BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ ĐÌNH QUYẾT
PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ
: LUẬT QUỐC TẾ
: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:TS. NGUYỄN THANH TÂM
HÀ NỘI – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng
dẫn của TS. Nguyễn Thanh Tâm – Trưởng khoa Pháp luật Thương mại quốc
tế - Trường Đại học Luật Hà Nội. Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong
đề tài là nghiêm túc và trung thực, chưa từng được công bố trước đây. Các
thông tin về số liệu, dẫn chứng phân tích và một số ý kiến đánh giá đều được
trích dẫn từ những nguồn tư liệu đáng tin cậy thể hiện trong phần tài liệu tham
khảo.
: Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
CNTB
: Chủ nghĩa tư bản
FDI
: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
IMF
: Quỹ tiền tệ quốc tế
JV
: Doanh nghiệp liên doanh
MNC
: Công ty đa quốc gia
M&A
: Sáp nhập và mua lại
Nxb
: Nhà xuất bản
: Đô la Mỹ
WTO
: Tổ chức Thương mại thế giới
MỤC LỤC
Phần mở đầu ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA
CÔNG TY ĐA QUỐC GIA.................................................................................. 9
1.1.
Các khái niệm cơ bản .................................................................................... 9
1.1.1.
Đầu tư quốc tế .......................................................................................... 9
1.1.2.
Công ty đa quốc gia ........................................................................... - 15 -
1.1.2.1.
Sự ra đời của công ty đa quốc gia .............................................. - 15 -
1.1.2.2.
Phát triển hoạt động chuyển giao công nghệ .............................. - 34 -
Kết luận Chương 1 ................................................................................................ 35
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA ...................................... 36
2.1.
Thực trạng các quy định pháp luật quốc tế ............................................... 36
2.1.1.
Quy định của OECD ............................................................................... 36
2.1.2.
Quy định của Liên hợp quốc .............................................................. - 41 -
2.2.
Quy định pháp luật của các nước trên thế giới .......................................... 48
2.2.1.
Pháp luật của các nước phát triển ....................................................... - 50 -
2.2.2.
Pháp luật của các nước đang phát triển ................................................... 56
Kết luận Chương 2 ................................................................................................ 66
3.3.4.
Các quy định về minh bạch ..................................................................... 78
3.3.5.
Quy định trong lĩnh vực thuế .................................................................. 79
3.3.6.
Quy định trong lĩnh vực luật cạnh tranh ............................................. - 81 -
3.3.7.
Vấn đề trách nhiệm xã hội đối với các MNC tại Việt Nam................. - 81 -
3.4. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản lý hoạt
động đầu tư quốc tế của các MNC ....................................................................... 83
3.4.1.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư .......... 84
3.4.2.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh ........................................... 84
3.4.3.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế ............................................... - 85 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp đang
ngày càng tìm kiếm những cơ hội thị trường mới và các nguồn lực hiệu quả ở các
nước khác bên ngoài nước chủ đầu tư thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đầu tư vào sản xuất nước ngoài với mục tiêu dành ảnh hưởng dài hạn đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh. Hoạt động đầu tư qua biên giới này là một hiện tượng
tăng lên nhanh chóng, giá trị dòng FDI vào ở phạm vi toàn cầu tăng từ 13 tỷ USD
năm 1970 lên 208 tỷ USD năm 1990, đạt mức 1387 tỷ USD năm 2000 và 1762 tỷ
USD năm 2015 [23]. Quy mô xuyên quốc gia của các công ty trở nên rộng hơn khi
các công ty này sát nhập hoặc mua lại (M&A) các công ty ở nước khác hoặc tiến
hành đầu tư mới ở nước ngoài. Các công ty đa quốc gia (MNC) hiện nay chịu trách
nhiệm về khoảng 2/3 dòng tài chính toàn cầu vào các nước đang phát triển [23].
Hoạt động của các MNC đã, đang và sẽ là lực lượng chủ đạo thúc đẩy quá trình
toàn cầu hoá, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trên toàn thế
giới. Chúng là lực lượng chủ chốt trong hoạt động FDI. Vì vậy, các MNC đang
càng ngày càng thâm nhập một cách mạnh mẽ vào tất cả các quốc gia.
