TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 35 (2009-2013)
Đề tài:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI – THỰC
TRẠNG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Th.S VÕ DUY NAM
NGUYỄN THỊ HỒNG LINH
Bộ môn: Luật Hành Chính
MSSV: 5095621
Lớp: Luật Hành Chính - khóa 35
Cần Thơ, tháng 05/2013
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
..................................................................................................................... ………………
...........................................................................................................................................................
..................................................................................................................... ………………
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
...........................................................................................................................................................
nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo công bằng xã hội.
Trên thực tế, vấn đề phân biệt đối xử với phụ nữ, bất bình đẳng giới diễn ra trong
nhiều lĩnh vực, là rào cản lớn đối với phụ nữ, kiềm hãm sự phát triển của họ trên nhiều
lĩnh vực đời sống. Phần lớn phụ nữ vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi cả trong gia đình và xã
hội, khoảng cách về giới giữa nam và nữ ngày càng lớn… Nhận thấy được ảnh hưởng
của bình đẳng giới nên trong những năm gần đây, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
đã phối hợp cùng các bộ, ngành liên quan tăng cường công tác quản lý nhà nước về bình
đẳng giới. Nhưng nhìn chung công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới vẫn chưa thật
sự hiệu quả. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quản lý lĩnh vực này vẫn chưa có
sự đồng bộ, những quy định về nội dung lẫn chế tài chưa đủ mạnh để đảm bảo bình đẳng
giới, do đó cần phải bổ sung, điều chỉnh thường xuyên cho phù hợp với sự phát triển và
yêu cầu quản lý. Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý đã được tăng cường
nhưng do năng lực của cán bộ làm công tác này còn kém nên đã mắc phải một số hạn
chế. Hơn thế, nhận thức của cộng đồng sinh sống ở miền núi, dân tộc thiểu số chưa cao.
Chính từ lý do trên mà người viết đã tiến hành chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về bình
đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Cử
nhân Luật khóa 2009 – 2013.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài “Quản lý Nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố
Cần Thơ” người viết nhằm mục đích:
Xây dựng và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về bình đẳng giới và quản lý nhà nước
đối với bình đẳng giới. Phân tích công tác quản lý bình đẳng giới ở cả nước nói chung và
Thành phố Cần Thơ nói riêng, từ đó tìm ra các ưu, khuyết điểm trong công tác quản lý
Nhà nước đối với bình đẳng giới và nguyên nhân của nó. Hơn nữa, người viết còn đề ra
những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước đối với bình đẳng giới.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
1
Đề tài: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
BÌNH ĐẲNG GIỚI
1.1. Khái quát về giới và giới tính
1.1.1. Khái niệm về giới
“Giới” là một trong nhiều thuật ngữ của lý thuyết giới. Trong các sách, báo về giới ở
Việt Nam trong thời gian qua đã đưa ra những cách giải thích khác về thuật ngữ này
chẳng hạn như: “Giới bao gồm các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ
nữ và nam giới trong một môi trường xã hội cụ thể, hay nói cách khác, giới là sự khác
biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội”.1 Hay có một cách giải thích khác:
“Giới dùng để chỉ các đặc điểm, vị trí, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ.
Hay nói cách khác, giới là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng xã hội của nam và
nữ”. 2
Còn theo cách giải thích pháp lý, tại Khoản 1 Điều 5 Luật Bình Đẳng giới 2006 quy
định: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã
hội.”.
Đặc điểm chung các cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “giới” là: Giới chỉ sự
khác biệt của phụ nữ và nam giới về mặt xã hội. Các đặc điểm của nam và nữ hình thành
và phát triển trong quá trình lớn lên của mỗi cá nhân do sự tương tác của cá nhân với môi
trường văn hóa, xã hội (gia đình, nhà trường, thông tin đại chúng…). Giới là sự “quy
định” của xã hội về vai trò, trách nhiệm, quyền lợi và giá trị của nam và nữ.
Như vậy, giới là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng xã hội của nam và nữ. Đây là
tập hợp của những hành vi ứng xử về mặt xã hội, những mong muốn về đặc điểm và năng
lực xã hội mà coi là thuộc về nam giới hay phụ nữ trong xã hội hay nền văn hóa cụ thể
nào đó. Đây cũng là mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới và sự phân công vai trò của
họ. Thông thường, nam hay nữ đều phải chịu rất nhiều áp lực buộc phải tuân thủ các quan
niệm xã hội này.
Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý “giới” trong Luật Bình đẳng giới có nghĩa hoàn toàn
thể mà không thay đổi được chức năng sinh lý như: Nữ có trứng tạo hiện tượng kinh
nguyệt, có khả năng mang thai, sinh con, nuôi con bằng sữa của mình; nam giới có tinh
trùng, có khả năng làm phụ nữ mang thai…
1.1.3. Phân biệt giới và giới tính
Giới tính và giới là vấn đề cơ bản trong nhận thức về giới. Tuy nhiên, giữa giới và
giới tính có sự khác biệt với nhau:
Xét về tổng thể
Giới tính là thực thể tự nhiên, con người có cấu trúc và những đặc điểm sinh học
khác nhau tạo nên những khác biệt về giới tính.
Giới là thực thể xã hội, con người cũng có những đòi hỏi và đặc điểm phát triển,
quan hệ không giống nhau trong giao tiếp, ứng xử hay quan hệ xã hội giữa nam và nữ là
mối quan hệ giới.
Xét về đặc điểm
Thứ nhất, giới tính bị quy định hoàn toàn bởi gen, qua cơ chế di truyền từ cha mẹ
sang con cái. Còn giới chỉ có một phần bị quy định bởi các yếu tố, tiền đề sinh học của
giới tính.
Thứ hai, giới tính do bẩm sinh quy định là nam hay nữ khi được sinh ra chứ
không phải do con người lựa chọn được.
Còn giới thì không mang tính bẩm sinh, di truyền mà giới bị quy định bởi điều kiện
và môi trường sống của cá nhân, được hình thành và phát triển qua hàng loạt các cơ chế
bắt chước, học tập…
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
4
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Linh
Đề tài: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ
hội, do đó bình đẳng giới có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, tính ngang quyền: để đạt được bình đẳng giới, phụ nữ cần được tạo điều
kiện và cơ hội ngang bằng nam giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ví dụ, cần có
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
5
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Linh
Đề tài: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ
quy định như nhau (bình đẳng), chung cho phụ nữ và nam giới về hưởng thụ các quyền
và gánh vác các nghĩa vụ. Đây là các quy định bình đẳng giới nam nữ (công dân nam và
nữ đều có quyền bầu cử, ứng cử; có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật;
có quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn…).
Thứ hai, tính ưu đãi: do đặc điểm sinh học và truyền thống của phụ nữ khác biệt so
với nam giới, để đạt được bình đẳng giới cần có sự đối xử ưu đãi, khuyến khích đặc biệt
và hợp lý đối với phụ nữ. Ví dụ phụ nữ phải đảm nhận chức năng sinh đẻ và nuôi con
nhỏ, vì vậy pháp luật lao động quy định khi nữ lao động nghỉ thai sản họ vẫn được hưởng
nguyên lương đồng thời được trợ cấp thai sản.
Thứ ba, tính linh hoạt: sự đối xử ưu đãi với phụ nữ cần được điều chỉnh linh hoạt
trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không mang tính bất biến. Ví dụ, do đặc điểm sinh
học của phụ nữ nên phụ nữ thường có thể chất yếu hơn và sức chịu đựng kém hơn so với
nam giới, vì vậy pháp luật các nước đều có quy định cấm tuyển dụng nữ lao động trong
các ngành nghề lĩnh vực nguy hiểm, nặng nhọc. Tuy nhiên, khi khoa học kỹ thuật phát
triển, điều kiện lao động được cải thiện, cần có sự điều chỉnh cho phù hợp nhằm loại bỏ
quy định cấm này đối với các ngành nghề, lĩnh vực đã được cải thiện điều kiện lao động,
để tạo thêm cơ hội có việc làm cho phụ nữ.
Thứ tư: tính phân loại: bình đẳng giới không chỉ được xem xét vị thế của phụ nữ và
nam giới trong xã hội mà còn được xem xét giữa các tầng lớp phụ nữ thuộc các thành
1.2.4. Ý nghĩa của việc xác định bình đẳng giới
Bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa cơ học là số lượng của phụ nữ và nam giới tham
gia tất cả các hoạt động là như nhau. Bình đẳng giới không chỉ quan tâm đến quyền bình
đẳng, cơ hội bình đẳng mà còn quan tâm đến khả năng sử dụng quyền, khả năng nắm bắt
cơ hội để có được kết quả là nam và nữ được thụ hưởng như nhau về thành quả của sự
phát triển. Vì vậy, nếu trong mọi bối cảnh cụ thể do sự khác biệt về giới tính hoặc giới,
gây bất lợi cho nam và nữ, cản trở họ sử dụng quyền và nắm bắt cơ hội thì cần áp dụng
mọi biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới hoặc biện pháp bảo vệ và hỗ trợ người mẹ. Như
vậy, có thể nói, bình đẳng giới chính là mô hình bình đẳng thực chất.
