BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
___________
ĐINH THỊ THUỶ TIÊN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU CỔ PHẦN HOÁ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHAN MỸ HẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2008
MỤC LỤC
• Danh mục các từ viết tắt
• Danh mục bảng biểu và Sơ đồ
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CỔ PHẦN
HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan về Công ty cổ phần và cổ phần hoá DNNN . . . . . . . . . . . .
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và cơ chế hoạt động của Công ty cổ phần
1.1.2 Cổ phần hoá DNNN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1.2 Cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1.2.1 Sự cần thiết phải cổ phần hoá DNNN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1.2.2 Mục tiêu cổ phần hoá DNNN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1.2.3 Quy trình chuyển DNNN thành Công ty cổ phần . . . . . . . . . . .
1.2.4 Các cam kết có liên quan đến DNNN và CPH DNNN . . . . . . .
1.2.5 Các vấn đề về tài chính khi cổ phần hoá DNNN . . . . . . . . . . .
1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN sau CPH . . . .
1.3.1 Vấn đề chi phí đại diện . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của DN sau CPH
Kết luận chương 1. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2.1.2 Thực trạng hoạt động DNNN sau CPH . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2.2 Các vấn đề về tài chính của DNNN trước CPH trên địa bàn . . . . . . . . .
2.2.1 Xử lý tài chính trước CPH . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2.2.2 Xác định giá trị doanh nghiệp . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2.2.3 Xây dựng phương án cổ phần hóa. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2.2.4 Tổ chức bán cổ phần lần đầu ra công chúng .. . . . . . . . . . . . . .
2.2.5 Một số hạn chế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2.3 Phân tích đánh giá thực trạng tài chính DNNN sau CPH trên địa bàn .
2.3.1 Về huy động vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh. . .
2.3.2 Về sử dụng hiệu quả vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp . .
2.3.3 Về bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và
người lao động . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
2.3.4 Về phân phối lợi nhuận . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Kết luận chương 2 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ TÀI CHÍNH ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SAU
CỔ PHẦN HOÁ
3.1 Những giải pháp cần thực hiện trước khi cổ phần hóa . . . . . . . . . . . . . .
3.1.1 Hoàn thiện công tác xác định giá trị doanh nghiệp . . . . . . . . . .
3.1.2 Tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược . . . . . . . . . . . . . . . . . .
3.1.3 Các DNNN cần mạnh dạn sắp xếp lao động . . . . . . . . . . . . . . .
3.1.4 Xác định vốn điều lệ, tỷ trọng vốn nhà nước tham gia tại các
công ty cổ phần và thời hạn họat động của công ty cổ phần . . . . . . . . . . . .
3.1.5 Tổ chức bán cổ phần lần đầu ra công chúng. . . . . . . . . . . . . . .
3.2 Những giải pháp cần thực hiện sau khi cổ phần hóa . . . . . . . . . . . . . . .
34
42
43
44
45
72
73
75
76
76
77
78 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CPH: Cổ phần hoá
BKS: Ban Kiểm soát
DT: Doanh thu
DN: Doanh nghiệp
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
GĐ: Giám đốc
HĐQT: Hội đồng Quản trị
KTPL: Khen thưởng phúc lợi
LNST: Lợi nhuận sau thuế
NN: Nhà nước
SSKT: Sổ sách kế toán
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ Sơ đồ 1.1: Sơ đồ Cơ chế hoạt động của Công ty cổ phần . . . . . . . . . . .
Đồ thị 2.1: Kết quả huy động vốn trong quá trình hoạt động. . . . . . . . . 11
56
MỞ ĐẦU
Thực hiện đổi mới toàn diện để phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc
tế được Đại hội Đảng VI (1986) khởi xướng - phương thức mà chính phủ áp dụng
mạnh hiện nay là CPH DNNN. Xuất phát điểm của chủ trương này là việc phải làm
sao để những DNNN có “chủ thật sự ”, gắn chặt quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.