Có thể thấy, FDI là một nguồn vốn bên ngoài bổ sung cho những nguồn lực
trong nước dành cho phát triển. FDI có thể hỗ trợ trong việc rút ngắn khoảng cách
giữa các nguồn lực cần thiết để đảm bảo mức đầu tư mong muốn và nguồn lực tạo
ra từ mức tiết kiệm nội địa thực tế. Đây vốn là vấn đề mà các nước trên thế giới, đặc
biệt là các nước đang phát triển, thường phải đối mặt. Thêm vào đó, FDI không chỉ
là một nguồn tài chính mà còn là một gói các nguồn lực, có thể đem lại nhiều lợi ích
hơn cho nước tiếp nhận đầu tư, ví dụ như chuyển giao công nghệ, tạo công ăn việc
làm, nâng cao kỹ năng hoặc cải thiện hoạt động xuất khẩu. Những đóng góp tiềm
năng này được quan tâm đặc biệt bởi các nước chủ nhà đang tìm cách đẩy nhanh
quá trình phát triển bằng việc bổ sung năng lực công nghệ và những năng lực nội
địa khác, và chìa khóa cho những nỗ lực tìm kiếm này chính là năng lực mà các
MNC đem lại.
Bên cạnh những mặt tích cực mà hoạt động đầu tư quốc tế của các MNC
quan trọng và cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Chính vì lí do đó, tác
giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư quốc tế của công ty đa
quốc gia” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Các công trình khoa học trong nước:
Pháp luật về hoạt động đầu tư quốc tế của MNC là một vấn đề phức tạp và
mang tính thời sự. Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu về
MNC nhưng chủ yếu được đề cập ở khía cạnh kinh tế, một số tác phẩm và bài viết
-3-
tiêu biểu như:
- Lê Văn Sang - Trần Quang Lâm (1996), Các công ty xuyên quốc
gia (TNCs) trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
Nội dung cuốn sách tập trung phân tích nguồn gốc hình thành, các hình thức tồn tại
và mô hình chiếm lĩnh, khai thác thị trường của các TNC. Những nội dung nêu trên
vừa được phân tích chuyên sâu, tìm kiếm bản chất, vừa đặt chúng trong bối cảnh
mới - ngưỡng cửa của thế kỷ XXI.
- Đề tài khoa học xã hội: Bản chất, đặc điểm và vai trò của các TNC và
MNC trên thế giới, Chính sách của ta. Chương trình Khoa học công nghệ cấp nhà
nước 06 (Giai đoạn 1996 - 2000) do tác giả Nguyễn Thiết Sơn làm chủ nhiệm được
xuất bản thành sách (Cuốn sách có tiêu đề: Nguyễn Thiết Sơn (Chủ biên), Các công
ty xuyên quốc gia - Khái niệm, đặc trưng và những biểu hiện mới, Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội, 2003) cung cấp cho người đọc những kiến thức sâu về đặc điểm,
bản chất, vai trò của các TNC và MNC trên thế giới, phân tích hoạt động của các
MNC Hoa Kỳ, Nhật Bản, Tây Âu, hoạt động của chúng ở Việt Nam, trên cơ sở đó
đề xuất quan điểm, đối sách phù hợp nhằm thu hút và phát huy tác động tích cực
của chúng đối với nền kinh tế Việt Nam.
- Luận án của tác giả Hoàng Thị Bích Loan, Các TNC của một số nền kinh tế
định của quốc gia được đề cập đến trong các Hiệp định đầu tư quy định về kiểm
soát rủi ro đầu tư đối với các MNC.
