Pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội từ thực tiễn thực hiện tại thành phố hà nội - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CAO GIA DUY

HÀ NỘI – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CAO GIA DUY
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. TRẦN THỊ THÚY LÂM

HÀ NỘI – 2016

kiến của hội đồng khoa học của trường, các thầy, các cô, của đồng nghiệp và bạn bè
và đặc biệt những ý kiến phản biện đối với luận văn để luận văn được hoàn thiện
hơn./.

Tác giả luận văn

Cao Gia Duy


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI ........ 5
1.1. Khái niệm về quỹ bảo hiểm xã hội .................................................................... 5
1.2. Đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội.......................................................................... 7
1.3. Vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội ......................................................................10
1.3.1. Đối với người lao động ....................................................................................... 10
1.3.2. Đối với người sử dụng lao động ......................................................................... 11
1.3.3. Đối với nhà nước và xã hội ................................................................................. 11
1.4. Nguyên tắc cơ bản của quỹ BHXH ..................................................................12
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .......................................................................................16
Chương 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI ........17
2.1. Pháp luật hiện hành về quỹ bảo hiểm xã hội ....................................................17
2.1.1. Quy định của pháp luật về sự hình thành quỹ BHXH ....................................... 17
2.1.1.1. Quy định của pháp luật về sự hình thành quỹ BHXH bắt buộc ................ 17
2.1.1.2. Quy định của pháp luật về nguồn thu quỹ BHXH tự nguyện ................... 28
2.1.2. Quy định của pháp luật về chi trả của quỹ bảo hiểm xã hội ............................. 29
2.1.3. Quản lý quỹ BHXH ............................................................................................. 35
2.1.4. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực quỹ BHXH ......................................................... 38
2.1.4.1. Các nhóm hành vi bị xử lý vi phạm trong lĩnh vực quỹ BHXH ............... 38



DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1: Số người tham gia BHXH qua các năm ..................................................47
Bảng 2.2: Kết quả thu bảo hiểm xã hội qua các năm ...............................................48
Bảng 2.3: Tổng hợp số đối tượng hưởng các chế độ tại BHXH TP HN...................49
Bảng 2.4: Tổng hợp chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH ........................................50
Bảng 2.5: Tổng hợp số lượt người hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản,
dưỡng sức phục hồi sức khỏe .................................................................51
Bảng 2.6: Nợ BHXH, BHYT .................................................................................55


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp

TP

Thành phố


Quyết định

DSPHSK

Dưỡng sức phục hồi sức khỏe

TW

Trung ương

ATM

Thẻ tín dụng


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) là chính sách lớn, là bộ phận
quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội, đã được Đảng và Nhà nước quan tâm
thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập.
Quỹ BHXH có nhiệm vụ đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH
cho người lao động (NLĐ) khi họ rơi vào những hoàn cảnh rủi ro nhất định, đảm
bảo sự ổn định cho đời sống người lao động và thân nhân của họ.
Do vậy, quỹ BHXH là một bộ phận quan trọng của không chỉ quỹ bảo hiểm xã
hội mà còn của hệ thống BHXH. Để việc thu chi đủ kỳ, đúng số tới đối tượng thì
việc thực hiện quỹ BHXH phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất, khoa học theo
đúng quy định của pháp luật.
Chính vì vậy, pháp luật đã có những quy định về quỹ bảo hiểm xã hội nhằm
bảo toàn và phát triển quỹ cũng như chi trả quỹ đúng mục đích. Gần đây nhất ngày
28 tháng 4 năm 2016 Chính phủ đã ban hành nghị định số 30/2016/NĐ-CP quy định

Nguyễn Thị Ngọc Yến (2006).
- Bài viết “Đầu tư quỹ BHXH : Hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng và an toàn
quỹ” của tác giả Lê Phan Nam.
- Những vấn đề cần quân tâm qua thanh tra quỹ bảo hiểm xã hội / Trần Xuân
Lâm / Thanh tra. Thanh tra Chính phủ, Số 12/2010.
Và nhiều công trình nghiên cứu khác của các tác giả. Các công trình đều đã đề
cập đến nhiều khía cạnh nhau của quỹ BHXH.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện quỹ bảo hiểm
xã hội tại thành phố Hà Nội trong điều kiện hiện nay, luận văn đề xuất phương
hướng hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
quỹ BHXH trên địa bàn thành phố Hà Nội.