Chính phủ chủ trương thực hiện chuyển đổi các Doanh nghiệp thuộc sở hữu 100%
của nhà nước sang hình thức công ty cổ phần.
Ngày 24/9/2001 Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
IX ban hành Nghị quyết số 05 “Về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng
cao hiệu quả DNNN ”, nghị quyết đề ra: “ Mục tiêu cổ phần hoá DNNN là nhằm
tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao
động để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và huy động thêm vốn xã
hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý
năng động, có hiệu quả cho DNNN; phát huy vai trò làm chủ thật sự của người lao
động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp; bảo
đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động”.
Chương 1:
Tổng quan về Công ty cổ phần và cổ phần hoá DNNN .
Chương 2:
Thực trạng công tác cổ phần hoá và các vấn đề về tài chính của DNNN trước
và sau cổ phần hóa trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
Chương 3:
Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN sau cổ phần
hoá trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
1
Chương 1 :
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
VÀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan về Công ty cổ phần và cổ phần hóa DNNN:
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và cơ chế hoạt động của Công ty cổ phần:
* Sự ra đời của Công ty cổ phần là tất yếu khách quan:
Quá trình xã hội hóa tư bản đòi hỏi sự tăng cường tích tụ và tập trung tư
bản ngày càng cao. Thường chỉ những nhà tư bản lớn có quy mô sản xuất ở mức
độ nhất định mới có đủ khả năng để trang bị kỹ thuật hiện đại, làm cho năng suất
lao động tăng lên, do đó mới có thể giành thắng lợi trong cạnh tranh. Những nhà
tư bản có giá trị hàng hóa cá biệt cao hơn mức giá trị hàng hoá xã hội thì sẽ bị
thua lỗ và phá sản. Hơn nữa, sự ra đời và phát triển của nền đại công nghiệp cơ
khí, của tiến bộ khoa học kỹ thuật đòi hỏi tư bản cố định phải tăng lên, quy mô
tối thiểu mà một nhà tư bản phải có để có thể kinh doanh dù trong điều kiện bình
thường cũng ngày càng lớn hơn. Để tránh những kết cục bi thảm có thể xảy ra
trong cạnh tranh, các nhà tư bản vừa và nhỏ phải tự tích tụ vốn để mở rộng quy
mô sản xuất và hiện đại hoá trang thiết bị , tạo điều kiện nâng cao năng suất lao
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lượng tối đa;
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; 3
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được
chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác.
2.Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày đăng ký kinh doanh.
3. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn.
* Đặc điểm Công ty cổ phần:
- Công ty cổ phần là công ty đối vốn. Vốn được tạo thành bởi nhiều phần
vốn góp và được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ phần được
xác định thông qua một loại chứng khoán gọi là cổ phiếu. Lợi tức được chia định
kỳ từ cổ phiếu gọi là cổ tức.
Theo Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2005 của Việt Nam, các loại cổ phần
bao gồm:
- Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ
thông là cổ đông phổ thông.
- Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại
sau: cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại,
cổ phần ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định. Trong các loại cổ phần ưu đãi
trên thì cổ phần ưu đãi biểu quyết chịu một số ràng buộc như:
+ Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập
được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết.
+ Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 3
năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận kinh doanh. Sau thời hạn đó cổ phần
ty ( người chủ )cao hơn lợi ích của chính mình. Lợi ích của công ty và lợi ích của 5
nhà quản lý có thể không gặp nhau. Nếu lợi ích của nhà quản lý được xem trọng
hơn thì lợi ích thực sự của công ty sẽ bị đe dọa.
Mâu thuẫn về quyền lợi giữa cổ đông và nhà quản lý có thể xảy ra là:
- Trường hợp Nhà quản lý không sở hữu hoặc chỉ sở hữu một tỷ lệ nhỏ cổ
phần có thể làm việc không hết mình vì lợi ích của cổ đông bởi vì không có hoặc
chỉ một phần nhỏ lượng thu nhập kiếm được từ cổ phần trở thành của cải của nhà
quản lý. Các nhà quản lý sẽ quan tâm nhiều hơn đến lương và bổng lộc vì phần
lớn chi phí này do cổ đông gánh chịu.