- Koenig-Archibugi, Mathias, "Transnational Corporations and Public
Accountability" (PDF), Gary 2004: 106. Retrieved 2 February 2015. Nội dung của
cuốn sách xem xét các vấn đề về trách nhiệm xã hội của các MNC trong thực tiễn
hoạt động. Nó thảo luận các vấn đề về trách nhiệm của các công ty nói chung và các
trách nhiệm của các MNC trong quá trình toàn cầu hóa. Đặc biệt là mối quan hệ
giữa các quan chức chính phủ các nước với các MNC. Cuốn sách đã nêu rõ và phân
tích những những mặt trái của các MNC, liên quan đến các vấn đề kinh tế và chính
trị. Cuốn sách cũng đưa ra những giải pháp để hạn chế mặt trái của các MNC, bao
gồm các giải pháp như hợp tác liên chính phủ, sự "tự điều chỉnh" của các doanh
nghiệp và các sáng kiến liên quan đến các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan
siêu quốc gia trong việc đưa ra các tiêu chuẩn ứng xử cho các MNC và giám sát
việc tuân thủ của các MNC đó.
- Janet Dine (Author), The Governance of Corporate Groups (Cambridge
Studies in Corporate Law), 2000. Cuốn sách này khám phá các vấn đề pháp lý liên
quan đến các tập đoàn bao gồm cả quy định ở cấp quốc gia, quốc tế và toàn cầu. Nó
cung cấp cho người đọc hiểu rõ hơn về các quy định về tập đoàn kinh tế ở các quốc
gia như Anh quốc, Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ và ở các nước khác, bao gồm cả các
nền kinh tế mới nổi của các quốc gia Đông Âu. Tác giả cũng đã làm nổi bật những
hậu quả nghiêm trọng của các MNC trong quá trình toàn cầu hóa, như sự phân hóa
giàu nghèo và vấn đề ô nhiễm môi trường.
- John Gerard Ruggie (Author), Just Business: Multinational Corporations
-5-
and Human Rights (Norton Global Ethics Series) Hardcover - March 25, 2013. Nội
dung cuốn sách đề cập tới vấn đề nhân quyền trong thời đại toàn cầu hóa và kinh
doanh đa quốc gia. Cuốn sách bình luận về vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất của thời
-6-
Về thời gian, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành
và xu hướng pháp luật để đánh giá chính xác thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt
động đầu tư quốc tế của các MNC. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi của các kiến
nghị, luận văn cũng nghiên cứu quá trình vận động và phát triển của hệ thống pháp
luật về các MNC.
4. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn là phân tích, đánh giá những
vấn đề pháp lý về hoạt động đầu tư quốc tế của các MNC, từ đó giúp các nhà đầu tư
và các nước tiếp nhận đầu tư có cách nhìn toàn diện về các MNC, đồng thời tìm
kiếm những giải pháp phù hợp hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý hoạt động
đầu tư quốc tế của các MNC tại Việt Nam.
Để thực hiện được mục đích nêu trên, nhiệm vụ của luận văn được đặt ra
nghiên cứu cụ thể các vấn đề sau đây:
Thứ nhất, luận văn nghiên cứu bản chất của hoạt động đầu tư quốc tế, bản
chất pháp lý của các MNC, từ đó xác định được nhiệm vụ cần thiết trong việc quản
lý hoạt động đầu tư quốc tế của các quốc gia đối với các MNC;
Thứ hai, luận văn nghiên cứu quá trình phát triển, phân tích xu hướng đầu tư
quốc tế và xu hướng quản lý đầu tư của các quốc gia đối với các MNC;
Thứ ba, luận văn nghiên cứu xu hướng và quy định pháp luật quốc tế và
nước ngoài điều chỉnh hoạt động đầu tư quốc tế của các MNC, từ đó so sánh với
pháp luật Việt Nam, và đánh giá nhằm rút ra những kiến nghị cho quá trình xây
dựng pháp luật Việt Nam về quản lý hoạt động đầu tư quốc tế của các MNC.
Thứ tư, luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về quản lý hoạt động đầu tư quốc tế của các MNC, bao gồm những giải pháp
cơ bản và những giải pháp mang tính chất cụ thể.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Câu hỏi 1: Tại sao pháp luật của các quốc gia trên thế giới cần phải điều
Là công trình khoa học nghiên cứu các vấn đề pháp lý về hoạt động đầu tư
quốc tế của các MNC, tác giả luận văn mong muốn có thể đóng góp một số những
vấn đề mới cho khoa học pháp lý và thực tiễn cụ thể như sau:
Thứ nhất, luận văn chứa đựng những nghiên cứu mang tính học thuật và quan
điểm của tác giả luận văn về địa vị pháp lý và tư cách chủ thể của các MNC. Đây là
vấn đề quan trọng làm cơ sở xây dựng các quy định pháp luật về quản lý hoạt động
đầu tư quốc tế của các quốc gia đối với các MNC;
-8-
Thứ hai, luận văn làm rõ các vấn đề pháp lý quy định về hoạt động đầu tư
quốc tế của các MNC trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia;
Thứ ba, luận văn đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý hoạt động
đầu tư quốc tế của các MNC ở Việt Nam.
8. Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, phần danh
mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung luận văn được bố cục thành ba chương, có
kết luận của từng chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động đầu tư quốc tế của công ty đa quốc gia;
Chương 2: Những quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư quốc tế của
công ty đa quốc gia;
Chương 3: Pháp luật Việt Nam về hoạt động của công ty đa quốc gia trong
lĩnh vực đầu tư quốc tế.
-9-
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA
CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
- 10 -
hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp
vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của các tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp
đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”.
Đứng ở góc độ của một quốc gia, thì hoạt động đầu tư quốc tế bao gồm hoạt
động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại nước sở tại, và hoạt động đầu tư của nhà
đầu tư trong nước ra nước ngoài.
(i)
Các hình thức đầu tư quốc tế:
Đầu tư quốc tế có thể chia thành 4 hình thức cơ bản [8]:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài;
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài;
- Tín dụng thương mại;
- Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và hỗ trợ chính thức (OA).
Trong các hình thức đầu tư quốc tế thì đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là
hình thức đầu tư quan trọng nhất, nó là nguồn cung cấp vốn lớn cho sự phát triển
của các quốc gia. Bên cạnh đó, các hoạt động đầu tư của các MNC chủ yếu được
thực hiện dưới hình thức FDI. Do đó, khi nghiên cứu về các quy định pháp luật về
hoạt động đầu tư quốc tế của các MNC, luận văn xin đi sâu phân tích những nội
dung cơ bản của hình thức đầu tư này.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hình thức FDI. Theo định nghĩa của
IMF về FDI và các khái niệm liên quan thì: “Đầu tư trực tiếp là dạng đầu tư quốc tế
phản ánh mục tiêu của một thực thể cư trú tại một nền kinh tế, nhằm có được mối
quan tâm (lợi ích) lâu dài trong một doanh nghiệp cư trú tại một nền kinh tế khác.
(Thực thể này là nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp là doanh nghiệp đầu tư trực
ban đầu giữa hai thực thể và mọi giao dịch vốn tiếp theo giữa chúng và giữa các
công ty con, dù có tư cách pháp nhân hay không có tư cách pháp nhân.
Một nhà đầu tư trực tiếp là một cá nhân, một doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh
nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, một
chính phủ, một nhóm các cá nhân có liên quan hoặc một nhóm các doanh nghiệp có
tư cách pháp nhân và/hoặc không có tư cách pháp nhân có liên quan, trong đó một
nhà đầu tư trực tiếp sở hữu 10% hoặc hơn cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết
của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc mức tương đương của một doanh
nghiệp không có tư cách pháp nhân.
Hướng dẫn bằng số về mức sở hữu 10% cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu có quyền
biểu quyết xác định sự tồn tại của một mối quan hệ đầu tư trực tiếp. Một ảnh hưởng
hiệu quả trong quản lý, với bằng chứng là việc sở hữu ít nhất 10%, ngụ ý rằng nhà
- 12 -
đầu tư trực tiếp có thể tác động tới hoặc tham gia vào việc quản lý một doanh
nghiệp, không đòi hỏi quyền kiểm soát hoàn toàn của nhà đầu tư nước ngoài” [22,
tr. 7 - 8]. Theo đó, OECD đã chỉ ra cách thức cụ thể để nhà đầu tư thực hiện đầu tư
trực tiếp nước ngoài như: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi
nhánh thuộc sự quản lý của nhà đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham
gia vào một doanh nghiệp mới; hoặc cấp tín dụng dài hạn trên 5 năm.