2


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn tập trung giải quyết các
nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Hệ thống hoá và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản về quỹ bảo hiểm
xã hội.
- Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả thực hiện pháp luật quỹ bảo hiểm
trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
- Phương hướng hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về quỹ BHXH trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội từ
thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội.

kinh tế, xã hội bền vững trên địa bàn.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thực trạng quỹ BHXH hiện đang là vấn đề mang tính thời sự cao. Việc tìm
hiểu nghiên cứu về pháp luật hiện hành về quỹ bảo hiểm xã hội và thực tiễn thực
hiện trên địa bàn Hà Nội để hoàn thiện hơn quy định pháp luật, khắc phục những
hạn chế tồn tại và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội tại
thành phố Hà Nội.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quỹ bảo hiểm xã hội.
Chương 2: Pháp luật hiện hành về quỹ bảo hiểm xã hội và thực tiễn thực hiện
tại thành phố Hà Nội.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về quỹ BHXH trên địa bàn thành phố Hà Nội.

4


Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. Khái niệm về quỹ bảo hiểm xã hội
Con người để tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, ở, mặc và đi lại nhằm thoả
mãn những nhu cầu tối thiểu đó, con người phải lao động để sản xuất ra những sản
phẩm cần thiết. Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào con người cũng gặp
thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và điều kiện sinh sống bình thường. Trái lại, lúc này
hoặc lúc khác, họ có thể gặp phải những khó khăn ngẫu nhiên phát sinh làm cho con
người bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác (bị bất ngờ ốm

cũng xuất phát từ như cầu thực tế của cả người lao động và người sử dụng lao động.
Đối với người lao động, họ luôn có ý thức được rằng những rủi ro luôn có thể xảy
ra đối với họ bất cư khi nào, cho nên có nhu cầu trích một phần trong số tiền lương
để tích góp sử dụng mỗi khi cần thiết. Còn đối với người chủ, việc chịu trách nhiệm
một phần trước những rủi ro của người lao động cũng được xem là nhu cầu thiết
yếu đảm bảo sự tin tưởng, yên tâm cho người lao động trong quá trình làm việc. Do
đó, nhu cầu thành lập một quỹ chung theo đó giới chủ và người lao động chỉ phải
trích ra một khoản tiền từ thu nhập hàng tháng trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối
với người lao động làm thuê đã hình thành. Mối quan hệ tương trợ sau này được sự
can thiệp của Nhà nước để giúp cho việc trợ cấp được thực hiện một cách thống
nhất, theo đó số tiền mà các bên đóng góp hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên
phạm vi quốc gia. Qũy này được quản lý chặt chẽ bởi nhà nước và thậm chí có thể
được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo khả năng chi trả của
quỹ cho người lao động khi gặp những biến cố bất lợi.
Có thể nói, sự ra đời của quỹ BHXH trên cơ sở sự đóng góp của người lao
động, người sử dụng lao động và có sự bảo trợ của nhà nước là phù hợp với nhu cầu
tự nhiên của toàn xã hội. Qũy bảo hiểm xã hội được hình thành trong quá trình tổ
chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung được tích lũy dần từ sự đóng góp của người sử
dụng lao động và người lao động, đồng thời có sự bảo trợ của nhà nước. Hiện nay

