Thực trạng thực hiện luật đất đai năm 2013 trong lĩnh vực thu hồi đất trên địa bàn quận long biên, thành phố hà nội - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
--------------***--------------

LUẬN VĂN THẠC SỸ

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013 TRONG LĨNH
VỰC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Hoàng Thế Liên

HÀ NỘI – Tháng 10 năm 2016


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, là
nền tảng để xây dựng cơ sở kinh tế, khu dân cư, công trình văn hóa – xã hội, an
ninh quốc phòng của mỗi quốc gia.
Để thực hiện mục tiêu “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo
nền tảng để đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
như Nghị quyết Đại hội IX đề ra, Nhà nước ta đã tiến hành thu hồi đất để sử dụng
cho việc xây dựng các khu công nghiệp, đô thị, cơ sở hạ tầng và phục vụ cho các
mục đích quốc phòng – an ninh. Việc thu hồi đất đã đem lại những hiệu quả tích
cực trong yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ

nhau.
Với ý nghĩa trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Thực trạng thực hiện luật đất đai
năm 2013 về thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội” làm
luận văn tốt nghiệp của mình. Qua những kiến thức lý luận và thực tiễn tìm hiểu
nguyên nhân, cùng việc đóng góp ý kiến nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về thu
hồi đất trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian gần đây, với tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, nhu cầu phát triển
kinh tế lớn đã dẫn đến hàng loạt các dự án cần đến mặt bằng đất để xây dựng cơ sở
hạ tầng. Do đó, tình hình thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư đã dẫn đến việc
người dân mất đất sản xuất, không có nơi sinh sống ổn định kéo theo nhiều hậu quả
tiêu cực đã tạo nên sự bức xúc trong xã hội. Nhiều vụ cưỡng chế thu hồi đất xảy ra,
nhiều vụ khiếu kiện cũng do nguyên nhân thu hồi đất gây ra. Luật đất đai 2013 mới
có hiệu lực một thời gian ngắn, trong đó cũng có những đổi mới về thu hồi đất. Do
đó, vấn đề thu hồi đất và pháp luật về thu hồi đất đang được các nhà khoa học, nhà
quản lý quan tâm. Thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn
đề này như: Vũ Hải Anh, Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
từ thực tiễn thực hiện tại Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Người hướng dẫn:
3


PGS.TS Phạm Hữu Nghị, Viện đại học Mở Hà Nội 2015; Nguyễn Đình Long, Thực
hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa
bàn Huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội, Người hướng dẫn: PGS.TS Đinh Văn
Thanh, Viện Đại học Mở Hà Nội 2015; Phùng Quang Thắng, Pháp luật về thu hồi
đất cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo luật đất đai 2013, Người hướng
dẫn: TS. Trần, Quang Huy, Viện Đại học Mở 2014; Đỗ Xuân Trọng, Quá trình hình
thành, phát triển và nội dung quản lý nhà nước về định giá đất theo Luật đất đai
năm 2013, Tạp chí Luật học số Đặc san Luật đất đai 2014, trường Đại học Luật Hà
Nội; TS Nguyễn Thị Nga, Tổng quan pháp luật về giá đất, Đề tài nghiên cứu khoa

Luận văn đã tiếp cận và phân tích, bình luận các quy định của Luật đất đai năm
2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 43/NĐ-CP ngày
15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai,… Bên cạnh đó,
Luận văn còn tìm hiểu các quy định khác của pháp luật có liên quan đến thu hồi đất
trên địa bàn thành phố Hà Nội như Luật thủ đô năm 2012, Luật Quy hoạch đô thị
2009… Qua việc nghiên cứu những quy định của pháp luật, tác giả mong muốn làm
rõ, cụ thể các vấn đề liên quan đến thu hồi đất để làm rõ những kết quả đạt được
trong công tác thực thi pháp luật. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những đánh giá,
nêu ra những khó khăn, nguyên nhân và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa
hiệu quả trong công tác thu hồi đất.
4. Mục đích nghiên cứu
Luận văn đặt ra những mục đích nghiên cứu cơ bản sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thu hồi đất theo Luật Đất đai 2013.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về thu hồi đất nói chung và thực
tiễn thi hành Luật đất đai 2013 về thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên.
- Đưa ra những định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện quy
định pháp luật về thu hồi đất.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn dựa trên: Phương pháp luận về duy
vật biện chứng, lịch sử chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm, đường lối chính sách của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền.