Hiểu sâu xa thì bình đẳng giới là vấn đề cơ bản về quyền con người và là yêu cầu về
sự phát triển bền vững. Có thể nói, ý nghĩa quan trọng nhất của bình đẳng giới là nam và
nữ có thể trải nghiệm những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của
họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp vào công cuộc phát triển quốc gia trong các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.
1.2.5. Lịch sử hình thành quy định về bình đẳng giới trong pháp luật Việt Nam
1.2.5.1. Quyền bình đẳng giới theo pháp luật thời kỳ phong kiến
Xét trên phương diện lịch sử, những truyền thuyết xa xưa của dân tộc Việt Nam đã
cho thấy sự hiện diện của chế độ xã hội mẫu hệ ở nước ta, qua việc mô tả Bà Âu Cơ chia
tay chồng, mang 50 con trai lên rừng lập nghiệp; hay ca ngợi các nữ anh hung dân tộc là
Hai Bà Trưng, Bà Triệu… Một số công trình nghiên cứu về văn hóa cũng cho thấy, ảnh
hưởng của các định kiến bất bình đẳng với phụ nữ của Nho giáo ở Việt Nam không hề
nặng nề như ở Trung Quốc, Triều Tiên hay Nhật Bản… Dẫn chứng sinh động cho nhận
định này có thể tìm thấy trong Bộ luật Hồng Đức (đời Hậu Lê). Mặc dù được ban hành từ
thế kỷ XV, song Bộ luật nổi tiếng này đã thừa nhận một số quyền dân sự của phụ nữ như
quyền được ly hôn, tái hôn, quyền thừa kế tài sản, quyền được chia tài sản chung trong
hôn nhân, quyền được bảo vệ về tính mạng, danh dự, nhân phẩm…
Tuy nhiên, xét tổng quát địa vị phụ nữ trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, đặc biệt
trên các phương diện chính trị, dân sự là rất thấp kém. Người phụ nữ không được tham
gia vào hoạt động chính trị và hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào người đàn ông trong các
quan hệ dân sự, đặc biệt là trong quan hệ hôn nhân, gia đình. Những định kiến mang tính
Từ khi giành được độc lập năm 1945, việc bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ và giải
phóng phụ nữ luôn là chính sách nhất quán của Đảng Cộng Sản Việt Nam, được thể chế
hóa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta. Ngay trong Sắc lệnh số 14, ngày 18-91945 một trong những văn bản pháp luật đầu tiên của nhà nước Việt Nam mới, đã quy
định quyền bình đẳng của phụ nữ trong vấn đề bầu cử. Hiến pháp năm 1946 khẳng định
nguyên tắc bình đẳng nam nữ trên tất cả các lĩnh vực khi quy định: “Đàn bà ngang quyền
với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9); “Mọi công dân đều bình đẳng về quyền trên
mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6) và “Mọi công dân đều bình đẳng
trước pháp luật” (Điều 7),…
Những quy định kể trên đã đánh dấu một bước ngoặc vĩ đại về địa vị pháp lý của phụ
nữ Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam được pháp luật thừa nhận và
bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực.
Bình đẳng nam nữ (trên tất cả các phương diện) được khẳng định ngay từ Hiếp pháp
1946, khi nước Việt Nam mới được thành lập. Trong khi đó, tính từ thời điểm Hiến pháp
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
8
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Linh
Đề tài: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ
Mỹ được ban hành (1789), phải 133 năm sau (1920) phụ nữ Mỹ mới được ghi nhận có
quyền bình đẳng với nam giới về bầu cử và ứng cử. Phụ nữ ở Thụy Sỹ đến năm 1971,
phụ nữ ở Cô-oét mãi đến năm 1991 mới được quyền bầu cử. Đó là chưa kể một số quốc
gia, cho đến thời điểm hiện nay, pháp luật vẫn chưa ghi nhận phụ nữ có quyền bình đẳng
quan trọng này…
Các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 của nước ta đã kế thừa những nguyên tắc tiến
bộ của Hiến pháp năm 1946 và liên tục bổ sung những nội dung mới nhất bảo đảm và
thúc đẩy hơn nữa vị thế, việc hưởng thụ các quyền con người của phụ nữ. Không những
9
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Linh
Đề tài: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ
1/7/2008). Luật này thông qua xuất phát từ thực tiễn là bạo lực gia đình diễn ra ở nhiều
nơi, mọi đối tượng và gây hậu quả nghiêm trọng.