6


quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước để chi
trả cho người được hưởng bảo hiểm xã hội và gia đình họ khi họ rơi vào những
hoàn cảnh rủi ro nhất định.
Về khái niệm, hiện nay chưa có văn bản pháp lý quy định cụ thể về quỹ bảo
hiểm xã hội. Tuy nhiên, quỹ bảo hiểm xã hội hiện nay được hiểu theo nghĩa :
(i) Theo nghĩa rộng, quỹ bảo hiểm xã hội là tập hợp những phương tiện nhằm
thỏa mãn những nhu cầu phát sinh về bảo hiểm xã hội trên cơ sở sự đóng góp của

bằng tổng số tiền chi ra từ quỹ. Tuy nhiên, không phải cứ đồng tiền nào vào quỹ là
được dùng để chi trả ngay mà phải sau một khoảng thời gian nhất định, đôi khi
tương đối dài (như đối với chế độ hưu trí) số tiền ấy mới được chi ra, cùng thời gian
ấy đồng tiền luôn biến động và có thể bị giảm giá trị do lạm phát, điều này đặt ra
yêu cầu quỹ BHXH không chỉ phải bảo đảm về mặt số lượng mà còn phải bảo toàn
về mặt giá trị.
Do tầm quan trọng của quỹ bảo hiểm xã hội, nên để đối phó với những rủi ro
mang tính ngẫu nhiên làm giảm hoặc mất khả năng lao động của người lao động thì
cần có một lượng tiền dự trữ đủ lớn được hình thành và sử dụng trong một thời gian
nhất định trên cơ sở tính toán những xác suất nảy sinh và mức độ nhu cầu bảo hiểm
xã hội trong phạm vi quỹ phục vụ. Do đó, quỹ bảo hiểm xã hội phải là quỹ an toàn
về tài chính , nghĩa là quỹ bảo hiểm xã hội phải được bảo toàn về giá trị và không
có rủi ro về tài chính. Nếu quỹ mất cân đối, mất khả năng chi trả thì mục đích đảm
bảo đời sống, san sẻ rủi ro xã hội của quỹ sẽ khó đạt được.
Chính vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo sự an toàn về tài chính
cho quỹ bảo hiểm xã hội.
Thứ hai: quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tiêu dùng
Bản chất của BHXH là bảo hiểm thu nhập nên những nhu cầu bảo hiểm xã hội
sẽ chỉ được thỏa mãn thông qua tiêu dùng của cá nhân những người được bảo hiểm
xã hội. Bên cạnh tính chất tích lũy tập hợp những đóng góp bằng tiền của người
tham gia bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội còn mang đặc trưng là quỹ tiêu dùng
làm nhiệm vụ chi trả cho người được bảo hiểm xã hội khi gặp những rủi ro xã hội,

8


phân phối lại thu nhập cho người lao động. Do đó, quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tích
lũy đồng thời là quỹ tiêu dùng trên cơ sở tuân theo quy luật công bằng, ở mức độ
nhất định theo nguyên tắc tương đương, đồng thời phải tham gia điều chỉnh cần
thiết giữa các nhu cầu và lợi ích1.

