BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI THỊ THU HUYỀN
NGUYÊN TẮC QUYỀN YÊU CẦU TÒA ÁN BẢO VỆ
QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Ngọc Thỉnh
HÀ NỘI- 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Hoàng Ngọc Thỉnh. Các nội dung nghiên
cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình
thức nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân
tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có
ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số
nhận xét, đánh giá của các tác giả khác, đều có trích dẫn và chú thích nguồn
gốc.
Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn! Tác giả rất mong nhận được
sự đóng góp, phê bình của quý thầy cô, các nhà khoa học và các độc giả!
Xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng dân sự
BPKCTT
Biện pháp khẩn cấp tạm thời
PLTTDS
Pháp luật tố tụng dân sự
QHPLDS
Quan hệ pháp luật dân sự
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
1.3.1. Hệ thống pháp luật chặt chẽ ...........................................................13
1.3.2. Hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án............................14
1.3.3. Nhận thức pháp luật của đương sự và hoạt động hỗ trợ pháp lý của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ..........................................................15
1.4. Ý nghĩa của nguyên tắc quyền yều cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự trong TTDS ............................................................................16
1.5. Mối quan hệ giữa nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự với các nguyên tắc khác của pháp luật tố tụng dân sự .18
1.5.1. Mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự.............................................................................18
1.5.2. Mối quan hệ với một số nguyên tắc khác của pháp luật tố tụng dân
sự...............................................................................................................18
Kết luận chương 1 .........................................................................................20
Chương 2: NỘI DUNG NGUYÊN TẮC QUYỀN YÊU CẦU TÒA ÁN
BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH.......................22
2.1. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự ..22
2.1.1. Quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự.......22
2.1.2. Quyền phản đối yêu cầu của bị đơn; quyền đưa ra yêu cầu, thay đổi,
bổ sung yêu cầu của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.......28
2.1.3. Các quyền tố tụng khác của đương sự thể hiện nội dung nguyên tắc
quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự ..29
2.2. Trách nhiệm của Tòa án trong việc đảm bảo thực hiện quyền yêu cầu Tòa
án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự .............................................39
2.2.1. Tòa án không được từ chối thụ lý vụ án vì lý do chưa có điều luật để áp
dụng ...........................................................................................................39
2.2.2. Trách nhiệm của Tòa án trong việc nhận và xử lý đơn khởi kiện.......41
2.2.3. Trách nhiệm của Tòa án trong việc thực hiện các yêu cầu của
Kết luận chương 3 .........................................................................................80
KẾT LUẬN ....................................................................................................81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
ngày càng được quan tâm. Trong tố tụng dân sự, đây cũng là vấn đề các nhà
lập pháp chú trọng. Ngày 15/6/2004, BLTTDS năm 2004 được Quốc hội khóa
XI bấm nút thông qua, Bộ luật chính thức có hiệu lực từ 01/01/2005. Đây
được coi là bước phát triển rõ rệt của pháp luật tố tụng dân sự nước ta. Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2004 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển của
ba pháp lệnh trước đó, bao gồm: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và
Pháp lệnh giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 đồng thời tiếp thu
những thành tựu lập pháp của một số nước trên thế giới. Có thể nói, Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2004 là văn bản pháp lý cao nhất quy định trình tự, thủ tục
giải quyết VVDS tại Tòa án đồng thời cũng là văn bản luật đầu tiên ghi nhận
nguyên tắc “quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp”.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời đã góp phần giải quyết nhanh
chóng, kịp thời các vụ việc dân sự, bảo vệ kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự. Tuy nhiên, sau nhiều năm thi hành, Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004 và Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 đã bộc lộ nhiều điểm
bất cập, không phù hợp với thực tiễn. Do đó, việc ban hành Bộ luật mới điều
chỉnh vấn đề này là cần thiết. Ngày 24/11/2015, Quốc hội khóa XIII đã chính
thức thông qua Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bộ luật tố tụng dân sự mới
đã khắc phục nhiều điểm bất cập của Bộ luật tố tụng dân sự trước đó và có
cơ bản của BLTTDS” của TS Đinh Trung Tụng đăng trên Tạp chí Tòa án
nhân dân số đặc san về BLTTDS năm 2004; “Việc thay đổi, bổ sung và rút
yêu cầu của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm” của Tiến sĩ Bùi Thị Huyền đăng
trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9/2007; “Sự thỏa thuận của các đương
sự tại phiên tòa sơ thẩm dân sự” của Tiến sĩ Bùi Thị Huyền đăng trên Tạp chí
Luật học số 8/2007…
Tuy vậy, theo tìm hiểu của tác giả, cho đến nay vẫn chưa có một công
trình nghiên cứu khoa học pháp lý nào chuyên nghiên cứu về nguyên tắc
3
quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đặc
biệt là việc thực hiện các quy định của BLTTDS về vấn đề này tại các Tòa án
Việt Nam trong những năm gần đây.