5


Trên cơ sở đó, với mục tiêu tìm hiểu và đánh giá thực tiễn thực hiện Luật đất đai
2013 về thu hồi đất trên địa bàn quận Long Biên, luận văn còn sử dụng các phương
pháp sau:
-


6


7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm ba chương chính sau
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của thực hiện pháp luật về thu hồi đất
Chương 2: Tình hình thực hiện Luật đất đai 2013 về thu hồi đất trên địa bàn
quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Chương 3: : Định hướng hoàn thiện pháp luật và giải pháp

7


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT
1.1.

Khái quát về thu hồi đất

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung của thực hiện thu hồi đất
• Khái niệm thu hồi đất
Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Thu hồi là việc thu về lại, lấy lại cái
trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác”. Từ đó, ta có thể hiểu
thu hồi đất là việc Nhà nước lấy lại đất đã giao, đã cho thuê vì lý do nào đó. Thu hồi
đất thể hiện quyền lực Nhà nước, người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Vì
vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi
ích của Nhà nước, của xã hội, lặp lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước về đất
đai trên cơ sở bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

đất đai.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm thu hồi đất như sau: Thu hồi đất là văn bản
hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ
pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành
chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất.
Sau khi Nhà nước thu hồi đất nhằm các mục đích quốc phòng, an ninh và phát
triển kinh tế - xã hội thì Nhà nước phải thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư cho người dân có đất bị thu hồi nhằm bù đắp cho những mất mát đó. Vậy thế nào
là bồi thường, hỗ trợ, tái định cư?
Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với
diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất1. Có thể hiểu bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất là việc bù đắp thiệt hại về đất và tài sản trên đất do thu hồi đất gây ra cho
người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

1

Khoản 12 Điều 3 Luật đất đai 2013

9


Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất
thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển2.
Bồi thường hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đều là hậu quả pháp lý trực tiếp do
hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Có thể cho rằng bồi thường là chế định
pháp lý độc lập và hệ quả tất yếu cùa việc thu hồi đất còn hỗ trợ được xem như biện
pháp bổ sung và là sự “kéo dài” của quá trình bồi thường, đóng vai trò khỏa lấp
khoảng trống mà các quy định về bồi thường chưa giải quyết được nhằm bù đắp
một cách thỏa đáng những thiệt hại do bị Nhà nước thu hồi đất gây ra3.
Luật đất đai 2013 không định nghĩa thế nào là tái định cư khi Nhà nước thu

Thứ hai, thu hồi đất để thiết lập lại kỉ cương quản lý nhà nước trong các
trường hợp vi phạm pháp luật đất đai.
Thứ ba, Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp khác như tổ chức kinh tế
được Nhà nước giao đất không thu tiền mà giải thể, phá sản, người sử dụng đất tự
nguyện trả lại đất khi không có nhu cầu sử dụng … nhằm đưa đất đai vào sử dụng
có hiệu quả.
Như vậy, thu hồi đất nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm
pháp luật đất đai và hơn thế nữa nó là biện pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, đồng thời đảm bảo cho việc sử dụng đất đai hợp lý đạt hiệu quả kinh tế cao,
đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai.
Ý nghĩa của việc thu hồi đất
Xét về góc độ chung thì thu hồi đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng như sau:
- Về xã hội: khi cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất thì phải có phương
án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị thu hồi
đất. Việc thu hồi đất góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, nhiều khu công nghiệp
hình thành đã giải quyết việc làm cho người lao động, nhiều khu đô thi mọc lên giải
quyết được nơi ở cho người dân góp phần đảm bảo an ninh trật tự cho toàn xã hội.
- Về kinh tế: thu hồi đất có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy nhanh sự
phát triển của đất nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu phát triển theo hướng
công nghiệp hóa hiện đại hóa. Khi triển khai xây dựng các dự án để nâng cao cơ sở
vật chất kĩ thuật thu hút nhiều nhà đầu tư vào Việt Nam, nhiều khu đô thị, khu công
nghiệp mọc lên làm thay đổi bề mặt đất nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát
triển.

