PHẠM VĂN GIANG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TỪ THỰC
TIỄN TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
PHẠM VĂN GIANG
2014 - 2016
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TỪ THỰC
TIỄN TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
PHẠM VĂN GIANG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
bảo, giúp đỡ, định hướng và trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình hình thành và hoàn
thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn khoa sau Đại học, các khoa và các phòng ban của Viện
Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi được hoàn thành khóa học và hoàn thành
luận văn này.
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, dù đã có rất nhiều cố gắng
nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quí thầy, quí cô
cùng các anh, chị và bạn bè quan tâm góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Văn Giang
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu viết tắt
Nội dung cụ thể
1
BVNTD
Bảo vệ người tiêu dùng
2
1.1.2.1. Khái niệm thiết chế bảo vệ người tiêu dùng.....................................13
1.1.2.2. Các thiết chế bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam............................15
1.2. Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về địa vị pháp lý của cơ quan quản
lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng…....................................................................19
1.2.1. Khái niệm địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu
dùng.....................................................................................................................................19
1.2.2. Nội dung cơ bản của địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo
vệ người tiêu dùng............................................................................................................20
1.2.2.1. Chức năng và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ
người tiêu dùng ở Trung ương trong việc bảo vệ người tiêu dùng................................20
1.2.2.2. Chức năng và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ
người tiêu dùng ở địa phương trong việc bảo vệ người tiêu dùng............................25
1.3. Kinh nghiệm bảo vệ người tiêu dùng của cơ quan nhà nước ở một số nước
trên thế giới..............................................................................................................29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG...........................35
2.1. Đặc thù trong việc bảo vệ người tiêu dùng ở tỉnh Hải Dương………..........35
2.2. Chức năng và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người
tiêu dùng ở tỉnh Hải Dương trong việc bảo vệ người tiêu dùng............................36
2.2.1. Trách nhiệm, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương...............36
2.2.2. Trách nhiệm, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp huyện ở Hải Dương..39
2.2.3. Trách nhiệm, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp xã ở Hải Dương........40
2.3. Đánh giá thực tiễn hoạt động của cơ quan nhà nước về bảo vệ người tiêu
dùng tại tỉnh Hải Dương.........................................................................................41
2.3.1. Những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh
Hải Dương...............................................................................................................41
2.3.2. Một số tồn tại, hạn chế trong công tác bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh
dụng hàng hóa, dịch vụ thiếu an toàn, không đạt tiêu chuẩn, đặc biệt là thực phẩm,
mỹ phẩm, dược phẩm. Ngày càng có thêm nhiều vụ việc vi phạm quyền lợi người
tiêu dùng bị phát hiện. Hiện trạng đó cho thấy, quyền lợi của người tiêu dùng Việt
Nam nói chung và người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng đang bị
xâm phạm nghiêm trọng. Tuy vậy, nhiều người tiêu dùng hiện nay chưa biết đến các
quyền và nghĩa vụ của mình nên khi quyền lợi bị xâm phạm họ không biết cách để
tự bảo vệ mình. Đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ, trong
nhiều trường họp đã vì mục tiêu lợi nhuận mà bỏ qua nghĩa vụ tuân thủ pháp luật và
trách nhiệm xã hội của mình.
Trong bối cảnh đó, sự hiện diện của chính sách pháp luật về bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng nói chung và hệ thống các quy định của pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng nói riêng, với ý nghĩa là rào chắn an toàn cho những thỏa thuận
không công bằng hoặc sự áp đảo của một bên là vô cùng quan trọng và cần thiết, về
lâu dài, việc thực thi những quy định pháp luật nói trên không chỉ mang lại lợi ích
cho cộng đồng người tiêu dùng, tức là toàn thể nhân dân Việt Nam, mà còn góp
phần thúc đẩy mạnh mẽ sản xuất, lưu thông hàng hóa và phát triển kinh tế, hướng
tới xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững.
Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ NTD được Đảng, Nhà nước coi là một trong
những vấn đề quan trọng trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển bền
vững của đất nước. Chính vì vậy, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống văn
bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo vệ người tiêu dùng được đánh giá là nhanh
và đồng bộ so với nhiều hệ thống văn bản pháp luật khác, góp phần tạo một hành
lang pháp lý vững chắc cho hoạt động bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam.
1
Mặt khác, để đảm bảo hệ thống các quy định pháp luật nêu trên được thực
thi nghiêm chỉnh và thống nhất trên thực tế, Việt Nam cũng đã thừa nhận sự hiện
diện của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, trong đó có hệ
Có thể thấy, các bài viết nêu trên đã nghiên cứu một số khía cạnh liên quan
về vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam.
Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu về địa vị pháp
lý trong thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương. Vì
vậy, có thể khẳng định, đề tài này là một đề tài có tính mới, mang tính thực tiễn cao.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các văn bản pháp luật hiện hành quy định về
cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng và thực trạng pháp luật về vai trò
của cơ quan này trong việc bảo vệ người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài trong giới hạn một đề tài luận văn thạc sĩ luật
học, đề tài không có tham vọng nghiên cứu tất cả các khía cạnh chính trị, kinh tế
ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng
mà chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của cơ quan
quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam nói chung và tại Hải Dương
nói riêng cũng như thực tiễn việc thực thi các nhiệm vụ bảo vệ người tiêu dùng của
các cơ quan này tại tỉnh Hải Dương.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu và đề xuất các giải pháp
nhằm hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà nước về bảo
vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương, qua đó góp phần đẩy mạnh công tác bảo vệ
người tiêu dùng tại địa phương. Để đạt được mục tiêu trên, đề tài đặt ra các nhiệm
vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của cơ quan quản lý nhà
nước về bảo vệ người tiêu dùng trong việc bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam.
+ Nghiên cứu những quy định của pháp luật về trách nhiệm, quyền hạn của
cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương.
+ Nghiên cứu thực trạng pháp luật về địa vị pháp lý của cơ quan quản lý nhà
nước về bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Hải Dương trong việc bảo vệ người tiêu dùng.
+ Đề ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trong hoạt động của cơ
4
CHƯƠNG 1
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
1.1. Khái quát về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng và các thiết chế bảo vệ
người tiêu dùng ở Việt Nam
1.1.1. Khái quát pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam
1.1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng
Dưới góc độ kinh tế, người tiêu dùng là một khái niệm chỉ những chủ thể tiêu
thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế. NTD là người mua nhưng khác với việc
mua nguyên liệu hoặc mua hàng để bán lại, họ là những người sử dụng hàng hóa,
dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó. Dưới
giác độ này, khái niệm NTD khác xa so với khái niệm người mua hàng. Khái niệm
người mua hàng rộng hơn so với khái niệm NTD, người mua hàng là bất cứ ai mua
hàng hóa, dịch vụ nhằm bất cứ mục đích gì. Dưới giác độ kinh tế, NTD là mọi chủ
thể (cá nhân, tổ chức) tiêu thụ hàng hóa cho mục đích tiêu dùng không phải cho
mục đích kinh doanh kiếm lời.
Dưới giác độ pháp lý, việc xác định chủ thể nào là NTD rất quan trọng vì đó là
đối tượng được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD. Khái niệm NTD chỉ xuất hiện
với tư cách là chủ thể pháp luật từ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ NTD ra đời.
Theo pháp luật bảo vệ NTD, NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với chủ thể
luật dân sự khác trong các giao dịch với thương nhân bán hàng hóa, dịch vụ. Sở dĩ,
NTD được ưu tiên so với thương nhân trong quan hệ tiêu dùng bởi họ có nhiều yếu
thế hơn như thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yếu về khả năng đàm phán khi
giao kết hợp đồng, yếu về khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dùng.
kiện kinh tế của các nhóm lợi ích khác nhau mà trong trường hợp này là NTD và các
doanh nghiệp, sự hợp tác và cạnh tranh giữa họ sẽ thường xuyên bất bình đẳng. Khi đó,
pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là rào chắn an toàn cho những thỏa thuận không công
bằng hoặc sự áp đảo của một bên.