3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn và đối tượng nghiên cứu
PLTTDS Việt Nam có những quy định đảm bảo quyền yêu cầu Tòa án
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều chủ thể trong đó có một nhóm chủ
thể được coi là đương sự trong TTDS. Trong phạm vi luận văn, tác giải chỉ
nghiên cứu những quy định của PLTTDS nhằm đảm bảo quyền yêu cầu Tòa án
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS và thực tiễn áp
dụng các quy định này mà không nghiên cứu các quy định nhằm đảm bảo
quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể khác không phải là
đương sự trong TTDS.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến
nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự trong TTDS như: cơ sở của nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS, ý nghĩa của nguyên
tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, nội
dung của nguyên tắc… Đặc biệt, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định
Ý nghĩa khoa học: Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một
cách có hệ thống về nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự. Về mặt khoa học, luận văn đóng
góp một số điểm mới sau:
Thứ nhất, luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách
có hệ thống các vấn đề lý luận về nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS.
Thứ hai, trong bối cảnh BLTTDS năm 2015 mới được ban hành và có
hiệu lực, luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên phân tích các
quy định của BLTTDS mới hướng đến bảo đảm thực hiện nguyên tắc quyền
yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Thứ ba, trên cơ sở tổng hợp kết quả thi hành BLTTDS năm 2011 về
việc thực hiện nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự, luận văn đã đánh giá tính hợp lý của các quy định và
những khó khăn trong công tác thi hành pháp luật.
Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu các vấn đề lý luận về
nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
5
đương sự, các quy định của pháp luật về nguyên tắc này và thực tiễn áp dụng
các quy định, luận văn đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hướng đến hoàn
thiện hơn nữa quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc thực hiện
nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự trong TTDS. Luận văn là tài liệu tham khảo trong lĩnh vực luật học
về vấn đề nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
trong TTDS.
8. Bố cục của luận văn
Luận văn được kết cấu làm 3 chương:
bản của tố tụng dân sự như sau: “Các nguyên tắc của Luật TTDS Việt Nam là
những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ hệ
thống các chế định tố tụng và biểu thị những nội dung đặc trưng nhất của
ngành luật này”.
- Khái niệm “quyền yêu cầu”
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “quyền là điều mà Nhà nước và pháp
luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”. Trong
Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội.
1
7
khoa học pháp lý, quyền là những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm
thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân, tổ chức được hưởng,
được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản hoặc hạn chế. “Yêu cầu”
có nghĩa là “nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người đó làm, vì đó là
việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy”.
Từ đó, có thể định nghĩa, quyền yêu cầu là thuật ngữ chỉ khả năng mà Nhà
nước, pháp luật hoặc xã hội công nhận để chủ thể nào đó nêu ra điều gì với
một chủ thể khác, tỏ ý muốn chủ thể đó làm, vì đó là việc thuộc nhiệm vụ,
trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của chủ thể ấy.