5

Xem: Nguyễn Thị Nhật Tân, Pháp luật về các trường hợp thu hồi đất : khóa luận tốt nghiệp; PGS. TS.
Nguyễn Thị Nga hướng dẫn; Hà Nội, 2016. Tr 11

11

12


Việc thu hồi đất để phát triển mở rộng đô thị, phát triển nền kinh tế công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là một việc làm rất cần thiết. Mọi tổ chức, cá nhân đều rất
cần đất để sinh sống và làm việc, ví dụ: doanh nghiệp cần đất để xây dựng các khu
công nghiệp phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cá nhân cần đất để xây
dựng nhà ở và làm nông nghiệp, ngay cả việc Nhà nước thu hồi đất để xây dựng trụ
sở cơ quan hành chính Nhà nước quốc phòng, an ninh và công cộng. Vấn đề đặt ra
là phải phân chia đất hợp lý để mọi tổ chức, cá nhân đều có đất đầy đủ. Để phát
triển nền kinh tế quốc gia, Nhà nước cần đẩy mạnh phát triển toàn diện, ưu tiên phát
triển công cộng phục vụ cho lợi ích toàn xã hội những vẫn phải đảm bảo việc bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Đây là biện pháp nhằm bù đắp
phần nào mất mát của người bị thu hồi đất, nếu Nhà nước thu hồi đất của người dân
mà không bồi thường là vi phạm quyền của công dân theo tinh thần của Hiến pháp
2013.
1.1.3. Tác động, ảnh hưởng của việc thu hồi đất
Xuất phát từ lý do thu hồi đất là một trong những nội dung của quản lý Nhà
nước về đất đai vì vậy sự can thiệp của Nhà nước dựa trên những quy định cụ thể
của pháp luật có một vai trò vô cùng quan trọng. Việc thu hồi đất là điều mang tính
tất yếu khách quan của sự phát triển. Vì vậy, việc thu hồi đất có liên quan đến
quyền và lợi ích của các chủ thể: Nhà nước, chủ đầu tư, người bị nhà nước thu hồi
đất.
Nhà nước với tư cách là chủ đầu tư lớn nhất có nhiệm vụ xây dựng các cơ sở
kinh tế hạ tầng xã hội, sử dụng đất vào mục đích công cộng, lợi ích của cộng đồng,
bảo vệ chủ quyền quốc gia cũng với các chủ đầu tư khác có nhu cầu sử dụng đất rất
lớn. Trong khi đó, những diện tích Nhà nước có nhu cầu sử dụng lại do tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân đang có quyền sử dụng. Việc thu hồi đất giúp cho Nhà nước có
một vốn đất cần thiết để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế như xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng

khai công tác thu hồi đất kéo dài cũng là nguyên nhân chính gây bất lợi làm ảnh
hưởng đến tâm lý các nhà đầu tư.
Đối với những người có đất bị thu hồi, việc thu hồi đất để phục vụ cho các
mục đích khác nhau đã và đang có tác động đối với đời sống và việc giải quyết công
14


ăn việc làm cho người dân ở các vùng bị thu hồi đất. Trước hết, việc bị thu hồi đất
đã ảnh hưởng lớn đến đời sống và sinh hoạt của người bị thu hồi. Mặc dù tất cả các
dự án có thu hồi đất đều có các phương án đền bù và ổn định cuộc sống cho người
bị thu hồi. Song, vì nhiều lý do khác nhau, việc đền bù cho người bị thu hồi đất
không đem lại hiệu quả như mục tiêu đề ra. Do vậy, người bị thu hồi đất gặp rất
nhiều khó khăn trong việc ổn định lại sản xuất và thu nhập. Việc thu nhập bị giảm
sút là điều không thể tránh khỏi.
Liên quan đến vấn đề thu nhập, hầu hết người bị thu hồi đất đều được tính
toán đền bù bằng tiền mặt. Việc đền bù này là nhằm giúp cho người bị thu hồi có
được một khoản tiền để ổn định lại chỗ ở, ổn định sản xuất, chuyển đổi ngành
nghề,… Tuy nhiên, trên thực tế không phải ở bất cứ nơi nào việc đền bù cũng được
tính toán một cách hợp lý, người bị thu hồi đất thường bị thiệt thòi. Họ bỗng dưng
nhận được một khoản tiền lớn, trong khi chưa biết sử dụng số tiền đó như thế nào
cho hiệu quả và cũng không có cơ quan, đoàn thể nào hướng dẫn cho người dân sử
dụng số tiền đó như thế nào cho hợp lý, dẫn đến không ít các hộ bị thu hồi đất
không sử dụng tiền để tái đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, hay học nghề để chuyển
đổi nghề nghiệp như chính mục tiêu mà việc đền bù đề ra. Thu hồi đất đã ảnh
hưởng lớn đến đời sống và thu nhập của người dân sau khi bị thu hồi đất, làm cho
người cuộc sống của họ sau khi bị thu hồi đất gặp rất nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, người dân ở những khu vực bị thu hồi đất còn phải đối mặt với
một trong những vấn đề nan giải, góp phần làm cho đời sống của họ thêm phần khó
khăn, hiệu quả sản xuất thấp do ô nhiễm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
từ việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị gây ra. Có thể