Tại Việt Nam, Luật đầu tư năm 2014 không có khái niệm cụ thể về FDI,
nhưng tại Điều 2 Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1996 (Luật được Quốc hội
thông qua ngày 12/11/1996 trong bối cảnh hoạt động hợp tác đầu tư nước ngoài của
Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới) có quy định: “FDI là việc
nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản
nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”.
Có thể hiểu đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư
và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp, các cá nhân
FDI và tầm quan trọng tăng lên của nó - với tư cách một nguồn tài chính bên ngoài
cũng như các nguồn lực khác cho các nước đang phát triển trong hai thập kỷ qua đã làm gia tăng hơn nữa mối quan tâm đến FDI và các hoạt động sản xuất quốc tế
gắn liền với nó.
FDI được phân biệt với các hình thức đầu tư quốc tế khác bởi hai đặc
điểm [12, tr. 5]:
(ii)
Thứ nhất, mọi hình thức đầu tư quốc tế đều được tiến hành bên ngoài nước
của công ty đầu tư, nhưng FDI khác với các hình thức khác, được tiến hành bên
trong công ty đầu tư: quyền kiểm soát đối với việc sử dụng các nguồn lực được di
chuyển vẫn nằm trong tay nhà đầu tư, cho phép nhà đầu tư đưa ra những quyết định
sản xuất và đầu tư;
Thứ hai, trong khi mọi hình thức đầu tư đều liên quan đến việc di chuyển của
nguồn lực tài chính qua biên giới, FDI còn liên quan đến việc di chuyển những tài
sản và nguồn lực khác, ví dụ như công nghệ, kỹ năng quản lý và những kỹ năng
khác, khả năng tiếp cận thị trường, năng lực kinh doanh, ...
Vì thế có thể nói, FDI không chỉ bao gồm dòng chảy của các nguồn lực tài
chính vào nước chủ nhà, mà còn bao hàm một gói các nguồn lực và tài sản cần thiết
cho sự tăng trưởng và phát triển của nước chủ nhà. Các nhân tố làm này sinh FDI
cũng như tác động đến địa điểm của hoạt động này tại các nước chủ nhà khác nhau.
(iii)
Trong thực tiễn, FDI được thực hiện dưới các hình thức sau đây [8]:
Một là, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC):
đây là một loại hình đầu tư trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết thỏa thuận để
- 14 -
- 15 -
1.1.2. Công ty đa quốc gia
1.1.2.1. Sự ra đời của công ty đa quốc gia [15]
Tiền thân của các MNC là công ty quốc gia. Công ty quốc gia này mang
quốc tịch của một nước và vốn đầu tư vào công ty này thuộc quyền sở hữu của các
nhà tư bản nước sở tại. Việc kinh doanh của họ ngày càng phát triển, hàng hóa và
dịch vụ được sản xuất ra ngày càng nhiều và chất lượng cao hơn. Từ thập niên 80,
cùng với xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, các công ty quốc gia tiến hành
sáp nhập với nhau tạo thành công ty đa quốc gia, nhằm mục đích:
Thứ nhất, phục vụ mục tiêu lớn nhất là tối đa hóa giá trị tài sản công ty nhờ
việc khai thác các tiềm năng tại chỗ.
Thứ hai, sự liên kết giữa các công ty quốc gia nhằm tăng khả năng bảo vệ
trước những rủi ro, giảm thiểu sự không ổn định của chu kỳ kinh doanh nội địa,
chống lại chính sách bảo hộ mậu dịch ở các nước, bảo vệ thị phần, giảm chi phí
trung gian đáp ứng nhanh nhu cầu của người tiêu dùng.
Thứ ba, cạnh tranh gay gắt thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật, nhiều
ngành kỹ nghệ mới ra đời như công nghệ sinh học, điện tử, người máy… đòi hỏi
nhiều vốn, nhiều kỹ thuật cao cấp, công ty một quốc gia không thể đủ sức đáp ứng,
cho nên sự ra đời của công ty đa quốc gia là cần thiết.