- Khái niệm “quyền và lợi ích hợp pháp”
Như trên đã nêu, “quyền” là “điều mà Nhà nước và pháp luật hoặc xã
hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”, “lợi ích” là điều có
ích, có lợi cho một tập thể người nhất định hay cho một cá nhân nào đó trong
mối quan hệ với tập thể ấy.
Quyền và lợi ích là một phạm trù mang tính xã hội và cũng mang tính
quan niệm chung, đương sự là những người tham gia vào quá trình giải quyết
VADS vì có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong VADS. Tuy nhiên, các
nhà luật học chưa đưa ra một khái niệm toàn diện về đương sự trong TTDS.
Để xác định được khái niệm “đương sự trong TTDS”, trước hết phải
làm rõ TTDS là gì? Thông thường, tố tụng được hiểu là “việc kiện cáo trước
Tòa án”5. Do đó, TTDS được hiểu là việc kiện cáo trước Tòa án về các
QHPLDS.
Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta vẫn tồn tại hai quan điểm khác nhau về
tố tụng dân sự. Quan điểm thứ nhất cho rằng, TTDS là trình tự, thủ tục giải
quyết một QHPLDS gồm khởi kiện, thụ lý, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm,
xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm (nếu có) mà không bao
gồm hoạt động thi hành án. Những người đồng tình với quan điểm này xuất
phát từ lập luận công tác thi hành án dân sự mang tính mệnh lệnh, bắt buộc là
đặc trưng của hoạt động tố tụng hành chính chứ không mang đặc trưng của
QHPLDS là tính bình đẳng. Quan điểm thứ hai cho rằng, TTDS không chỉ là
quá trình giải quyết VVDS mà bao gồm cả hoạt động giải quyết VVDS và thi
hành án dân sự. Người viết đồng tình với quan điểm thứ hai. Vì mục đích của
3
Nguyễn Hữu Đắc (Trưởng ban biên soạn) , “Từ điển Luật học”, NXB Từ điển Bách khoa,
Hà Nội, 1999, tr 165.
4 Nguyễn Triều Dương – tlđd chú thích 2, tr.8.
5 Nguyễn Lân – “Từ điển từ và ngữ Hán - Việt”, NXB Văn Học, Hà Nội, 2002, tr 687.
9
nguyên đơn khi tham gia tố tụng dân sự là để được bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của mình. Nếu như quá trình tố tụng chỉ dừng lại ở việc Tòa án
ra quyết định, bản án giải quyết VVDS và bản án quyết định đó có hiệu lực
như sau, “nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo nhằm đảm bảo các chủ thể khi thấy quyền,
lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, lợi ích công cộng hoặc lợi ích của
Nhà nước bị xâm phạm thì có quyền đưa ra đề nghị đối với Tòa án để Tòa án
bảo vệ những quyền, lợi ích hợp pháp đã được công nhận trước đó”.
Trên cơ sở định nghĩa nêu trên, để phù hợp với phạm vi, tác giả cũng
mạnh dạn đưa ra định nghĩa: “nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS là những tư tưởng pháp lý chỉ
đạo nhằm đảm bảo các chủ thể khi thấy quyền, lợi ích hợp pháp của mình,
của Nhà nước hoặc lợi ích công cộng bị xâm phạm thì có quyền đưa ra đề
nghị đối với Tòa án để Tòa án căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình bảo
vệ những quyền, lợi ích mà được Nhà nước, pháp luật hoặc cộng đồng, tập
thể đã công nhận trước đó”.
1.2. Cơ sở của nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự
Nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho đương sự là một đảm bảo cho đương sự khi tham gia vào quá trình tố
tụng. Qua nghiên cứu, người viết nhận thấy PLTTDS quy định nguyên tắc
quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự dựa
trên các cơ sở sau:
1.2.1. Cơ sở lý luận
Xét về mặt lý luận thì quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự trong TTDS được pháp luật quy định trước hết xuất phát từ
mối quan hệ giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân, từ mối quan hệ giữa công
nhận và bảo đảm thực hiện các quyền và lợi ích của các chủ thể trong xã hội.