Mặc dù, còn những hạn chế nhất định, song cho đến thời điểm hiện nay, có thể khẳng
định rằng, Việt Nam đã xác lập được một khung pháp lý về bảo đảm quyền bình đẳng
nam nữ hoàn chỉnh bậc nhất, nếu so sánh với pháp luật của các nước trên thế giới. Về cơ
bản, hệ thống pháp luật Việt Nam hoàn toàn phù hợp với các văn kiện pháp luật quốc tế
có liên quan trên lĩnh vực này.
Cho phụ nữ có thể hưởng thụ các quyền con người một cách bình đẳng với nam giới
trên tất cả các lĩnh vực. Đây chính là cơ sở của những thành tựu của Việt Nam trên lĩnh
vực bình đẳng giới trong những năm gần đây mà minh chứng sinh động là những nổ lực
và thành quả trong nhiều năm liên tiếp, chỉ số phát tiển về giới và chỉ số phát triển con
người của Viêt Nam (theo sự xếp loại của UNDP4) luôn ở vị trí cao hơn so với chỉ số
phất triển về kinh tế; tỷ lệ phụ nữ là đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay cao nhất
trong khu vực Châu Á (25,76%) và đứng thứ hai trong khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương.
1.3. Khái quát về quản lý nhà nƣớc về bình đẳng giới
1.3.1. Khái niệm về quản lý nhà nước
Khái niệm về quản lý
Quản lý là khái niệm được xem xét theo hai góc độ:
Theo góc độ chính trị - xã hội, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức và lao
động. Vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp. Cơ chế đúng, phù
hợp thì xã hội phát triển, ngược lại thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren.
Theo góc độ hành động, quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành.
thực hiện quyền lực Nhà nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy
nhà nước có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhà
nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp (công quyền) tiến
hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn mà nhà nước đã giao cho trong việc tổ chức và điều hành các quan hệ xã hội
và hành vi của công dân.
Cần lưu ý phân biệt hai khái niệm “Quản lý nhà nước” và “Nhà nước quản lý”:
+ “Quản lý nhà nước” là dạng quản lý xã hội thực thi quyền lực Nhà nước; dạng
quản lý này được thể hiện trong các cơ quan hành chính Nhà nước. Điều 12, Hiến pháp
1992 đã ghi “Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa”. Theo định nghĩa của Liên Hiệp quốc, quản lý nhà nước tương đồng
với khái niệm quản lý quốc gia (Govermance), nghĩa là: quản lý nhà nước một cách hợp
lý, có hiệu quả, công khai, minh bạch và có sự tham gia của các chủ thể liên quan.
+ “Nhà nước quản lý” là nói đến các chủ thể quản lý; đó là hệ thống tổ chức của các
cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan hành chính Nhà nước.6
1.3.2. Khái niệm về quản lý hành chính nhà nước
Bộ máy Nhà nước được cấu thành bởi ba tổ chức giữ ba quyền: quyền lập pháp,
quyền hành pháp và quyền tư pháp, trong đó quyền hành pháp là quyền chấp hành luật
(lập quy), tổ chức thực hiện luật (quản lý hành chính). Hai quyền này đều tập trung vào
Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương,
được thực hiện bằng các văn bản quy phạm pháp luật hành chính.
Hành pháp mang tính quyền lực chính trị (quyền lực nhà nước), còn quản lý hành
chính nhà nước là “Hành pháp hành động”, là quyền thực thi quyền hành pháp. Bản thân
quản lý hành chính nhà nước không chỉ là chính trị, mà còn là hành chính.
5
Phan Viết Vượng: Quản lý hành chính Nhà nước và Quản lý ngành giáo dục và đào tạo, Nxb Đại học sư phạm, Hà
Nội, 2006, tr.39.
6
pháp luật về bình đẳng giới. Theo Điều 6 Luật Bình đẳng giới năm 2006 có 6 nguyên tắc
cơ bản về bình đẳng giới:
Nguyên tắc cơ bản đầu tiên là: “Nam, nữ bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội và gia đình”. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong Hiến pháp và pháp luật
Việt Nam như: Điều 63 Hiến pháp năm 1992, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2000.
