổ chức, quản lý cuả DNNN. Cơ cấu tổ chức,
quản lý DNNN xuất phát từ chính vai trò, đặc điểm của DNNN trong nền kinh tế quốc
dân, đòi hỏi DNNN phải có một câu cơ tổ chức quản lý phù hợp để thực hiện hiệu quả
các nhiệm vụ, mục tiêu đã đề ra;
Bộ phận chủ yếu trong địa vị pháp lý của DNNN là hệ thống quyền và nghĩa vụ
của DNNN. Bao gồm: Các quyền và nghĩa vụ về quyền về tổ chức, quản lý tổ chức
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; Các quyền và nghĩa vụ trong việc sử dụng,
quản lý tài sản Nhà nước; Các quyền và nghĩa vụ trong việc phân phối lợi nhuận; Các
quyền và nghĩa vụ trong việc công bố thông tin
Hệ thống quyền và nghĩa vụ của DNNN chịu ảnh hưởng quan điểm của Đảng và
Nhà nước đối với DNNN trong mỗi thời kỳ và đặc biệt chịu sự tác động rất lớn của cơ
chế thực hiện quyền sở hữu Nhà nước đối với tài sản của Doanh nghiệp. Một loại các
quy định pháp lý về quyền chủ sở hữu Nhà nước đối với Doanh nghiệp bao gồm các
quyền: Thành lập, sáp nhập, chia tách, chuyển đổi chủ sỡ hữu DNNN, quy định về
mục tiêu, chiến lược phát triển, định hướng kế hoạch phát triển kinh doanh của
DNNN, quyền quy định các định mức chi phí, tiêu chuẩn định mức kỹ thuật, đơn giá,
tiền lương. Địa vị pháp lý của DNNN còn bao gồm các quy định pháp luật về việc
thành lập, giải thể, phá sản doanh ngihệp. Do cơ chế quan lý nhà nước đối với DNNN
và vị trí, chức năng của DNNN khác các loại hình doanh nghiệp khác nên các quy định
này cũng có điểm đặc trưng riêng biệt. Những điểm khác biệt đó sẽ phân tích trong các
phần sau.
Các quy phạm pháp luật về địa vị pháp lý của DNNN trên đây thay đổi qua các
thời kỳ phát triển kinh tế khác nhau ở nước ta và ngày càng được hoàn thiện dần theo
hướng: Ngày càng xác định rõ mối quan hệ giữa tính tự chủ độc lập của DNNN và
những tác động quản lý của Nhà nước với tư cách quản lý Nhà nước và tư cách chủ sở
hữu, đồng thời ngày càng xác định rõ tư cách pháp lý bình đẳng giữa DNNN kinh
doanh với các loại hình doanh nghiệp khác trong cơ chế thị trường.



* Về mặt lý luận
Tất cả các lý thuyết hiện đại về hệ thống kinh tế thị trường đều coi sự có mặt của
khu vực các DNNN cần thiết trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước,
Nhà nước là chủ thể đại diện cho sự vững bền và ổn định của một quốc gia có chức
năng hoạch định “luật chơi” cho toàn hệ thống. Thực hiện chức năng này, ngoài việc
ra các chính sách, thể lệ về thuế, về nguyên tắc cạnh tranh các điều kiện làm ăn… Nhà
nước còn ban hành những chính sách khuyến khích hoặc hạn chế nhằm định hướng
các doanh nghiệp thực hiện chính sách cơ cấu và thực hiện mục tiêu chiến lược của hệ
thống. Mặt khác, Nhà nước với tư cách là chủ thể chính đại diện cho lợi ích toàn xã



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status