Ở Việt Nam giai đoạn trước năm 1986, hầu như không có văn bản pháp lý
nào liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD. Bởi lẽ, hoàn cảnh đất nước vừa trải qua
6
những cuộc chiến tranh khốc liệt và một thời kì phục hồi sau chiến tranh, trong bối
cảnh đó mọi nguồn lực đều tập trung cho sự nghiệp giành độc lập, bảo vệ Tổ Quốc
và xây dựng đất nước nên nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm ở mức tối thiểu, họ
không quan tâm đến việc phải bảo vệ quyền lợi của mình. Mặt khác, thời kì này cơ
chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung được duy trì, Nhà nước kiểm soát toàn bộ các
yếu tố sản xuất và giữ quyền quyết định việc sử dụng các yếu tố sản xuất cũng như
phân phối sản phẩm nên NTD yên tâm về chất lượng hàng hóa và không có nhiều
sự lựa chọn.
Từ sau năm 1986 đến nay, nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với
sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Kết quả của bước chuyển mình này là hàng
hóa, dịch vụ được sản xuất ở Việt Nam đã trở nên phong phú hơn thời kì trước năm
1986, NTD bước đầu có quyền được lựa chọn những sản phẩm phù hợp nhất với nhu
cầu và túi tiền của mình thay vì buộc phải mua tem phiếu như trước kia, nhưng đồng
thời cũng phải đối mặt với nhiều nguy cơ, rủi ro từ việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ
thiếu an toàn, chất lượng kém do mặt trái của kinh tế thị trường đem lại.
Vào những năm 90 của thế kỉ 20, khi Việt Nam bắt đầu chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa,
chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được áp dụng đã khuyến
khích các thành phần kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh do đó người tiêu
chứa đựng quy phạm gián tiếp liên quan đến hoạt động bảo vệ NTD. Các văn bản
pháp luật trong nhóm này quy định những vấn đề sau: Ghi nhận các nguyên tắc
chung về bảo vệ quyền lợi NTD được thể hiện trong Hiến pháp 1992, Bộ luật dân sự
2005; quy định chung về kiểm soát sự gia nhập thị trường và điều tiết hoạt động
trên thị trường của các thương nhân trong Luật doanh nghiệp 2005; Luật đầu tư
2005; Luật thương mại 2005; Luật cạnh tranh 2004; Pháp lệnh giá; Pháp lệnh quảng
cáo 2003; Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật 2006; Luật chất lượng sản phẩm,
hàng hóa 2007; Pháp lệnh đo lường 1999; các quy định về nhãn hàng hóa; các quy
định điều tiết ngành, kiểm soát sự gia nhập thị trường và hoạt động trên thị trường
của thương nhân trong từng chuyên ngành (như y tế, thực phẩm, giao thông, xây
dựng, du lịch, ngân hàng, chứng khoán, bưu chính viễn thông) được quy định trong
Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989; Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân 2003;
Luật dược 2005; Luật kinh doanh bảo hiểm 2000; Luật các tổ chức tín dụng 1997;
Luật điện lực 2004; Pháp lệnh bưu chính, viễn thông 2000 (được thay thế bằng luật
bưu chính…); Luật chứng khoán 2006; Luật du lịch 2005, Luật Viễn thông 2009.