nhiều lần, có người được hưởng ít lần (với chế độ ốm đau), thậm trí không được
hưởng (chế độ thai sản).
Thứ năm: quỹ bảo hiểm xã hội lã quỹ phi lợi nhuận, mang tính cộng đồng
cao BHXH là một lĩnh vực thuộc an sinh xã hội nên mang tính xã hội cao. Qũy bảo
hiểm xã hội mang tính cộng đồng cao bởi được hình thành từ sự đóng góp của ba
bên gồm người sử dụng lao động, của người lao động và được Ngân sách Nhà nước
hỗ trợ. Qũy bảo hiểm xã hội được thành lập không nhằm mục đích kinh doanh lấy
lợi nhuận mà để đảm bảo ổn định cuộc sống người lao động, chia sẻ rủi ro, biến cố
bất lợi với người lao động và gia đình. Với nguyên tắc lấy số đông bù cho số ít, dựa
trên sự san sẻ rủi ro của toàn xã hội, người tham gia bảo hiểm chỉ đóng góp một
phần nhỏ trong thu nhập của mình để tạo lập quỹ nhưng nhiều người cùng đóng
góp tạo nên nguồn tài chính lớn cho quỹ đảm bảo chi trả hỗ trợ số ít người lao động
lâm vào hoàn cảnh khó khăn ảnh hưởng đến thu nhập.
1.3. Vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội
1.3.1. Đối với người lao động
Thứ nhất: Quỹ bảo hiểm xã hội bảo đảm thay thế hoặc bù đắp sự thiếu hụt
thu nhập của người lao động và gia đình họ.
Khi người lao động đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ thì họ có quyền được
nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội khi phát sinh những rủi ro ốm đau, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp, tuổi già… đã làm thu nhập của họ bị giảm sút hoặc mất hẳn. Qũy
bảo hiểm xã hội lúc này sẽ bù đắp, trợ giúp cho người lao động và gia đình những
thiếu hụt về thu nhập. Chỉ khi thực hiện tốt chức năng này, bảo hiểm xã hội mới
thực sự cuốn hút đối với người lao động để họ tham gia đóng góp vào quỹ.
Thứ hai: Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất để
nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
Có thể nói quỹ bảo hiểm xã hội đã làm triệt tiêu đi nỗi lo ngại của người lao
động về bệnh tật, tai nạn lao động hay tuổi già... Bằng các khoản trợ cấp được chi

10




người lao động đã hết tuổi lao động được hưởng. Qũy bảo hiểm xã hội là dòng chảy
liên tục của sự đóng vào và sự chi ra của tiền bảo hiểm.
Thứ hai: Quỹ bảo hiểm xã hội góp phần tạo ra sự san sẻ, tương trợ giữa các
nhóm lao động.
Người lao động hàng tháng chỉ phải trích tỷ lệ nhỏ từ thu nhập đống cho quỹ
bảo hiểm xã hội nhưng với số đông người tham gia sẽ có một nguồn tiền lớn đủ để
trang trải cho những người không may gặp rủi ro. Nhờ vậy tạo ra sự đoàn kết, tương
trợ và sự gắn kết lợi ích của các bên tham gia bảo hiểm xã hội.
Người sử dụng lao động tuy không trực tiếp được hưởng các trợ cấp bảo hiểm
xã hội nhưng khi đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội, họ không còn lo lắng phải chi trả
những khoản tiền đền bù cho người lao động nếu không may xảy ra các rủi ro từ
nghề nghiệp. Cả người lao động lẫn người sử dụng lao động đều yên tâm, tạo điều
kiện cho sự ổn định của quan hệ lao động và sự phát triển doanh nghiệp.
1.4. Nguyên tắc cơ bản của quỹ BHXH
Thứ nhất: Quỹ bảo hiểm xã hội phải được quản lý thống nhất, dân chủ, công
khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ
thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm
thất nghiệp.
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã
hội, chứa đựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội dung pháp lý. Để đảm
bảo thực hiện hài hòa các nội dung nói trên và đạt được mục tiêu mà bảo hiểm xã
hội đặt ra thì một trong những vấn đề cần được chú ý là việc quản lý, sử dụng quỹ
bảo hiểm xã hội. Xuất phát từ ý nghĩa xã hội của bảo hiểm xã hội cho nên việc quản
lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội phải bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch
và trên cơ sở của cơ chế ba bên. Chính vì vậy, ở nước ta việc tổ chức thực hiện các
chính sách bảo hiểm xã hội, tổ chức thu, chi, quản lý quỹ được giao cho cơ quan
Bảo hiểm xã hội thực hiện một cách thống nhất trong phạm vi cả nước trên cơ sở
pháp luật, dưới sự chỉ đạo, giám sát chặt chẽ của Nhà nước mà cụ thể là Hội đồng

+ Phải đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên việc chi trả các chế độ

