Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nuôi con nuôi thực tế trong pháp luật hôn nhân và gia đình - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ THANH VÂN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NUÔI CON NUÔI THỰC TẾ TRONG PHÁP LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phương Lan

HÀ NỘI - NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào khác. Những nội dung trong luận văn có sử dụng
tài liệu tham khảo đều trích dẫn nguồn đầy đủ.

Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

Học viên

Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 2/2/2012
của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều
của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia
đình và chứng thực

Nghị định 19/2011/NĐ-CP

Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011
của Chính phủ quy định chi tiết và thi hành
một số điều của Luật Nuôi con nuôi

Nghị quyết 01/1988/NQHĐTP

Nghị quyết 01/1988/NQ-HĐTP ngày
20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số
quy định của Luật Hôn nhân và gia đình

Thông tư 81/1981/TANDTC

Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết
các tranh chấp về thừa kế

Sắc lệnh số 97-SL

Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 sửa đổi
một số quy lệ và chế định trong dân luật

Sắc lệnh số 159-SL

11

1.2.1. Nuôi con nuôi thực tế là quan hệ xã hội tồn tại khách quan

11

1.2.2. Quan hệ cha mẹ con được hình thành, tồn tại trong thực tế

12

1.2.3. Các bên chủ thể đáp ứng đầy đủ điều kiện mà pháp luật quy

13

định tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi
1.2.4. Việc nuôi con nuôi thực tế là vì mục đích nhân đạo, không trái

14

pháp luật, đạo đức xã hội
1.2.5. Việc nuôi con nuôi không đăng ký tại cơ quan nhà nước có

15

thẩm quyền
1.3. Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về nuôi con nuôi thực tế

16

1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến nuôi con nuôi thực tế


nuôi thực tế sau khi Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực
3.1.1. Thực trạng nuôi con nuôi thực tế

52


3.1.2. Việc giải quyết vấn đề nuôi con nuôi thực tế sau khi Luật Nuôi

57

con nuôi có hiệu lực
3.2. Những bất cập trong quy định pháp luật về nuôi con nuôi thực tế
3.2.1. Việc giải quyết quan hệ nuôi con nuôi thực tế khi bên nhận

66
66

nuôi hoặc bên được nhận nuôi đã chết
3.2.2. Việc giải quyết các trường hợp nuôi con nuôi thực tế từ sau

71

ngày 31/12/2015
3.2.3. Vấn đề nuôi con nuôi thực tế có yếu tố nước ngoài

74

3.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi thực tế


người không hiểu, không nắm rõ các quy định của pháp luật về đăng ký nuôi
con nuôi tại cơ quan có thẩm quyền. Và trong tâm lý truyền thống của người
Việt Nam, một cá nhân hay gia đình nhận một đứa trẻ làm con nuôi thường
được giữ kín, coi đây là bí mật và không muốn công khai. Nuôi con nuôi thực
tế vì những nguyên nhân trên mà xuất hiện, tồn tại như một hiện tượng xã hội
phổ biến, trong một thời gian dài và mang tính lịch sử.
Nhìn nhận vấn đề này, Luật Nuôi con nuôi 2010 đã có quy định cho
phép đăng ký nuôi con nuôi thực tế trong thời hạn từ ngày 1/1/2011 – thời
điểm có hiệu lực của Luật Nuôi con nuôi 2010 đến hết ngày 31/12/2015. Cùng
với đó là những quy định hướng dẫn cụ thể quy trình, thủ tục tiến hành đăng