- Một trường hợp khác có thể xảy ra là khi công ty có tiềm năng phát triển
tốt trong tương lai, nhà quản lý muốn giành quyền kinh doanh công ty, họ có thể
tìm mọi cách chủ động để mua lại hết cổ phần công ty, biến công ty cổ phần đại
chúng thành công ty cổ phần nội bộ hay công ty tư nhân thuộc sở hữu của một
vài cá nhân nhà quản lý.
Trong thực tế khó có một giải pháp riêng biệt có thể giải quyết một cách
trọn vẹn đồng thời 2 lợi ích của người chủ và nhà quản lý vì chúng thường mâu
thuẫn nhau. Tuy nhiên một số biện pháp khắc phục sự mâu thuẫn này có thể
được vận dụng là :
- Việc đề cử chức danh Giám đốc : Giám đốc là người đại diện giữ vai trò
quản lý cao nhất của công ty. Thể hiện tuy là Giám đốc chịu trách nhiệm trước
Đại hội đồng cổ đông nhưng là người có quyền đại diện công ty và điều hành
mọi hoạt động hàng ngày của công ty và chi phối các chức danh quản lý khác.
Do đó Đại hội đồng cổ đông nên chọn người sở hữu phần lớn cổ phần trong công
ty giữ chức danh Giám đốc . Giám đốc có quyền thuê và sa thải các vị trí quản lý
còn lại.
trách nhiệm cá nhân và không phải lệ thuộc vào uy tín hay độ tin cậy của những
nhà đầu tư khác như trong hình thức hợp danh. Họ có thể phân tán rủi ro thông
qua đầu tư vào nhiều công ty khác nhau với mục đích tối đa hoá lợi nhuận thu
được.
- Công ty cổ phần được tổ chức, quản lý chặt chẽ thông qua Hội đồng
quản trị, đại hội đồng cổ đông.
Để đổi lấy những lợi ích như trách nhiệm hữu hạn, khả năng chuyển
nhượng cổ phiếu, nhà đầu tư trao quyền quản lý Công ty cổ phần cho một nhóm
người được ủy thác nhiệm vụ ra những quyết định vì lợi ích cao nhất của Công
ty và mọi nhà đầu tư vào công ty chớ không vì một bộ phận nhà đầu tư nào đó.
Theo cách này, công ty cổ phần không bị điều khiển bởi một nhóm nhà đầu tư có
lợi ích đặc biệt và các cổ đông được bảo vệ trước các ý định đặc biệt nào đó.
Nhóm người được ủy thác này được các cổ đông bầu chọn gọi là Hội đồng Quản
trị. Hàng năm HĐQT phải báo cáo kết quả hoạt động của công ty cho tất cả cổ
đông tại Đại hội đồng cổ đông.
Phần lớn Pháp luật điều chỉnh các Công ty cổ phần liên quan đến HĐQT
với nhiều quy định cụ thể được xây dựng nhằm củng cố lòng tin của nhà đầu tư
rằng các thành viên HĐQT chịu trách nhiệm quản lý hoặc định hướng cho các
hoạt động của Công ty. Trên thực tế HĐQT ủy quyền ra quyết định điều hành
hoạt động hàng ngày của Công ty cho những người chuyên trách. HĐQT bổ
nhiệm một Tổng giám đốc điều hành hoạt động hàng ngày của Công ty và giám
sát hoạt động điều hành của Tổng giám đốc. Tổng giám đốc được quyền thuê
những chức danh quản lý còn lại.