Nguyên tắc thứ hai là: “Nam, nữ không phân biệt đối xử về giới”. Đây là sự cụ thể
hóa quan điểm của Đảng về bình đẳng giới và là sự phát triển so với Điều 63 Hiến pháp
1992. Vì Điều 63 Hiếp pháp 1992 chỉ mới nói đến “Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt
đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”. Trong khi đó, tại Khoản 5 Điều 5 Luật
Bình đẳng giới năm 2006 còn đưa ra giải thích thế nào là phân biệt đối xử về giới, cụ thể
như sau: “Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không
coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội và gia đình”. Nhìn chung, ý nghĩa của nguyên tắc này là phải
xóa bỏ mọi hành vi phân biệt về giới gây bất bình đẳng giới.
Nguyên tắc thứ ba là: “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt
đối xử về giới”. Trên thực tế, phụ nữ gặp nhiều bất lợi và khó khăn hơn so với nam giới
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
12
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Linh
Đề tài: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ
do tư tưởng “trọng nam kinh nữ” vẫn còn tồn tại. Do đó, để đạt được tư tưởng bình đẳng
giới thì hiện tại Nhà nước đã đưa ra các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới dành nhiều
cho phụ nữ. Những biện pháp đó không phải là những quy định ưu tiên hoặc làm hoán
đổi vị trí, vai trò nam giới sang phụ nữ hoặc ngược lại, mà chính những quy định này cần
thiết để giảm khoảng cách giới, trả lại vị trí xuất phát điểm ngang nhau cho phụ nữ và
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
13
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Linh
Đề tài: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ
pháp luật về bình đẳng giới; chỉ đạo xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác
bình đẳng giới...Với những chính sách của Nhà nước không những tạo cơ hội cho nam nữ
bình quyền mà còn tạo sự bình đẳng các tầng lớp trong xã hội nằm ổn định xã hội, phát
triển đất nước làm nước ta ngày càng được nâng cao vị thế trên thế giới.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
14
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Linh
Đề tài: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ
CHƢƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
BÌNH ĐẲNG GIỚI – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
2.1. Cơ sở pháp lý về quản lý của công tác quản lý nhà nƣớc về bình đẳng giới
Thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, các cơ quan có thẩm quyền đã xây dựng
và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng quy định về những vấn đề về
bình đẳng giới. Trong đó, đáng lưu ý các văn bản sau:
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
15
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Linh
Đề tài: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ
tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao và bình đẳng giới trong
gia đình.
Chương 3 quy định biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, bảo đảm các nguyên tắc cơ
bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, lồng ghép vấn đề bình
đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thẩm tra lồng ghép vấn đề bình
đẳng giới, thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới, nguồn tài chính để
tài trợ cho hoạt động bình đẳng giới.
Chương 4 là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực
hiện và bảo đảm bình đẳng giới, quy định trách nhiệm của Chính phủ cộng sản, cơ quan
quản lý nhà nước về bình đẳng giới, bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc, Hội
liên hiệp phụ nữ Việt Nam...., trách nhiệm của gia đình và công dân trong việc thực hiện
và bảo đảm bình đẳng giới.
Chương 5 quy định thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng
giới bao gồm thanh tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới, giám sát việc thực hiện
pháp luật về bình đẳng giới. khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành vi vi phạm pháp luật
Đề tài: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ
+ Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Cũng giống như phần thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới cũng
bao gồm yêu cầu, nội dung và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật.
+ Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; chính sách hỗ trợ nữ cán bộ, công chức,
viên chức; hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
+ Nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới bao gồm nguồn kinh phí do ngân
sách nhà nước cấp; nguồn đóng góp tự nguyện của cá nhân và các nguồn thu hợp pháp
khác.
Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10-6-2009 quy định xử phạt hành chính về bình
đẳng giới có hiệu lực ngày 01 tháng 8 năm 2009. Nghị định nêu rõ các hành vi vi phạm
hành chính, hình thức, mức xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bình
đẳng giới.
Ngoài ra, ngày 03/5/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số
10/2007/CT-TTg về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới nhằm hướng dẫn tổ
chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục luật bình đẳng giới; rà soát văn bản quy phạm pháp
luật hiện hành; xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật phù hợp với mục tiêu bình
đẳng giới.