2

ký nuôi con nuôi thực tế tại Nghị định 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và thi
hành Luật Nuôi con nuôi. Việc quy định cụ thể, rõ ràng về vấn đề này cũng
như tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đăng ký nuôi con nuôi thực tế đã giúp
nâng cao ý thức người dân. Trong thời hạn luật định, nhiều trường hợp đã
được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Một số những trường hợp gặp khó
khăn vướng mắc về thủ tục như thiếu giấy tờ chứng minh quan hệ nuôi con
nuôi thực tế, các bên không đủ điều kiện theo luật định cũng đã được cơ quan
có thẩm quyền cân nhắc, xem xét công nhận. Tuy nhiên, hiện tại, thời hạn
đăng ký nuôi con nuôi thực tế đã hết và theo thống kê từ báo cáo các địa
phương cập nhật, vẫn còn các trường hợp nuôi con nuôi thực tế chưa tiến hành
đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Một trong số đó là do những vướng mắc
pháp lý chưa được tháo gỡ trong quá trình đăng ký nuôi con nuôi thực tế.
Trong khi đó, việc không đăng ký nuôi con nuôi sẽ mang đến hậu quả là quan
hệ nuôi con nuôi không được thừa nhận. Điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến
lợi ích của các bên khi tham gia các giao dịch dân sự hoặc khi có phát sinh
quan hệ thừa kế.

Trên phạm vi các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, nuôi con nuôi
thực tế cũng được một số cá nhân, tập thể quan tâm tìm hiểu. Trong đề tài
nghiên cứu khoa học cấp trường của sinh viên Nguyễn Thị Mỹ Nhanh, Đại
học Cần Thơ, vấn đề nuôi con nuôi thực tế đã được nhìn nhận khá tập trung
với đề tài Nuôi con nuôi thực tế ở Việt Nam theo pháp luật hiện hành năm
2011. Tuy nhiên, nội dung phân tích còn khá ít, chưa bao quát hết được các
vấn đề. Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Trường Đại học
Luật Hà Nội, do TS. Ngô Thị Hường chủ nhiệm năm 2007, vấn đề nuôi con
nuôi thực tế cũng được đề cập trong chuyên đề Một số quan niệm và hình thức
nuôi con nuôi ở Việt Nam của tác giả Ngô Thị Hường. Nhưng, trong chuyên
đề này, nuôi con nuôi thực tế được đề cập với tư cách là một hình thức nuôi
con nuôi và chỉ được trình bày khá ngắn gọn các đặc điểm tiêu biểu mà chưa
có những nhận xét, đánh giá, phân tích sâu sắc.
Thêm nữa, các công trình khoa học có liên quan đến nuôi con nuôi thực
tế đều được nghiên cứu trước hoặc khi Luật Nuôi con nuôi 2010 bắt đầu có
hiệu lực thi hành và quy định về vấn đề nuôi con nuôi thực tế tại Điều 50. Do
đó, sự đánh giá quan hệ nuôi con nuôi thực tế không còn phù hợp với tình
hình thời điểm hiện tại khi đã hết thời hạn đăng ký theo luật định. Việc đưa ra
nghiên cứu toàn diện, cụ thể về nuôi con nuôi thực tế trong thời điểm hiện nay
vẫn chưa được quan tâm sâu sắc. Bởi vậy, luận văn muốn đi sâu tìm hiểu một


4

cách khái quát và toàn diện về vấn đề này, đặc biệt là trong thời điểm thời hạn
đăng ký nuôi con nuôi thực tế theo luật định đã kết thúc.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
 Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về nuôi con nuôi thực tế, quy định
của pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp luật nuôi con nuôi về nuôi con nuôi
thực tế và thực trạng nuôi con nuôi thực tế ở Việt Nam hiện nay cũng như