hội chủ nghĩa Việt Nam từ khi thống nhất đất nước cho đến khi bắt đầu đổi mới
(1976- 1987), cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội theo nền kinh tế kế hoạch.
Trong thời gian trước năm 1980 quy định về thu hồi đất chưa được đề cập đến
trong các văn bản về công tác quản lý đất đai. Ngày 1 tháng 7 năm 1980, Hội đồng
Chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và
tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Lần đầu tiên nội dung về thu
hồi đất được quy định. Thu hồi đất là một trong 7 nội dung về quản lý của nhà nước
đối với ruộng đất. Theo quyết định này, về việc thu hồi đất mới chỉ đưa ra quy định
về: thẩm quyền thu hồi đất; các trường hợp phải thu hồi đất; giải quyết việc thu hồi
đất không phải là do lỗi của người sử dụng đất hoặc bị trưng dụng đất.
16


Như vậy, giai đoạn 1945 đến trước năm 1987, tuy chưa có Luật đất đai nhưng
đã có văn bản pháp quy sơ khai quy định về thu hồi đất.
• Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1993: Thực hiện theo Luật Đất đai 1987
Sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu kinh tế kế hoạch, đến năm
1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới, xoá bỏ
bao cấp, chuyển sang nền kinh tế hạch toán kinh doanh. Trước tình hình đó, ngày
29 tháng 12 năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
thông qua Luật đất đai đầu tiên - Luật Đất đai 1987. Luật này được công bố ban
hành bằng Lệnh của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ngày 08 tháng 01 năm 1988. Luật
Đất đai 1987 khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
quản lý6. Và vẫn giữ 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai như ở Quyết định số
201/CP năm 1980, nội dung về thu hồi đất được quy định là "Giao đất, thu hồi đất".
Khi Nhà nước cần sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng hoặc phục vụ cho lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng thì Nhà nước thu hồi đất hoặc có thể trưng dụng đất.
Theo Luật đất đai 1987, quy định về thu hồi đất bao gồm những nội dung sau:
- Khoản 4 Điều 12 quy định: “Việc quyết định giao đất đang sử dụng cho
người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó của cơ quan

Sau giai đoạn bắt đầu đổi mới (từ 1986-1991), chúng ta vẫn còn thiếu nhiều
quy định và ngay cả hệ thống pháp luật đã ban hành cũng còn nhiều bất cập, chưa
đáp ứng được tình hình đổi mới của đất nước. Vì vậy, Hiến pháp 1992 ra đời, trong
đó quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân (Điều 17), "Nhà nước thống nhất quản
lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và
có hiệu quả" (Điều 18). Để phù hợp với giai đoạn mới và thực hiện đổi mới toàn
diện nền kinh tế, cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, khắc phục những hạn chế của
Luật Đất đai 1987, ngày 14 tháng 7 năm 1993, Quốc hội khoá IX thông qua Luật
Đất đai 1993. Thu hồi đất theo Luật đất đai 1993 vẫn là một trong những nội dung
về quản lý nhà nước về đất đai theo như Luật đất đai 1987 và Quyết định 201/CP
năm 1980. Một số nội dung cơ bản về thu hồi đất được Luật đất đai 2003 quy định
như sau:

7

Xem: Đỗ Xuân Trọng, Quá trình hình thành, phát triển và nội dung quản lý nhà nước về định giá đất theo
Luật đất đai năm 2013, Tạp chí Luật học số Đặc san về Luật đất đai, 2014, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.66

18


- Điều 21 quy định: “Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho
người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó”. Quy định này
về cơ bản giống với quy định tại Khoản 4 Điều 12 Luật đất đai 1987.
- Điều 27 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất
đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”.
- Điều 28 quy định: “Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất
nào thì có quyền thu hồi đất đó.
Việc thu hồi đất để chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch và