* Cơ chế hoạt động của Công ty cổ phần: 8
Từ những đặc điểm trên, để công ty cổ phần hoạt động hiệu quả, Công ty
cổ phần cần phải xây dựng Cơ chế hoạt động một cách rõ ràng và cụ thể. Cơ chế
hoạt động của công ty cổ phần có thể mô tả như sau:
phối lợi nhuận, báo cáo và xin ý kiến cổ đông các vấn đề có liên quan đến quyền
hạn của Đại hội đồng cổ đông. Cổ đông phải được cung cấp đầy đủ nội dung
chương trình, các tài liệu có liên quan trước khi diễn ra Đại hội ( theo quy định
Luật Doanh nghiệp là một tuần) để cổ đông có thời gian nghiên cứu và có thể
đóng góp ý kiến khi tham dự Đại hội đồng cổ đông.
Cổ đông khi phát hiện công ty có những dấu hiệu bất ổn thì phải đề nghị
Đại hội đồng cổ đông bất thường để xử lý kịp thời.
- Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty,
trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. HĐQT phải xây
dựng Quy chế hoạt động. Căn cứ vào năng lực và điều kiện của từng thành viên,
Chủ tịch HĐQT phân công từng thành viên phụ trách những lĩnh vực cụ thể.
Trong HĐQT cần có sự bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên.Cần có
thành viên chuyên trách để có điều kiện theo dõi, chỉ đạo thường xuyên và kịp
thời hoạt động của công ty, và thành viên bán chuyên trách để có thể đưa ra
những ý tưởng mới hoặc kinh nghiệm từ nơi khác áp dụng cho công ty cổ phần.
Căn cứ nhiệm vụ được phân công, các thành viên phải xây dựng được kế hoạch
làm việc và báo cáo kết quả thực hiện tại các cuộc họp HĐQT. 10
HĐQT cần chọn một thư ký để ghi lại biên bản các kỳ họp HĐQT, lưu trữ
các tài liệu của HĐQT. Sau mỗi kỳ họp HĐQT cần có Nghị quyết để Giám đốc
tổ chức thực hiện và BKS kiểm soát.
HĐQT có nhiệm vụ tổ chức điều hành công ty thực hiện tốt các Nghị
quyết của Đại hội đồng cổ đông và có chương trình hành động ngắn hạn, trung
hạn, dài hạn để đề xuất với Đại hội đồng cổ đông.
- Ban Kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra để thực hiện giám sát
HĐQT, Giám đốc công ty trong việc điều hành công ty. Ban Kiểm soát chịu
trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông và pháp luật về những công việc thực
ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
HĐQT
Ban Kiểm
soát
Giám đốc
Các phòng
ban 12
1.1.2 Cổ phần hoá DNNN:
* Khái niệm cổ phần hóa DNNN :
Cổ phần hoá DNNN là một thuật ngữ để diễn đạt quá trình chuyển DNNN
thành công ty cổ phần thuộc sở hữu của các pháp nhân và thể nhân (gọi là các cổ
đông) đã bỏ tiền ra mua các cổ phần của DNNN đó.
Thuật ngữ CPH xuất hiện ở Việt Nam vào cuối những năm 1980, gắn với
công cuộc cải cách DNNN. Cho đến nay, dường như mọi người mặc nhiên sử
dụng thuật ngữ CPH, mà chưa quan tâm nhiều tới việc định nghĩa hay đưa ra 1
khái niệm đầy đủ cho thuật ngữ này. Không chỉ ở Việt Nam mà ngay trên thế
giới cũng chưa thấy có học giả hay nhà nghiên cứu khoa học nào đưa ra khái
niệm về CPH.
Thực hiện đổi mới toàn diện để phát triển đất nước và hội nhập kinh tế
quốc tế được Đại hội Đảng VI (1986) khởi xướng - phương thức mà chính phủ
áp dụng mạnh hiện nay là CPH DNNN. Xuất phát điểm của chủ trương này là
việc phải làm sao để những DNNN có “chủ thật sự”, gắn chặt quyền và lợi ích
hợp pháp của người lao động với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN,
Chính phủ chủ trương thực hiện chuyển đổi các DN thuộc sở hữu 100% của nhà
nước sang hình thức công ty cổ phần thông qua việc chia nhỏ giá trị của doanh
nghiệp thành các phần bằng nhau và bán lại cho các nhà đầu tư dưới hình thức
Thứ nhất: Cổ phần hóa DNNN chỉ là một trong nhiều cách để tư nhân hóa
( nếu có bán cổ phần cho tư nhân) một phần tài sản của DNNN. Nói cách khác là
nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong doanh nghiệp.