con nuôi thực tế?
2- Pháp luật Việt Nam trong từng giai đoạn quy định về nuôi con nuôi
thực tế?
3- Thực trạng nuôi con nuôi thực tế trong xã hội và việc triển khai đăng ký
nuôi con nuôi thực tế đã được thực hiện ra sao, mang lại những kết quả gì?
4- Pháp luật về nuôi con nuôi thực tế còn những hạn chế gì và hướng giải
quyết trong thời gian tới về vấn đề nuôi con nuôi thực tế như thế nào?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương pháp chủ yếu sau đây:
+ Phương pháp luận: chủ nghĩa duy vật biến chứng và duy vật lịch sử.
+ Phương pháp phân tích và so sánh pháp luật.
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích.
+ Phương pháp thống kê.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Với đề tài này, luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:
Thứ nhất, luận văn đã làm rõ và sâu sắc hơn về nuôi con nuôi thực tế,
đặc điểm pháp lý, một số yếu tố ảnh hưởng và ý nghĩa của việc quy định về
nuôi con nuôi thực tế.
Thứ hai, luận văn đã phân tích và đánh giá một cách đầy đủ pháp luật
Việt Nam từ thời kỳ phong kiến cho đến nay điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi
thực tế.
Thứ ba, luận văn cũng phân tích một số điểm bất cập và hạn chế của
pháp luật Việt Nam hiện hành về nuôi con nuôi thực tế.
Thứ tư, luận văn đánh giá về thực trạng nuôi con nuôi thực tế và tình
hình triển khai công tác đăng ký nuôi con nuôi thực tế trên phạm vi toàn quốc
trong 5 năm qua và đề xuất hướng giải quyết vấn đề nuôi con nuôi thực tế
trong thời gian tới.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 phần:

con như giữa cha mẹ đẻ và con đẻ. Xét tổng thể, định nghĩa trên được nhìn
nhận trên nhiều khía cạnh và khá toàn diện, chỉ ra được các đặc điểm cơ bản
của con nuôi, phân biệt con nuôi với con đẻ. Tuy nhiên, định nghĩa này chỉ đề
cập con nuôi là con của vợ và chồng. Các trường hợp con nuôi do người độc
thân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng chưa được thể hiện trong định nghĩa này.
Về mặt pháp lý, khái niệm “con nuôi” cũng được nhiều các học giả
quan tâm khi nghiên cứu vấn đề này. Từ điển Luật học do nhà xuất bản Từ
điển bách khoa xuất bản năm 1999 định nghĩa “con nuôi là người được một
người khác không phải là cha, mẹ nhận làm con và giữa hai người có mối
quan hệ gắn bó như cha, mẹ với con”[10, tr.12]. Việc sử dụng từ “hai người”
với nghĩa là hai cá nhân sẽ không xác định rõ được chủ thể của quan hệ. Quan
hệ nuôi con nuôi không phải chỉ gồm hai người, hai cá nhân trong mọi trường
hợp. Khi một cặp vợ chồng nhận trẻ em làm con nuôi, mối quan hệ này sẽ có
sự tham gia của ba chủ thể là cá nhân. Nên thay từ “hai người” thành “hai


8

bên” thì sẽ hợp lý và chính xác hơn. Như vậy, cách định nghĩa này có sự diễn
đạt không chính xác và đầy đủ.
Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Phương Lan, khái niệm về con
nuôi được hiểu như sau:
“Con nuôi là người có đủ điều kiện do pháp luật quy định, được một
người hoặc hai người là vợ chồng nhận làm con qua những thủ tục pháp lý
nhất định, mà giữa hai bên không có quan hệ huyết thống trực hệ, không sinh
thành ra nhau và không phải là anh chị em ruột của nhau”[10, tr.13].
Khái niệm này đã đưa ra một cách hiểu ngắn gọn và đầy đủ, bảo đảm
đủ các dấu hiệu nhận biết về con nuôi gồm:
 Là người đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
 Là người không có quan hệ huyết thống, không do người nhận con