13


BHXH phát sinh.
Vì thế, các hình thức đầu tư phải linh hoạt, đa dạng nhưng phải chặt chẽ theo
những nguyên tắc và yêu cầu nêu trên. Thực hiện tốt việc đầu tư vốn nhàn rỗi, quỹ
BHXH không chỉ có tác dụng bảo toàn và phát triển vốn mà còn bảo đảm quyền lợi
cho người lao động trên thực tế.
Thứ ba: Phải bảo đảm quyền lợi của người lao động tương ứng với nghĩa vụ
đóng góp của họ.
Trong nền kinh tế thị trường, người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế
đều bình đẳng hưởng chế độ BHXH. Song người lao động muốn được hưởng quyền
lợi về BHXH thì họ phải có nghĩa vụ đóng góp BHXH theo các phương thức thích
hợp (bắt buộc hay tự nguyện, ít chế độ hay nhiều chế độ BHXH...) thường xuyên
đều đặn trong những tháng, năm còn tuổi lao động. Quyền lợi được hưởng phải phù
hợp với mức đóng góp và thời gian đóng góp BHXH của từng người lao động theo
quy định của pháp luật.
Thứ tư: Hoạt động quỹ BHXH không mang tính chất kinh doanh mà mang
tính chất của quỹ tương hỗ bảo hiểm.
Mục đích hoạt động của quỹ BHXH trước hết nhằm bảo vệ quyền lợi cho
người lao động khi gặp rủi ro BHXH, sau nữa bảo đảm an toàn cho xã hội và nền
kinh tế. Hoạt động BHXH chủ yếu dựa trên nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” mang
tính chất cộng đồng, tính chất xã hội giữa những người lao động. Các khoản đóng
góp vào quỹ BHXH phụ thuộc vào mức độ sử dụng chi trả của các chế độ BHXH,
nếu quỹ không đủ bù đắp thì phải nâng mức đóng góp hoặc hạ thấp mức chi trợ cấp
BHXH để bảo đảm quỹ luôn luôn cân đối giữa thu và chi. Nguyên tắc cơ bản quản
lý quỹ BHXH là phải cân đối thu với chi, chính vì vậy đòi hỏi cơ quan quản lý quỹ
BHXH phải tổ chức công tác kế toán, kiểm tra sử dụng một cách chặt chẽ, đúng

trọng. Quỹ BHXH phải đủ mạnh, đủ cân đối giữa tu bảo hiểm và cho bảo hiểm thì
mới đảm bảo được sự an toàn của quỹ.
Do đó, việc nghiên cứu quỹ BHXH có ý nghĩa hết sức quan trọng.Việc nghiên
cứu đặc trưng, bản chất, vai trò và nguyên tắc của quỹ bảo hiểm xã hội giúp hình
dung khái quát phần nào về quỹ bảo hiểm xa hội.
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập với đặc trưng cơ bản nhất là quỹ
tương hỗ bảo hiểm không mang tính chất kinh doanh. Qũy được lập ra không chỉ
nhằm bù đắp, bảo đảm đời sống cho người lao động khi không may gặp rủi ro trong
cuộc sống mà còn thể hiện tính tương trợ cộng đồng cao.
Việc nắm vững được tính chất của quỹ bảo hiểm xã hội sẽ giúp cho nhà làm
luật xây dựng những quy định pháp luật, các chính sách BHXH về quỹ BHXH được
phù hợp, hiệu quả.

16


Chương 2

PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUỸ BẢO HIỂM
XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1. Pháp luật hiện hành về quỹ bảo hiểm xã hội
2.1.1. Quy định của pháp luật về sự hình thành quỹ BHXH
2.1.1.1.Quy định của pháp luật về sự hình thành quỹ BHXH bắt buộc
Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc là quỹ được hình thành trên cơ sơ nghĩa vụ phải
tham gia đóng góp của các đối tượng nhất định nhằm tạo lập nguồn chi trả để đảm
bảo thu nhập cho người lao động trong những trường hợp rủi ro nhất định. Qũy bảo
hiểm xã hội bắt buộc quy định các đối tượng luật định không có quyền lựa chọn có
tham gia hay không.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status