Ngoài các văn bản nêu trên còn hành loạt các văn bản của cơ quan có thẩm quyền ban
hành để điều chỉnh các vấn đề liên quan bình đẳng giới. Bởi hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật có vững chắc thì công tác quản lý mới chặt chẽ và hiệu quả góp phần đẩy lùi sự
bất bình đẳng.
2.2. Nội dung quản lý nhà nƣớc về bình đẳng giới
2.2.1. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành chiến lược, chính sách,
chương trình, kế hoạch mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới
Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới theo quy định của Luật Bình
đẳng giới và Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2008 của Chính phủ quy
nữ ở Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện. Ngày 03 tháng 12 năm 2009, Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội đã có công văn số 4598/LĐTBXH-BĐG hướng dẫn triển khai
thực hiện Quyết định số 1855/QĐ-TTg nêu trên. Đến nay, 61/63 tỉnh, thành phố đã kiện
toàn Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ và chuyển giao cơ quan thường trực về Sở Lao động Thương binh và Xã hội.
Để triển khai Chương trình hành động của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết số
11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước (ban hành kèm Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 01/12/2009 của Chính
phủ) và Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2009 về các biện pháp bảo
đảm bình đẳng giới, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quyết
định số 299/QĐ-LĐTBXH ngày 04/3/2010 phê duyệt Kế hoạch thực hiện của Bộ. Bộ đã
phân công nhiệm vụ và tiến độ thực hiện cho 06 Cục, Vụ Chức năng thuộc Bộ triển khai
19 hoạt động cụ thể phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị. Bộ cũng đã ban
hành và triển khai thực hiện Kế hoạch tuyên truyền pháp luật về bình đẳng giới và Nghị
quyết số 57/NQ-CP năm 2010 (kèm theo Quyết định số 603/QĐ-LĐTBXH ngày
13/5/2010) và Kế hoạch đào tạo, tập huấn về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ
năm 2010 (kèm theo Quyết định số 821/QĐ-LĐTBXH) …
2.2.3. Lồng ghép giới trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã hoàn thành kế hoạch xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật, thực hiện nguyên tắc lồng ghép giới trong quá trình xây dựng các văn
bản quy phạm pháp luật của ngành, góp phần bảo vệ quyền lợi của người lao động và các
đối tượng xã hội là phụ nữ.
Bộ cũng đã tích cực rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan
đến bình đẳng giới, như: rà soát văn bản quy phạm pháp luật về lao động đảm bảo phù
hợp với mục tiêu bình đẳng giới; đề xuất sửa đổi bổ sung Bộ Luật lao động đảm bảo phù
hợp với mục tiêu bình đẳng giới; xây dựng Báo cáo nghiên cứu đề xuất xây dựng ban
hành và văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định khuyến khích các cơ quan, tổ chức hỗ
trợ lao động nữ khi tham gia đào tạo, mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi; tham
gia xây dựng Đề án tăng tỷ lệ nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân
khóa XIII của Bộ Nội vụ …
Đồng thời, với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới, Bộ đã phối hợp
binh và Xã hội, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan,
tổ chức có liên quan, gồm: Sổ tay công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới;
Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách; các tờ rơi về Ủy ban
quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ (UBQG), bình đẳng giới trong gia đình và Nghị quyết số
11-NQ/TW … Đây là nguồn thông tin quan trọng giúp cho các cán bộ làm công tác bình
đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ có thêm các kiến thức, kỹ năng áp dụng trong công
tác chuyên môn được giao.7
Phối hợp với Quỹ phát triển Phụ nữ Liên hợp quốc (UNIFEM) tại Việt Nam tổ
chức Tọa đàm 15 năm thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh nhân Ngày Quốc tế
Phụ nữ 8/3 với sự tham gia của đại diện các Bộ, ngành chức năng và các tổ chức quốc tế
tại Việt Nam.
Tổ chức 05 lớp tập huấn kiến thức pháp luật về bình đẳng giới và kỹ năng công tác
cho thành viên, thư ký Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các Bộ, ngành và các tỉnh, thành
7
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2011), Báo cáo tình hình thực hiện bình đẳng giới của Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội và trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, Hà Nội, tr. 1 - 11.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
20
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Linh
Đề tài: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ
phố trực thuộc Trung ương. Nội dung tập huấn tập trung vào việc triển khai các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới và Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị
về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
8
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Báo cáo tình hình thực hiện bình đẳng giới của Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội và trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, Hà Nội, tháng 01/2011, tr. 5.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
21
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Linh