Là người được một người hoặc hai người là vợ chồng nhận nuôi dưỡng,
chăm sóc, yêu thương, coi như con đẻ nhưng hai bên không có quan hệ huyết
thống trực hệ với nhau.
Là người được nhận nuôi không thông qua thủ tục đăng ký tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền.
Là người đủ điều kiện về chủ thể theo quy định của pháp luật vào thời
điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi.
Tóm lại, từ những dấu hiệu trên, con nuôi thực tế có thể được định
nghĩa là người có đủ điều kiện do pháp luật quy định, được một người hoặc
hai người là vợ chồng nhận làm con, chăm sóc, nuôi dưỡng trên thực tế và coi
như con đẻ dù không có quan hệ huyết thống trực hệ, không được công nhận
bởi cơ quan có thẩm quyền vào thời điểm phát sinh việc nuôi con nuôi.
1.1.2. Khái niệm nuôi con nuôi thực tế
Khái niệm “nuôi con nuôi thực tế” dùng để mô tả mối quan hệ mà trong
đó các bên chủ thể tham gia gồm con nuôi thực tế và người nhận con nuôi
thực tế. Quan hệ này được nhìn nhận theo hai góc độ:
Thứ nhất, dưới góc độ xã hội, nuôi con nuôi thực tế là một dạng của
quan hệ xã hội bên cạnh nuôi con nuôi danh nghĩa và nuôi con nuôi lập tự.
Với nuôi con nuôi lập tự, là quan hệ nuôi con nuôi mà người nhận con nuôi và
người được nhận nuôi thiết lập quan hệ nhằm mục đích có người nối dõi,
chăm lo, phụng dưỡng tổ tiên sau này cũng như là người thừa kế khi người
nhận nuôi mất. Với nuôi con nuôi danh nghĩa, quan hệ nuôi con nuôi được
thiết lập có thể vì một phong tục tập quán, vì mê tín dị đoan hay vì lòng nhân
đạo, yêu thương, đùm bọc. Nhưng, quan hệ cha mẹ con giữa người nhận con


10

nuôi và người được nhận nuôi chưa thực sự được thiết lập. Người nhận nuôi
không chăm sóc, nuôi dưỡng người được nhận nuôi và thậm chí, người được


11

Tuy nhiên, vì không đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ
này không có cơ sở để được coi là một quan hệ pháp luật. Việc nuôi con nuôi
thực tế diễn ra một cách tự nhiên, không được đăng ký tại cơ quan có thẩm
quyền và không được pháp luật công nhận.
Như vậy, quan hệ nuôi con nuôi thực tế không đương nhiên là một quan
hệ pháp luật. Bởi tại thời điểm phát sinh việc nuôi con nuôi, thủ tục đăng ký
không được đảm bảo đúng theo quy định, pháp luật hoàn toàn không tham gia
và không biết về việc tồn tại quan hệ nuôi con nuôi này. Khi xác lập quan hệ
nuôi con nuôi thực tế, các bên không quan tâm đến việc có được sự công nhận
của pháp luật hay không. Chỉ khi phát sinh những tranh chấp, xung đột về lợi
ích, vấn đề được pháp luật công nhận mới đặt ra để có thể bảo vệ quyền lợi
chính đáng của họ. Việc có công nhận hay không công nhận quan hệ nuôi con
nuôi thực tế phụ thuộc vào ý chí của nhà nước. Chỉ khi được nhà nước thừa
nhận, được pháp luật công nhận, quan hệ cha mẹ con này mới phát sinh giá trị
pháp lý.
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về nuôi con nuôi thực tế
như sau: “nuôi con nuôi thực tế là quan hệ cha mẹ và con được thiết lập trên
thực tế giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi mà không tiến
hành thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, trong đó việc nuôi con nuôi
đảm bảo mục đích nhân đạo, vì lợi ích của trẻ em và các bên chủ thể đáp ứng
đầy đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát
sinh quan hệ nuôi con nuôi” .
1.2. Đặc điểm của quan hệ nuôi con nuôi thực tế
1.2.1. Nuôi con nuôi thực tế là quan hệ xã hội tồn tại khách quan
Nuôi con nuôi thực tế là việc các bên tự nguyện xác lập quan hệ cha mẹ
con trên thực tế mà không đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan có thẩm quyền.
Việc nuôi con nuôi hình thành tự nhiên dựa trên tình cảm, sự yêu thương và