Có thể nói, quyền và lợi ích vừa là động lực để các chủ thể tham gia
các quan hệ xã hội nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến các xung
đột, mâu thuẫn trong xã hội. Xã hội được coi là sản phẩm của mối quan hệ
Quốc gia Hà Nội, tr.229.
6
12
pháp luật của các chủ thể khác nhau nên trong thực tiễn vẫn tồn tại thậm chí
ngày càng nhiều tình trạng chủ thể này xâm phạm đến quyền và lợi ích của
chủ thể khác hoặc tranh chấp với chủ thể khác. Trong lĩnh vực dân sự, cùng
với sự phát triển của kinh tế-xã hội, các vụ việc liên quan đến quyền và lợi ích
diễn ra ngày càng phổ biến và phức tạp. QHPLDS bản chất là việc của các
bên, do đó, việc giải quyết hoàn toàn xuất phát và dựa trên ý chí tự nguyện
của các chủ thể.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khi các bên trong QHPLDS tự giải quyết
các xung đột thì nhiều trường hợp các mâu thuẫn, tranh chấp không thể được
giải quyết. Do đó, một yêu cầu đặt ra là Nhà nước phải trao cho các chủ thể
những phương tiện pháp lý cần thiết để chủ thể có quyền có thể tự bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời thiết lập cơ chế giải quyết yêu
cầu bảo vệ quyền và lợi ích cho người có quyền và lợi ích bị xâm phạm. Một
trong những phương tiện pháp lý đó là trao cho người có quyền và lợi ích bị
xâm phạm có quyền yêu cầu Nhà nước thông qua một cơ quan chuyên môn
bảo vệ quyền và lợi ích của mình.
Tòa án là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam. Theo quy định
của pháp luật, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Do đó, Tòa án có quyền lực
để buộc người vi phạm chấm dứt các hành vi trái pháp luật và khắc phục hậu
quả của nó do đó kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Như vậy, thực tiễn ý thức pháp luật của các chủ thể và khả năng tự giải
quyết các tranh chấp dân sự trong xã hội Việt Nam cho thấy việc pháp luật
bản pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể trong các lĩnh vực:
dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động… Vì xác định
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể nên trong việc đảm bảo nguyên tắc quyền
yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS,
pháp luật nội dung đầy đủ, chặt chẽ là một trong những yếu tố nền tảng, là cơ
sở cho việc thực hiện nguyên tắc. Chỉ khi hệ thống các quy phạm pháp luật quy
định về quyền và nghĩa vụ dân sự tương đối chặt chẽ thì mới xác định được khi
nào quyền và lợi ích hợp pháp đó đang bị xâm phạm, cần được bảo vệ.
Bên cạnh hệ thống quy phạm pháp luật nội dung thì pháp luật hình thức
cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguyên tắc quyền yêu cầu
14
Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS. Nếu như
pháp luật nội dung quy định các quyền, lợi ích và nghĩa vụ của chủ thể thì
pháp luật hình thức được hiểu là các quy phạm pháp luật xác định cơ chế, quy
trình, thủ tục pháp lý nhằm đưa các quy định trong các quy phạm pháp luật
nội dung vào cuộc sống.
Để thực hiện được nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền,
lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS thì PLTTDS ngoài việc phải quy
định rõ quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, người
tiến hành tố tụng dân sự và người tham gia tố tụng dân sự thì còn phải quy
định cụ thể trình tự, thủ tục tố tụng dân sự từ việc khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết vụ việc đến việc thụ lý, lập hồ sơ, hòa giải và xét xử giải quyết
VVDS. Các nội dung này cần phải được pháp luật tố tụng dân sự quy định
đầy đủ, cụ thể và khoa học để tạo thuận lợi khi thực hiện.