8
Sau hơn 10 năm thi hành, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD và các văn bản
hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này đã cơ bản đi vào cuộc sống; tạo lập hành lang
pháp lý để NTD tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nâng cao trách
nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; tạo cơ sở pháp lý để
các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng bảo vệ quyền lợi của NTD. Tuy nhiên,
trong quá trình thi hành, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản
có liên quan đến công tác bảo vệ NTD đã bộc lộ một số hạn chế như: Các quy định
về quyền, trách nhiệm của người tiêu dùng cũng như trách nhiệm của thương nhân
còn chung chung, chưa cụ thể rõ ràng khó thực thi trong thực tế; chưa có quy định
nhằm khôi phục lợi ích cho NTD cũng như chưa có quy định thừa nhận yêu cầu bảo
vệ đặc biệt đối với NTD; sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày
15/11/2013 quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất,
buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi NTD.
- Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 về việc ban hành Danh
mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng kí hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao
dịch chung.
- Quyết định số 35/2015/QĐ-TTG ngày 20/08/2015 của Thủ tướng Chính phủ
về việc sửa đổi, bổ sung quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 về việc
ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng kí hợp đồng theo mẫu,
điều kiện giao dịch chung.
- Quyết định số 1035/QĐ-TTg ngày 10/7/2015 của Thủ tướng chính phủ về
Ngày Quyền của NTD Việt Nam.
Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010) và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
này đã quy định những vấn đề chủ yếu sau:
- Điều 1 Luật bảo vệ quyền lợi NTD tiếp tục kế thừa định nghĩa về người tiêu
dùng quy định trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999. Theo đó, NTD được
xác định là cá nhân, gia đình hoặc tổ chức mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho
mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của mình.
- Luật đã quy định rõ các hành vi bị cấm trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi
NTD. Cụ thể là: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không được thực
hiện các hành vi sau: Lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho NTD thông qua hoạt động
quảng cáo hoặc che dấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch không chính xác
10
về hàng hóa, dịch vụ, về uy tín khả năng kinh doanh của mình; quấy rối NTD thông
qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng hoặc có hành vi
gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt bình thường của NTD; ép buộc
NTD giao dịch với mình khi NTD gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc dùng vũ lực, đe
quy định tại Điều 11 của Luật bảo vệ quyền lợi NTD. Theo đó, cá nhân kinh doanh
có thể bị xử lý chế tài hành chính, chế tài dân sự và chế tài hình sự. Tổ chức kinh
doanh có thể bị xử lý chế tài hành chính, chế tài dân sư. Cá nhân lợi dụng chức vụ
quyền hạn vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD thì tùy theo tính chất và mức độ
vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại
thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Trong lĩnh vực bảo vệ NTD, chế tài
hành chính được áp dụng phổ biến nhất. Hiện nay, các biện pháp xử lý hành chính
đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD được quy định chủ yếu tại Nghị định
19/2012/ND-CP của Chính phủ.
- Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD. Theo đó,
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD, Bộ Công thương
chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi
NTD, Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách
nhiệm phối hợp với Bộ Công thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền
lợi NTD, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương.
- Quy định vai trò, vị trí của tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi NTD.
Luật bảo vệ quyền lợi NTD đã xác định các tổ chức xã hội đều có trách nhiệm tham
gia vào công tác bảo vệ NTD chứ không phải chỉ có tổ chức bảo vệ NTD nói riêng
mới là tổ chức đại diện để bảo vệ quyền lợi NTD như quy định tại Nghị định
55/2008/ND-CP. Theo đó, vai trò của tổ chức xã hội nói chung và vai trò của Hội
bảo vệ NTD nói riêng trong việc bảo vệ NTD đã được nâng cao hơn trước.
Như vậy, một trong những nội dung quan trọng của pháp luật bảo vệ NTD là
đã xác định các thiết chế quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của NTD. Các cơ quan,
tổ chức này sẽ là chủ thể tham gia vào quá trình đưa pháp luật bảo vệ NTD vào thực
tiễn, để quyền lợi của NTD thực sự được đảm bảo.
12
niệm thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD như sau: “Thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD là
các cơ quan, tổ chức có chức năng giải quyết hoặc trực tiếp hỗ trợ giải quyết các
yêu cầu bảo vệ quyền lợi của NTD” [26].