con xuất hiện rõ ràng trên thực tế.
Trên cơ sở ý chí tự nguyện, tình cảm của các bên, quan hệ nuôi con
nuôi trên thực tế được hình thành. Việc nhận con nuôi là một hiện tượng
thường xuyên và liên tục. Người nhận nuôi không đơn giản là đón nhận người
được nhận nuôi và coi người đó là con của mình. Trong quan hệ nuôi con nuôi
đã tồn tại sự chăm sóc, nuôi dưỡng trên thực tế giữa cha mẹ với con. Người
nhận nuôi và người được nhận nuôi đã thực sự chung sống, sinh hoạt với nhau
như cha mẹ và con. Người nhận nuôi thực sự coi người được nhận nuôi là


13

con, chăm sóc nuôi dưỡng người được nhận nuôi. Ngược lại, người được nhận
nuôi cũng gắn bó coi người nhận nuôi như cha mẹ của mình, luôn tôn trọng,
phụng dưỡng. Các quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ và con đối với nhau được các
bên đảm bảo thực hiện một cách tự nguyện, tự giác.
Về mặt ý chí, tinh thần, giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi
thực sự phát sinh tình cảm gia đình. Hai bên thực sự muốn gắn bó, xác lập
quan hệ cha mẹ và con với nhau, một cách tự nguyện, không có sự cưỡng ép.
Việc tồn tại trên thực tế quan hệ cha mẹ con này được cộng đồng, xã
hội biết đến. Quan hệ nuôi con nuôi được công khai với họ hàng và những
người xung quanh. Những người xung quanh đều thừa nhận có sự chăm sóc,
nuôi dưỡng giữa người nhận nuôi với con nuôi trong quan hệ cha mẹ con.
1.2.3. Các bên chủ thể đáp ứng đầy đủ điều kiện mà pháp luật quy
định tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi
Nuôi con nuôi thực tế là quan hệ xã hội mà trong đó, các bên chủ thể
đáp ứng được điều kiện cho nhận con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời
điểm phát sinh quan hệ.
Các điều kiện về chủ thể của quan hệ nuôi con nuôi được pháp luật quy
định khác nhau tùy vào từng giai đoạn lịch sử. Pháp luật phong kiến hay pháp

những tiêu chí đánh giá để được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp
luật.
1.2.4. Việc nuôi con nuôi là vì mục đích nhân đạo, không trái pháp
luật và đạo đức xã hội
Nuôi con nuôi thực tế là một quan hệ xã hội phù hợp với các chuẩn
mực, không trái với đạo đức, truyền thống văn hóa của quốc gia, dân tộc. Mối
quan hệ nuôi con nuôi thực tế được hình thành và xác lập hoàn toàn dựa trên
cơ sở tình cảm, ý chí tự nguyện của các bên. Việc nhận nuôi con nuôi có thể
xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau như cần có con để nối dõi, để cầu
may mắn hoặc có thể do tình yêu thương đối với trẻ em nhưng đều hướng đến
mục đích nhân đạo, nhân văn là tạo cho trẻ em có một mái ấm gia đình.
Những việc nuôi con nuôi nhằm mục đích cưỡng ép, bóc lột sức lao động
không được coi là nuôi con nuôi thực tế.
Cùng với đó, việc nuôi con nuôi thực tế cũng không trái với pháp luật,
không trái với những nguyên tắc, quy định chung về nuôi con nuôi. Đó là
những quy định về mục đích nuôi con nuôi như nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ
và con lâu dài, bền vững, là những nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện, bình
đẳng nam, nữ, vì lợi ích tốt nhất của người nhận nuôi…


