PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi luôn là hai ngành chủ
yếu, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại, hỗ trợ nhau cùng
th
ống nhất và cùng phát triển. Trong những năm vừa qua, nhờ áp dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất mà ngành trồng trọt đã có
nhi
ều bước tiến mạnh mẽ. Tuy nhiên do quá trình công nghiệp hoá, đô thị
hoá đang diễn ra với tốc độ
chóng mặt ở khắp nơi trong cả nước như hiện
nay đ
ã làm cho đất đai (tư liệu đặc biệt và không thay thế của ngành trồng
trọt) ngày càng bị thu hẹp, kéo theo đó là việc phát triển trồng trọt ngày
càng tr
ở nên khó khăn hơn. Vì vậy việc phát triển nông nghiệp chuyển
hướng sang phát triển chăn nuôi l
à chủ yếu.
Long Biên là quận mới được thành lập ngày 01/01/2004 theo nghị
định 132/2003/NĐ
-CP ngày 06/11/2003 của Chính phủ xong nơi đây cũng
chỉ mới nổi lên được một vài trung tâm đô thị phát triển: Sài Đồng, Việt
Hưng, Ngọc Lâm, Thượng Thanh… với các cụm công nghiệp: Sài Đồng A,
Sài Đồng B, Đài Tư, Hanel…c
òn đại đa số các phường: Cự Khối, Bồ Đề,
Giang Biên, Gia Thuỵ… vẫn duy trì và phát triển nền sản xuất nông nghiệp
truyền thống, đặc biệt là phát triển chăn nuôi.
Với diện tích lớn nhất so với các quận nội thành Hà Nội (S: 6038,24
hecta) g
ồm 14 phường với số dân là 185.661 người trong đó có tới 1644,2
ực phẩm là một nhu cầu thiết yếu của quận. Để tìm ra được giải pháp hợp
lý và có chiến lược lâu dài trong định hướng phát triển chăn nuôi và công
tác ki
ểm soát giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn quận Long Biên cho phù
h
ợp với thời đaị, thiết nghĩ việc đầu tiên là phải nắm được chính xác tình
hình ch
ăn nuôi và công tác giết mổ thực tế đang diễn ra như thế nào chúng
tôi ti
ến hành đề tài:
“Thực trạng tình hình chăn nuôi và hoạt động giết mổ với vấn đề
ô nhiễm môi trường trên địa bàn quận Long Biên - Thành phố Hà Nội”.
- 2 -
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
+ Khảo sát thực trạng tình hình chăn nuôi trên địa bàn quận và ảnh
hưởng của nó tới môi trường sống dân cư.
+ Kh
ảo sát hoạt động giết mổ diễn ra trên địa bàn quận để từ đó có
cái nhìn c
ụ thể về khía cạnh ảnh hưởng tới môi trường như thế nào.
PHẦN THỨ HAI
TỔNG QUAN
2.1. Các yếu tố chất thải trong chăn nuôi và giết mổ
2.1.1. Chất thải trong chăn nuôi
Trong quá trình nuôi, gia súc, gia cầm thải ra ngoài môi trường phân,
nước tiểu và thức ăn thừa. Các chất này đóng vai trò rất lớn trong quá trình
gây ô nhi
ễm môi trường chăn nuôi. Bản thân các chất thải ra trong quá
trình chăn nuôi này chứa nhiều nhân tố độc hại nhưng có thể quy ra 3 nhóm
chính :
ần nước thải chăn nuôi biến động rất lớn phụ thuộc vào quy
mô chăn nuôi, phương pháp vệ sinh, kiểu chuồng trại và chất lượng nước
vệ sinh chuồng trại....Trong nước thải, nước chiếm 75 – 95%, phần còn lại
là các chất hữu cơ, vô cơ và mầm bệnh.
Chất thải rắn trong chăn nuôi: bao gồm phân, rác, chất độn
chuồng, thức ăn dư thừa, xác gia súc chết hàng ngày. Tỷ lệ các chất hữu cơ,
vô cơ, vi sinh vật trong chất thải phụ thuộc vào khẩu phần ăn, giống, loài
gia súc và cách d
ọn vệ sinh.
Trong ch
ất thải rắn chứa : nước 56 - 83%, chất hữu cơ 1 - 26%, nitơ
0,32 – 1,6%, P 0,25 – 1,4%, K 0,15 – 0,95% và nhiều loại vi khuẩn, virus,
trứng giun sán gây bệnh cho người và động vật.
- 4 -
Các thành phần trong chất thải rắn có thể khác nhau và tỷ lệ các
thành phần này cũng khác nhau tuỳ từng loại gia súc, gia cầm.
Ngoài một số thành phần như ở trên thì trong chất thải rắn còn chứa
một số vi sinh vật gây bệnh cho người và động vật.