1.3.2. Hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án
Trong đảm bảo thực hiện nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS, nếu chỉ pháp luật đầy
Pháp luật có đầy đủ các quy định xác định quyền và nghĩa vụ dân sự
của các chủ thể đồng thời cũng quy định trình tự, thủ tục và các điều kiện
pháp lý cần thiết để đảm bảo các quyền và nghĩa vụ đó được thực hiện trong
thực tiễn. PLTTDS cũng quy định nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp trong TTDS. Theo quy định, đây là trách nhiệm
của đương sự đồng thời cũng là quyền của các đương sự. Do đó, bên cạnh
hoạt động của Tòa án thì nhận thức pháp luật của đương sự về quyền của
mình cũng là một trong những yếu tố góp phần thực hiện có hiệu quả nguyên
tắc này của PLTTDS.
Trong nhiều trường hợp, vì nhận thức pháp luật của đương sự chưa cao
hoặc vì các lý do khác nên để bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình
khi tham gia tố tụng tại Tòa án, đương sự rất cần sự giúp đỡ, hõ trợ về mặt
pháp lý của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác.
Sự giúp đỡ của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác như luật sư, nhân
viên của các Trung tâm hỗ trợ pháp lý hoặc tổ chức xã hội trong quá trình
đương sự tham gia tố tụng sẽ giúp khắc phục được tình trạng đương sự nhận
8
TANDTC (1996), “Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật
Tố tụng dân sự”, đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Hà Nội, tr.9.
16
thức chưa đúng, chưa đủ các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của
mình khi tham gia tố tụng. Đồng thời, sự giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức này
cũng tạo ra sự cân bằng trong việc tham gia tố tụng giữa các bên đương sự
nhất là trong các VADS mà điều kiện tham gia tố tụng của các đương sự rất
khác nhau: một bên là cá nhân, bên còn lại là tổ chức chính trị-xã hội.
Ngoài ra, một số tổ chức khác như Hội Liên hiệp phụ nữ, Công đoàn,
phản đối yêu cầu; quyền bình đẳng trong cung cấp chứng cứ và được biết
chứng cứ bên kia cung cấp; quyền yêu cầu Tòa án tiến hành những biện pháp
thu thập chứng cứ; quyền yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT; quyền tham gia
hòa giải; quyền tham gia phiên tòa; quyền kháng cáo bản án, quyết định;
quyền đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm… cũng được
thực hiện. Từ đó, những tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự
được xem xét, những quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm.
Với Tòa án, để nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho đương sự được bảo đảm trong thực tiễn thì bản thân các Tòa
án phải đảm bảo thực hiện tốt các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình.
Trong đó, không chỉ thẩm phán, thư kí Tòa án mà các cán bộ khác của Tòa án
cũng phải thực hiện tốt nhiệm vụ, vai trò của mình. Chẳng hạn, cán bộ thụ lý
hồ sơ phải thực hiện tốt công việc thì quyền khởi kiện của đương sự mới được
bảo đảm; quyền sao chụp chứng cứ do đương sự bên kia cung cấp chỉ được
đảm bảo khi cán bộ phụ trách công tác này thực hiện đúng quy định của pháp
luật; cán bộ tống đạt văn bản giấy tờ làm tốt nhiệm vụ là điều kiện để quyền
được thông tin của đương sự được bảo đảm… Do đó, có thể nói các quy định
của pháp luật về quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự trong TTDS là yếu tố góp phần, nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh
thần làm việc của mỗi cán bộ Tòa án từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của
Tòa án, củng cố uy tín của cơ quan xét xử, nâng cao lòng tin của nhân dân
vào công lý.
Với Nhà nước, khi nguyên tắc quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm góp phần thực hiện thắng lợi
chủ trương của Đảng và Nhà nước về chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích của
18
nhân dân. Vì vậy, ngoài ý nghĩa thực hiện dân chủ trong tố tụng dân sự , đảm