Các MNC thực sự hình thành và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ chủ nghĩa
đế quốc. Trong thời kỳ này, quá trình tích tụ tư bản, tập trung sản xuất, sự kết hợp
giữa giới tài chính và giới công thương đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tập
đoàn sản xuất - kinh doanh lớn theo xu hướng độc quyền. Sự cạnh tranh tự do trong
thời kỳ đầu của CNTB, với sự thôn tính “cá lớn nuốt cá bé”, cũng tạo thêm điều
kiện cho sự hình thành các tổ chức kinh doanh độc quyền lớn. Đáng chú ý, sự cạnh
tranh và xu hướng độc quyền diễn ra mạnh mẽ cả trên thị trường trong nước lẫn
ngoài nước, nên càng làm tăng tính quốc tế của các công ty này.
Sau Chiến tranh lạnh, MNC đã có sự phát triển chóng mặt với số lượng các
MNC tăng gần gấp đôi, từ khoảng 37.000 đầu thập kỷ 1990 lên gần 70.000 vào
năm 2004. Đồng thời, mức độ quốc tế hoá của chúng cũng phát triển chưa từng thấy
với số lượng chi nhánh nước ngoài tăng gần bốn lần, từ 170.000 đầu thập kỷ 1990
lên gần 690.000 vào năm 2004. Một điểm khác cũng đáng chú ý, MNC không còn
là độc quyền của các nước phát triển hàng đầu mà đã xuất hiện cả trong các nền
kinh tế đang phát triển hoặc mới nổi. Tuy nhiên, quy mô và vai trò của các MNC
này vẫn còn rất khiêm tốn. Các MNC cũng là người nắm giữ hầu hết vốn đầu tư
nước ngoài. Các MNC thực hiện hơn 80% thương mại thế giới. Các MNC chi phối
hầu hết các ngành công nghiệp và dịch vụ quan trọng của thế giới. Các MNC cũng
nắm giữ phần lớn công nghệ tiên tiến và quá trình chuyển giao công nghệ. Các
MNC vẫn tiếp tục nằm trong trung tâm của sự phát triển. Thế và lực của MNC tiếp
tục phát triển trong những năm gần đây với xu hướng sáp nhập và mua lại (M&A)
- 17 -
để hình thành các tập đoàn lớn, nhất là trong những lĩnh vực kinh tế quan trọng như
truyền thông, ngân hàng - tài chính, giao thông vận tải... Tất cả những điều này
đang làm tăng vai trò của MNC đối với quốc gia và QHQT. [16]
1.1.2.2.
Khái niệm công ty đa quốc gia
Trong các tài liệu về công ty đa quốc gia, có nhiều thuật ngữ được sử dụng
như: công ty quốc tế (International Enterprise/Firm), công ty đa quốc gia
(Multinational Corporations/Enterprises - MNCs/MNEs), công ty xuyên quốc gia
(Transnational Corporations - TNCs), gần đây lại xuất hiện thuật ngữ công ty toàn
cầu (Global Firm)... Ở khía cạnh kinh tế, các nhà nghiên cứu thường có sự phân biệt
giữa công ty quốc tế với công ty đa quốc gia và công ty xuyên quốc gia. Trong đó,
mà quyền sở hữu chúng là thuộc tư nhân, chính phủ hoặc hỗn hợp, được thành lập
tại các nước khác nhau và được liên kết tới mức một hoặc nhiều thực thể có thể có
được một mức độ ảnh hưởng hiệu quả đến hoạt động của các thực thể khác và đặc
biệt, có thể chia sẻ tri thức và nguồn lực với các thực thể khác. Mức độ tự chủ của
mỗi thực thể trong mối quan hệ với các thực thể khác của mỗi công ty đa quốc gia
rất khác nhau, phụ thuộc vào bản chất của mối quan hệ giữa những thực thể này và
lĩnh vực hoạt động liên quan”. [23, tr. 45 - 46]
Có thể thấy, các khái niệm về công ty đa quốc gia đều có điểm chung, đó là
các công ty đa quốc gia là các tập đoàn kinh tế tiến hành hoạt động sản xuất ở hai
nước trở lên. Thông thường, các công ty này đặt trụ sở chính ở quốc gia gốc và mở
rộng ra nước ngoài bằng cách xây dựng hoặc mua lại các công ty con ở các nước
khác (quốc gia tiếp nhận). Loại mở rộng này được gọi là FDI bởi vì nó liên
quan đến việc tiến hành trực tiếp hoạt động sản xuất ở nước ngoài, ví dụ như
Công ty Ford thiết lập nhà máy sản xuất xe hơi ở Mexico, hay Ngân hàng
Citibank đặt văn phòng chi nhánh ở London để cung cấp dịch vụ tài chính. FDI đã
gia tăng với tỷ lệ phi thường kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Ví dụ, vào thập
niên 1980, FDI tăng trưởng 28,9% mỗi năm, gấp 3 lần mức tăng trưởng của thương
mại thế giới, và đó chính như là chìa khóa tác động mạnh mẽ tới sự hợp nhất của nền
kinh tế thế giới.