Một số VSV trong chất thải rắn của một số loài vật nuôi
Chỉ tiêu Đơn vị Lợn Bò Gà
ColiForm MPN/100g 4.10
6
– 10
8
3. 10
6
- 10
7
1,5.10
8
10 - 10
2
10 - 10
2
Đơn bào MPN/10g 0 - 10
3
0 - 10
3
0 - 10
3
(Nguyễn Thị Hoa L ý – 2004).
* Các chất gây ô nhiễm môi trường trong chất thải chăn nuôi
Trong chất thải chăn nuôi có nhiều chất gây ô nhiễm môi trường. Các
nhà khoa học đã phân chia các tác nhân trong chất thải chăn nuôi thành các
lo
ại: Các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học, các chất hữu cơ bền vững,
các chất vô cơ, các chất có mùi, các chất rắn, các loại mầm bệnh ...
Các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học
Gồm các chất như: Cacbonhydrat, protein, chất béo.... Đây là chất
gây ô nhiễm chủ yếu của nước thải khu dân cư, công nghiệp chế biến thực
phẩm, lò mổ, chế biến sữa.Chất hữu cơ tiêu thụ ôxy rất mạnh, gây hiện
tượng giảm ô
xy trong nguồn tiếp nhận dẫn đến suy thoái và giảm chất
lượng nguồn nước.
- 5 -
Các chất rắn tổng số trong nước
Bao gồm chất rắn lơ lửng và chất rắn hoà tan, chất rắn bay hơi và
chất rắn không bay hơi do các chất keo protein, hydratcacbon, chất béo có
trong nước thải hoặc được tạo ra khi gặp điều kiện như: pH, nhiệt độ, độ
cứng thích hợp. Lượng chất rắn lơ lửng cao trong nước gây cản trở quá
Các chất vô cơ
Bao gồm các chất như Amonia, ion PO
4
3+
, K
+
, SO
4
2-
, Cl
+
. Kali trong
phân là ch
ất lỏng tồn tại như một loại muối hoà tan, phần lớn là từ nước
tiểu gia súc bài tiểt ra khoảng 90%. Kali trong thức ăn cũng được gia súc
bài tiết ra ngoài.
Ion SO
4
được tạo ra do sự phân huỷ các hợp chất chứa lưu huỳnh
trong điều kiện hiếu khí hoặc yếm khí.
(CH
3
)
2
S + 2H
2
→ 2CH
4
+ H
2
quá mức 350mg/l sẽ gây ô nhiễm đất, nước ngầm và nước bề mặt........
Các chất có mùi
Có nhiều trong nước thải nên nước thải chăn nuôi thường có mùi hôi
th
ối, gây ô nhiễm không khí. Không khí trong chuồng nuôi chứa khoảng
100 hợp chất khí (Haitung và Phillips,1994 ); H
2
và CO
2
từ những nơi chứa
phân lỏng dưới đất có thể gây nên sự ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính cho
v
ật nuôi. Mùi phân đặc biệt hôi thối khi người ta tích luỹ phân để phân huỷ
trong trạng thái yếm khí, khí độc hại toả ra môi trường xung quanh ở nồng
độ cao có thể gây nôn mửa, ngạt thở, ngất xỉu hoặc chết người.
Lượng NH
3
và H
2
S vượt quá giới hạn cho phép sẽ gây mùi hôi và
kích thích v
ật nuôi, đặc biệt là lên đường hô hấp. Các chất gây mùi còn
được đánh giá bởi hàm lượng chất rắn bay hơi và mỡ dư thừa trong chất
thải. Các chất dư thừa ở dạng chưa phân huỷ tạo điều kiện cho vi sinh vật
gây thối rữa phát triển.
- 7 -
Các chất tạo mùi trong nước thải
Chất tạo mùi Công thức Mùi đặc trưng
Amin CH
3
SCH
3
SSCH
3
Bắp cải rữa
(Nguyễn Thị Hoa Lý – 2005)
Các yếu tố vi sinh vật
Trong chất thải có chứa một tập đoàn khá rộng các vi sinh vật có lợi
và có hại, trong đó có nhiều loại trứng ký sinh trùng, vi trùng và virus gây
b
ệnh như: E.coli, Salmonella, Shigella, Proteus, Arizona....
Bình th
ường, các vi sinh vật này sống cộng sinh với nhau trong
đường ti
êu hoá nên có sự cân bằng sinh thái. Khi xuất hiện tình trạng bệnh
lý thì sự cân bằng đó bị phá vỡ, chẳng hạn như gia súc bị ỉa chảy thì số
lượng vi khuẩn gây bệnh sẽ nhiều hơn và lấn áp tập đo
àn vi khuẩn có lợi.