Như vậy, trải qua 10 năm thực hiện Luật đất đai năm 1993 với những quy định
mới thì công tác thu hồi đất đã đạt được những thành tích cũng như có những hạn
chế nhất định. Công tác quản lý nhà nước về thu hồi đất về cơ bản đã được thực
hiện nghiêm túc, dần đi vào nề nếp, tạo điều kiện sử dụng đất đai hợp lý và hiệu quả
hơn, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn gặp phải những hạn chế sau: công tác thu hồi
đất gặp nhiều ách tắc, bất cập, xử lý những vi phạm về thu hồi đất còn chưa nghiêm
khắc và kịp thời.
• Giai đoạn từ năm 2004 đến 2013: Thực hiện theo Luật Đất đai 2003
Luật Đất đai 1993 (gồm cả Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai
1998 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai 2003) là một trong
những đạo luật quan trọng thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta.
Những kết quả đã đạt được trong quá trình thực hiện Luật Đất đai 1993 là rất nhiều
và đã thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị - xã hội. Tuy nhiên,
trước tình hình phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội, pháp luật về đất đai mà
nòng cốt là Luật Đất đai 1993 cũng bộc lộ rõ những hạn chế. Kế thừa những nội
dung còn phù hợp của Luật đất đai hiện hành, luật hoá một số quy định tại các văn
bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai đã được cuộc sống chấp nhận, đồng thời đưa
8

Xem: TS Nguyễn Thị Nga, Tổng quan pháp luật về giá đất, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Trường
Đại học Luật Hà Nội, 2013, tr.151

20


vào Luật đất đai những nội dung mới cần sửa đổi, bổ sung nhằm tạo lập một hệ
thống pháp luật, đáp ứng cho thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Chế định về thu hồi đất cũng được quy định chi tiết hơn. Lần đầu tiên, khái

01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục
thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
Như vậy, trong quá trình thi hành Luật đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn
thi hành về thu hồi đất đã đạt được những kết quả nhất định: Nhà nước đã tiến hành
thu hồi đất để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh. Việc tổ chức thực hiện thu hồi đất phát huy được nhiều hiệu quả tốt,
góp phần đáp ứng nhu cầu "đất sạch" để thực hiện các dự án đầu tư nhất là các dự án
đầu tư nhằm mục đích công cộng. Công tác thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai
cũng đạt được những kết quả tốt. Tuy nhiên, việc thu hồi đất gặp nhiều khó khăn, làm
chậm tiến độ triển khai nhiều dự án đầu tư, gây bức xúc cho cả người sử dụng đất,
nhà đầu tư và chính quyền nơi có đất thu hồi do các nguyên nhân sau:
- Giá đất bồi thường còn thấp hơn so với giá thị trường. Mặc dù, Luật đất đai
2003 đã có những quy định về nguyên tắc giá đất do Nhà nước quy định: “sát với giá
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình
thường”9. Đồng thời, còn có quy định về phương pháp định giá đất. Nhưng trên thực
tế, vẫn phát sinh những vướng mắc dẫn đến không phát huy được hiệu quả khi thực
hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
- Việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng còn bất cập, chưa có cơ chế
giải quyết một cách rõ ràng, minh bạch, hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, người có
đất bị thu hồi và nhà đầu tư;
- Việc chuẩn bị phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa được các cấp
chính quyền quan tâm đúng mức, nhất là phương án giải quyết việc làm cho người bị
thu hồi đất;
9

Điều 56 Luật đất đai 2013

22




mới của nó vẫn chưa đủ sức đáp ứng sự đòi hỏi của xã hội về nhiều mặt, như: sự
công bằng, tính hiệu quả... Thậm chí thu hồi đất trong một số trường hợp còn gây ra
nhiều bất ổn trong đời sống kinh tế - chính trị - xã hội.
Ngày 29 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII đã thông
qua Luật đất đai năm 2013. Luật đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều, tăng
07 chương và 66 điều so với Luật đất đai năm 2003, đã thể chế hóa đúng và đầy đủ
những quan điểm, định hướng nêu trong Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ
6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng thời khắc phục, giải quyết được những
tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành Luật đất đai năm 2003. Những
quy định về thu hồi đất cũng được sửa đổi để khắc phục những hạn chế còn tồn tại
phù hợp với tình hình thực tiễn. Cụ thể:
Thứ nhất, Luật xác định rõ và quy định cụ thể những trường hợp mà Nhà nước
phải thu hồi đất: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai;
Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có
nguy cơ đe dọa tính mạng con người (Khoản 1 Điều 16). Quy định này nhằm khắc
phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của
người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu
hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã
hội.
Thứ hai, Luật quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
tái định cư đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất
thu hồi; đồng thời khắc phục và điều tiết một cách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước là
chủ sở hữu về đất đai, người sử dụng đất và nhà đầu tư.
Bên cạnh những quy định mới của Luật đất đai 2013, Chính phủ và các ban
ngành liên quan cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành luật.
- Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của luật đất đai.
24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status