Các MNC có thể khác nhau về mức độ hoạt động đa quốc gia. Một MNC lớn
có thể hoạt động ở 100 nước, với hàng trăm ngàn nhân viên làm việc ở bên ngoài
nước của nó. Định nghĩa ở khía cạnh kinh tế nhấn mạnh khả năng kiểm soát dòng
chảy của vốn qua biên giới quốc gia của các MNC. Tuy nhiên, dựa vào các khái
niệm nêu trên, có thể thấy dòng vốn không phải là đặc trưng của một MNC. Vốn có
thể chảy từ nước này sang nước khác trong kỳ vọng lãi cao hơn. Tuy nhiên, dòng
chảy của vốn có thể được đầu tư theo hình thức trái phiếu, hoặc vốn đầu tư chưa đủ
để cấp quyền kiểm soát cho nhà đầu tư nước ngoài. Trong trường hợp này, hình
thức đầu tư được xem xét như một sự đầu tư về danh mục đầu tư. Khía cạnh trung
quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tài chính. Các công ty thành
viên trong các MNC buộc phải tuân theo những quy định “cứng”, thống nhất trong
toàn bộ MNC. Các liên kết trong MNC mang tính chi phối, được hình thành trên cơ
- 20 -
sở đầu tư góp vốn, kiểm soát hoạt động của công ty và chuyển các quyền liên quan
đến sở hữu công nghiệp và một số loại quyền khác.
Thứ hai, bên cạnh liên kết vốn mang tính chi phối, trong MNC còn có
những hình thức liên kết khác như về liên kết vốn nhưng không đủ mức chi phối,
liên kết về công nghệ, liên kết về thị trường, liên kết về nhân sự lãnh đạo, những
hình thức liên kết này thường mang tính chất liên kết mềm được hình thành trên cơ
sở thỏa thuận hợp đồng. Theo đó, công ty mẹ chia sẻ những lợi ích về công nghệ, về
thị trường cho các chủ thể kinh doanh khác (gọi là thành viên liên kết). Công ty mẹ
chi phối một phần hoạt động của thành viên liên kết, yêu cầu thành viên liên kết
phải tuân thủ những nguyên tắc và chính sách kinh doanh của toàn bộ tập đoàn đa
quốc gia. Trong mối quan hệ này, thành viên liên kết thường phải trả phí sử dụng
cho những lợi thế kinh tế mà công ty mẹ chuyển giao.
(ii) Các MNC là một chủ thể trong quan hệ kinh tế quốc tế. [10]
Xét từ khía cạnh liên kết của các pháp nhân tạo thành tập đoàn đa quốc gia
và bản chất pháp lý của các MNC, có thể thấy, các MNC là một chủ thể trong quan
hệ kinh tế quốc tế. MNC được nhiều người coi là một loại hình tổ chức quốc tế phi
chính phủ (INGO) trong kinh tế. Sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về lượng lẫn chất, vai
trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế cùng với các tác động ngày càng tăng trong
QHQT đang đem lại cho MNC khả năng của một chủ thể QHQT. Điều này được
thể hiện trên 4 tiêu chí của chủ thể QHQT là tham gia, mục đích, năng lực và ảnh
hưởng.
Thứ nhất, xét trên tiêu chí tham gia, về mặt thời gian, MNC bắt đầu ghi dấu
ấn lớn trong QHQT với việc vươn ra thị trường nước ngoài từ nửa cuối thế kỷ XIX,