Trong những trường hợp vật nuôi mắc các bệnh truyền nhiễm khác thì sự
đào thải vi
trùng gây bệnh trong chất thải trở nên nguy hiểm cho môi
trường v
à cho các vật nuôi khác
- 8 -
Một số bệnh điển hình liên quan đến chất thải chăn nuôi
Gây bệnh
Mầm bệnh Loại
Chất thải
ra
Đường
ch
ất thải
Nư
ớc, thức
ăn - + -
Ascarissuum
Ký sinh
trùng
Phân,
ch
ất thải
Nư
ớc, thức
ăn - + +
Bệnh ngoài
da
N
ấm,
ký sinh
trùng
Phân,
ch
ất thải
Nư
ớc, thức
ăn, da, niêm
mạc - + +
Cl. Parium
Ký sinh
trùng
lại nhiều kết quả tốt, nhưng chỉ sau đó vài lứa nuôi, tình trạng bệnh dịch
của đàn gia súc đã tăng lên đáng kể. Có nhiều gia đình đã bị thua lỗ vì dịch
bệnh gây ra cho đàn vật nuôi. Trong quá trình chăn nuôi, chất thải đã góp
ph
ần gây ra các bệnh đường hô hấp, tiêu hoá dẫn tới tình trạng sử dụng
kháng sinh một cách tràn lan để phòng và điều trị bệnh. Chính điều này làm
gi
ảm đáng kể hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi và cả chất lượng sản phẩm
vật nuôi (Đậu Ngọc Hào và cộng sự, 1997).
2.1.2. Chất thải trong quá trình giết mổ
Chất thải lò mổ là các chất rắn, chất lỏng được thải ra sau quá trình giết mổ
gia súc, gia cầm. Đây là loại chất thải có chứa nhiều hợp chất vô cơ, hữu cơ
dễ bị phân hủy và nhiều loại mầm bệnh.
2.1.2.1. Chất thải rắn trong lò mổ
Chất thải rắn trong lò mổ gia súc gồm có rác, phân, lông, xác gia súc,
chất chứa dạ dày, ruột, mỡ, xương, da, phủ tạng của gia súc phân hủy.
Tùy t
ừng loại chất rắn mà độ ẩm và các thành phần N, P, K, chất hữu cơ có
sự khác nhau. Trong phân gia súc, nước chiếm 56-83%, chất hữu cơ 14-
26%, nitrogen chi
ếm 0,32-1,6%, phosphat chiếm 0,25-1,4%, kali chiếm
0,15-0,95%. Bên cạnh đó còn chứa nhiếu loại vi khuẩn, virus và trứng giun
sán gây bệnh.
- 10 -
2.1.2.2. Chất thải lỏng trong lò mổ
Nước thải bao gồm nước thải từ khu chuồng nuôi chờ giết, khu tắm
gia súc, khu giết thịt, khu làm lòng, nước rửa xe, nước làm vệ sinh nhà
xưởng, dụng cụ giết mổ có máu, mỡ, phân…..
Ngu
ồn nước này chứa nhiều chất có thể gây ô nhiễm nếu không
Lò mổ hỗn
hợp
Chất rắn lơ lửng
Nitơ hữu (TN)
BOD
929
324
2240
- 11 -
* Các thông số đánh giá sự ô nhiễm trong nước thải lò mổ
Chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học: Bao gồm các chất như
cacbohydrate, protein, chất béo… Đây là những chất gây ô nhiễm nước thải
khu dân cư, công nghiệp chế biến thực phẩm, l
ò mổ, các nhà máy chế biến
sữa. Chất hữu cơ tiêu thụ ôxy rất mạnh dẫn đến suy thoái tài nguyên thủy
sản và giảm chất lượng nguồn nước cấp cho sinh hoạt.
Để đánh giá lượng chất hữu cơ trong chấ
t thải người ta sử dụng các
thông số sau :
- COD (Chemical oxygen demand) là số mg ôxy cần thiết để ôxy
hóa hoàn toàn các h
ợp chất hữu cơ có trong một đơn vị thể tích nước thải
được xác định bằng phương pháp sử dụng kỹ thuật ti
êu chuẩn. COD
thường được sử
dụng như một phương pháp chính xác và rẻ tiền để xác
định lượng
ôxy yêu cầu trước khi xử lý chất thải.
- BOD (Biochemical oxygen demand) là lượng ôxy do vi sinh vật
tiêu thụ để ôxy hóa sinh học các chất hữu cơ trong 1 đơn vị thể tích nước
Dệt 1303 592 2,20
Giấy 991 588 1,69
Bột giặt 5790 2640 2,19
Hóa dầu 3844 1745 2.20
Cao su 380 119 2,59
Các chất vô cơ
Nước thải lò mổ và nước thải từ các xí nghiệp chế biến sản phẩm
động vật luôn có một lượng chất vô cơ như: ion SO
4
, NO
3
, NH
4
, Cl,
PO
4
,Na, K...