Thứ hai: Cổ phần hóa DNNN, ngay cả khi một phần lớn quyền sở hữu đã
chuyển sang khu vực tư nhân nhưng nhà nước vẫn còn quyền kiểm soát doanh
nghiệp nếu nhà nước nắm giữ 2/3 giá trị cổ phần phát hành. Ở tư nhân hóa
DNNN, nhà nước không còn quyền kiểm soát doanh nghiệp. 14
Thứ ba: Cổ phần hóa DNNN, nhà nước vẫn nắm giữ “cổ phần quyết
định”, một cổ phần cho phép được quyền thông qua hay không thông qua một
quyết định quan trọng của doanh nghiệp. Tư nhân hóa DNNN, nhà nước không
can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp.
Tư nhân hóa DNNN Cổ phần hóa DNNN
- Chuyển đổi tất cả quyền sở hữu
và quyền kiểm soát doanh nghiệp
của nhà nước sang tư nhân.
- Nhà nước không can thiệp, không
còn quyền kiểm soát doanh nghiệp.
- Khẳng định và nhấn mạnh vai trò
của kinh tế tư nhân.
- Chỉ quan tâm đến khu vực kinh tế
sẽ được chuyển đổi sang ( khu vực
kinh tế tư nhân).
- Chỉ chuyển đổi một phần, nhà nước
vẫn nắm quyền kiểm soát.
- Nhà nước có thể tiếp tục nắm quyền
tài chính của các DNNN được xác định một cách chính xác, các khoản nợ, đặc
biệt là nợ khó đòi được giải quyết, các loại tài sản được kiểm kê, đánh giá lại
theo giá trị thực tế. Do đó, CPH góp phần làm cho các mối quan hệ tài chính của
DN với Nhà nước và với các DN, tổ chức, cá nhân trong và ngoài DN được xác
định, giải quyết một cách rõ ràng, tạo điều kiện cho DN hoạt động lành mạnh sau
cổ phần hoá.
CPH DNNN là giải pháp để Nhà nước thay đổi cơ cấu đầu tư theo hướng
thu hồi vốn đầu tư trong những lĩnh vực mà Nhà nước không cần nắm giữ và
chuyển giao cho các thành phần kinh tế khác, tập trung đầu tư vào những lĩnh
vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân.
Thông qua CPH, các DN thu hút được các nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân
dân, các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thiết lập quan hệ lâu dài với 16
người lao động, những nhà cung cấp và khách hàng. Trên cơ sở đó, sau CPH các
DN sẽ có điều kiện đầu tư nâng cao trình độ công nghệ, mở rộng thị trường,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.2.2 Mục tiêu, đối tượng và hình thức cổ phần hóa DNNN:
Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Khoá XII đã đề ra việc
tập trung “sắp xếp lại , củng cố, tăng cường khu vực kinh tế quốc doanh ”
Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996. Đây là nghị định đầu
tiên Về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần, nhưng tiến độ cổ phần hoá
DNNN rất chậm. Giai đoạn này việc cổ phần hoá DNNN mang tính thí điểm.
Đến năm 2001 Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng
khoá IX ban hành Nghị quyết số 05 Về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và
nâng cao hiệu quả DNNN đã phân tích những mặt hạn chế của DNNN và nhận
định: “ Hiện nay, DNNN đang đứng trước thách thức gay gắt của yêu cầu đổi
mới, phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ” và đề ra giải pháp “ Đẩy
mạnh cổ phần hoá DNNN ”. Nghị định đề ra :