15

Để đảm bảo mục đích của việc nuôi con nuôi, nuôi con nuôi thực tế
cũng đáp ứng tiêu chí không trái với đạo đức xã hội. Đạo đức xã hội là những
chuẩn mực xã hội được đông đảo các cá nhân trong cộng đồng thừa nhận, tuân
thủ. Đối với việc nuôi con nuôi thực tế, các chuẩn mực đạo đức xã hội là các
chuẩn mực đạo đức của quan hệ cha mẹ con. Theo đó, người nhận con nuôi và
con nuôi yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Một người nhận trẻ em làm con nuôi
trên cơ sở tình cảm quý mến và trong quá trình chăm sóc, chung sống không
có những hành vi làm tổn thương, đánh đập, hành hạ trẻ em. Con nuôi khi

bên. Sự kiện pháp lý có thể là một bên trong quan hệ chết trước làm phát sinh
quyền thừa kế của bên còn lại, hay đại diện pháp luật giữa các bên… Việc
không đăng ký nuôi con nuôi khiến tư cách cha mẹ nuôi hay con nuôi của các
bên khi có sự kiện pháp lý xuất hiện không thể được chứng minh bởi một
bằng chứng pháp lý. Trong trường hợp có tranh chấp phát sinh, để đảm bảo
lợi ích của các bên và duy trì trật tự xã hội, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
mới xét đến vấn đề công nhận hay không việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên
thực tế nhưng chưa đăng ký theo thủ tục pháp luật quy định.
Việc pháp luật công nhận quan hệ nuôi con nuôi thực tế không đương
nhiên xảy ra. Tùy từng giai đoạn cụ thể và phụ thuộc ý chí của nhà nước, pháp
luật mới thừa nhận nuôi con nuôi thực tế là có giá trị pháp lý. Khi có sự thừa
nhận của pháp luật, quan hệ nuôi con nuôi thực tế mới là một quan hệ được
pháp luật điều chỉnh, quyền và lợi ích pháp lý của các bên mới được bảo đảm.
Hơn thế nữa, pháp luật của từng giai đoạn lại có sự quy định khác nhau khi
thừa nhận về nuôi con nuôi thực tế. Điều đó đòi hỏi khi xem xét việc có công
nhận nuôi con nuôi thực tế hay không phải gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể
tại thời điểm phát sinh quan hệ cũng như quá trình thực hiện việc nuôi con
nuôi thực tế đó.
Tóm lại, nuôi con nuôi thực tế phải đảm bảo chứa đựng tất cả các dấu
hiệu trên. Các dấu hiệu có sự tác động qua lại một cách hữu cơ với nhau, thể
hiện bản chất của việc nuôi con nuôi thực tế. Điều này tạo nên tính đặc thù
cho quan hệ này trong lĩnh vực nuôi con nuôi.
1.3. Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về nuôi con nuôi thực tế
Nuôi con nuôi thực tế là một quan hệ xã hội tồn tại khách quan. Tính
chất đặc thù của nuôi con nuôi thực tế là việc các bên sinh sống cùng nhau, ổn
định, lâu dài nhằm xác lập quan hệ cha mẹ con, thực hiện các quyền và nghĩa
vụ giữa hai bên với nhau. Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi nảy sinh tình cảm, sự
gắn bó, yêu thương lẫn nhau. Mặt khác, quan hệ này cũng phù hợp với mục



này không được thừa nhận. Không chỉ quyền, lợi ích chính đáng của các bên
không được đảm bảo, quyền và lợi ích của những người liên quan cũng bị ảnh
hưởng. Bởi vậy, thực tế đã nảy sinh những tranh chấp. Việc điều chỉnh quan