Ở Việt Nam, hệ thống thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD cũng đã hình thành và
có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD. Cụ thể là:
Thứ nhất, bảo đảm cho các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
được tuân thủ.
Các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là rào chắn an toàn cho
những thỏa thuận không công bằng hoặc sự áp đảo của một bên, vì vậy là bộ phận
quan trọng, giữ vai trò trung tâm, chủ đạo trong chính sách bảo vệ quyền lợi NTD
của cả quốc gia. Tuy vậy, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của các
chủ thể tham gia thị trường trên thực tế, bao gồm cả các chủ thể sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ và NTD không phải lúc nào cũng đúng, mặc dù những chủ
thể này có thể biết hoặc không biết. Vì vậy, sự hiện diện của các thiết chế bảo vệ
NTD sẽ đóng vai trò thực thi những quy định, quy tắc ấy.
Thứ hai, là địa chỉ mà khi NTD cảm thấy quyền lợi của mình bị xâm hại có thể
đến để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ và tìm kiếm sự bảo vệ quyền lợi của mình.
Vụ việc con ruồi trong chai nước ngọt của công ty Tân Hiệp Phát thời gian
qua là minh chứng rõ nhất cho vai trò của thiết chế thực bảo vệ quyền lợi NTD. Nếu
NTD trong trường hợp này có được sự tư vấn, hỗ trợ giải quyết yêu cầu bảo vệ
quyền lợi hợp pháp từ các tổ chức xã hội tham gia BVNTD thì có lẽ không phải
chịu mức án 7 năm tù giam vì hành vi “Cưỡng đoạt tài sản”. Khi quyền và lợi ích
của NTD bị nhà sản xuất, kinh doanh xâm hại một cách trái pháp luật, NTD có thể
tiếp cận với Tòa án (khởi kiện trước Tòa án) hoặc tiếp cận với các hội bảo vệ NTD,
với Cục quản lý cạnh tranh và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khác để
được tư vấn, hỗ trợ và tìm kiếm sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình [20].
Thứ ba, là thiết chế giám sát sự vận hành của thị trường, giám sát cách ứng
xử của các nhà sản xuất, kinh doanh.
quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD. Cụ thể, Điều
47 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo
vệ quyền lợi NTD được phân công và phân cấp cho nhiều cơ quan nhà nước cùng
tham gia:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD.
15
- Bộ Công thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà
nước về bảo vệ quyền lợi NTD.
- Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm phối hợp với Bộ Công thương về bảo vệ quyền lợi NTD.
- UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện
quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương.
Có thể nói, mô hình hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi
NTD như thiết kế của Luật bảo vệ quyền lợi NTD là mô hình phi tập trung (trách
nhiệm không bị quy tụ duy nhất vào một cơ quan hoặc một hệ thống cơ quan có tính
khép kín) nhưng không phân tán. Mô hình này được xây dựng trên nhận thức rằng
việc bảo vệ quyền lợi NTD là công việc rộng lớn, phức tạp mà không một cơ quan
nào tự mình có thể đủ sức đảm nhiệm. Mô hình này có ưu điểm nổi bật là độ “phủ
sóng” lớn, khả năng huy động lực lượng để thực hiện mục tiêu bảo vệ quyền lợi
NTD cao. Tuy nhiên, mô hình phi tập trung bao giờ cũng nó khuyết tật nội tại của
nó. Khuyết tật ấy thể hiện rõ nhất là khả năng xảy ra sự chồng lấn về thẩm quyền
hoặc khả năng đùn đẩy trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ chung. Đây là
đặc điểm quan trọng của mô hình phi tập trung trong việc bảo vệ NTD mà khi cụ
thể hóa mô hình cũng như khi vận hành, thực hiện các chủ thể có liên quan cần hết
sức lưu ý để khắc phục.
* Hệ thống tòa án
Bên cạnh các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD như đã