18

hệ nuôi con nuôi thực tế tạo cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp, đảm bảo
quyền lợi của các bên trong quan hệ dân sự như thừa kế, đại diện pháp luật,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Nuôi con nuôi thực tế cần thiết phải được pháp luật điều chỉnh nhưng
việc xem xét công nhận giá trị pháp lý của quan hệ này như thế nào cũng cần
được cân nhắc tùy vào từng giai đoạn lịch sử nhất định. Pháp luật không
khuyến khích việc nuôi con nuôi thực tế tiếp tục phát sinh. Nếu luôn công
nhận giá trị pháp lý của nuôi con nuôi thực tế thì quy định về đăng ký nuôi
con nuôi sẽ không được đảm bảo tuân thủ. Pháp luật quy định việc đăng ký
nuôi con nuôi là để nâng cao ý thức của người dân trong việc xác lập quan hệ
nuôi con nuôi khi họ có mong muốn, bên cạnh mục đích quản lý nhà nước về
nuôi con nuôi. Mặt khác, xã hội càng phát triển hiện đại, văn minh, khoa học
pháp lý ngày càng hoàn thiện thì quy định về nuôi con nuôi nói chung và đăng
ký nuôi con nuôi nói riêng ngày càng cụ thể và phù hợp, đảm bảo việc đăng
ký xác lập quan hệ là dễ dàng với mọi người dân. Trong xã hội hiện đại, trình
độ dân trí ngày một nâng cao, người dân cũng sẽ có ý thức tôn trọng các quy
định của pháp luật về đăng ký nuôi con nuôi để đảm bảo quyền, lợi ích của
mình cũng như tính pháp chế của nhà nước. Việc nuôi con nuôi thực tế cũng
vì vậy sẽ giảm đi. Nhưng dù vậy, nuôi con nuôi thực tế là một hiện tượng xã
hội khách quan phù hợp với tình cảm, ý chí của các bên, có ý nghĩa với các
bên. Trong nhiều trường hợp vẫn cần thiết phải công nhận quan hệ nuôi con
nuôi thực tế dù có thể việc xem xét công nhận sẽ tùy thuộc vào các giai đoạn
lịch sử khác nhau.

nhận của pháp luật, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thứ hai, nuôi con nuôi thực tế chịu tác động bởi yếu tố lịch sử. Đất
nước ta phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh kéo dài. Trong thời kỳ phong
kiến, Việt Nam thường xuyên tiến hành các cuộc kháng chiến chống quân
xâm lược từ phương Bắc. Đến thời kỳ cận đại, đất nước ta lại phải đương đầu
với sự áp bức của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, phải tiến hành các cuộc cách
mạng nhân dân để có thể giành độc lập, tự do, toàn vẹn, thống nhất lãnh thổ.
Chiến tranh đi qua, để lại những tổn thất về vật chất cũng như tinh thần cho
người dân. Rất nhiều gia đình phải chịu cảnh ly tán trong các cuộc chiến
tranh. Nhiều người chết, hy sinh, nhiều cha mẹ mất con và nhiều trẻ em mồ
côi, bơ vơ, không nơi nương tựa. Với tấm lòng nhân đạo, yêu thương, đùm
bọc lẫn nhau, nhiều người nhận trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn tình
cảm, vật chất làm con, chung sống, nuôi dưỡng và chăm sóc những trẻ em này


20

như con đẻ. Việc nhận con nuôi hoàn toàn xuất phát từ ý chí tự nguyện, mong
muốn tự nhiên của người nhận con nuôi. Quan hệ này do các bên xác lập, phù
hợp với tình cảm, ý chí của các bên, được công nhận bởi chính họ và những
người xung quanh. Quan hệ nuôi con nuôi cũng đã tồn tại và ổn định. Họ cho
rằng việc đăng ký nuôi con nuôi là không còn cần thiết và họ chấp nhận quan
hệ nuôi con nuôi không được xác lập bởi một thủ tục pháp lý mà chưa lường
trước được những hệ quả phát sinh khi không thực hiện thủ tục này.
Bên cạnh đó, ảnh hưởng của yếu tố lịch sử còn được thể hiện trên
phương diện sự quy định khác nhau của pháp luật về nuôi con nuôi ở từng giai
đoạn. Đầu mối cơ quan quản lý vấn đề nuôi con nuôi ở các giai đoạn lịch sử
lại được giao cho các đơn vị khác nhau. Chỉ tính từ sau khi đất nước giành
được độc lập và định hướng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa (năm
1954), pháp luật đã nhiều lần thay đổi đầu mối cơ quan quản lý về vấn đề này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status