Các chất có chứa nitơ
Nitơ tồn tại ở ba dạng trong chất thải: Nitơ hữu cơ, muối amonia và
các ch
ất khí amonia hòa tan. Amonia ở dưới dạng dung dịch gây độc đối
với cuộc sống dưới nước; sự thải tối đa vào cống rãnh đạt 40 mg/l. Nitrat
có nồng độ cao trong nước tự nhiên làm tăng sự phát triển của tảo, rong
- 13 -
rêu, ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt và thủy sản. Lượng tối đa
trong nước uống được l
à 0,5 mg/l.
Các chất rắn
Đó là trọng lượng cuối cùng của một lượng chất thải đã biết được sấy
khô đến một đại lượng không đổi ở 105
sinh vật phát triển, nhất là nơi có nhiều bụi và hơi nước.
Theo tài liệu nước ngoài, trong chuồng bò sữa ở điều kiện sản xuất
bình thường, 1m
3
không khí có từ 121-2530 vi sinh vật, ban ngày vi sinh
v
ật nhiều hơn ban đêm. Độ ẩm tuyệt đối của không khí tăng thì số lượng vi
sinh vật giảm.
Sự tồn tại của bụi vi khuẩn trong không khí phụ thuộc vào nhiệt độ,
độ ẩm của không khí. Khi giảm nhiệt độ hoặc tăng độ ẩm của không khí th
ì
quá trình ng
ưng tụ hơi nước lên các hạt bụi sẽ tăng, do đó làm tăng trọng
lượng hạt bụi và tăng quá tr
ình lắng đọng của chúng, đáng chú ý nhất là vi
khu
ẩn Salmonella, E.coli và Clostridium perfringens.
Khi các vi sinh v
ật tồn tại trong không khí cao và vật nuôi cảm thụ
hít phải không khí nhiễm vi khuẩn sẽ phát bệnh. Không khí sẽ là nhân tố
trung gian làm lan truyền mầm bệnh khi có đủ 2 yếu tố cơ bản sau:
+ Các vi sinh v
ật tồn tại trong không khí với nồng độ đủ cao.
+ Gia súc, người dễ cảm thụ hít phải không khí nhiễm khuẩn đó.
Qua nghiên cứu cho thấy đa số các vi sinh vật gây bệnh đường hô
hấp có thể tồn tại lâu được, độc tính lưu truyền kéo dài trong không khí và
đất, như Micoplasma. Ngoài các vi khuẩn gây bệnh còn có các nấm mốc từ
thức ăn rơi vãi nhiễm nấm lan truyền trong không khí và nền chuồng. Khí
- 15 -
hậu nóng ẩm của nước ta rất thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh và nấm mốc
không khí
Còn theo Safir (1991) ( D
ẫn theo Đỗ Ngọc Hoè, 1995) thì không khí
s
ạch có lượng vi sinh vật trong 1m
3
về mùa hè ít hơn 1500, về mùa đông ít
hơn 4500. Không khí bẩn có lượng vi sinh vật trong 1m
3
không khí về mùa
hè
≥ 2500, về mùa đông ≥ 7000.
* Một số vi khuẩn gây ô nhiễm trong các cơ sở giết mổ
Nghiên cứu về tập đoàn vi khuẩn hiện diện trong các lò mổ ở Bắc Ai
-len, Patterson (1967) (Dẫn theo Nguyễn Ngọc Tuân, 2002) cho thấy : Loại
gram dương gồm
: Bacillus, Mycobacterium thermospactum ; gram âm
- 16 -
gồm có Pseudomonas, Aeromonas, Vibrio, Enterobacter, Klebsiella và
Yersina enterocolitica. Salmonella tìm th
ấy trong mẫu nạo từ móng là 260
vi khu
ẩn/gam mẫu, ở lớp mùn trong chuồng bò là 3 triệu/1mg và lông bò là
4 tri
ệu/gam mẫu. Nơi nhiễm nặmg nhất là nước uống trong chuồng nhốt
động vật chờ giết mổ, lông, máu, chất chứa trong dạ cỏ, đất v
à phân
Theo Nguy
ễn Thị Hoa Lý thì trong phân và nước thải của lò mổ một
số tỉnh phía Nam có chứa nhóm vi trùng đường ruột như E.coli,
30 phút. Các ch
ất sát trùng thông thường như nước Javen 0,5%, phenol
0,5% dễ dàng diệt E.coli sau 2 – 4 phút. Tuy nhiên ở môi trường bên ngoài
các ch
ủng E.coli có thể tồn tại đến 4 tháng.
Vi khuẩn này gây nhiễm vào thịt, người ăn phải thịt có nhiễm E.coli
d
ễ bị ngộ độc với triệu chứng đau bụng dữ dội, rất ít nôn mửa, đi phân lỏng
khoảng 1-15 lần/ngày, nhiệt độ cơ thể bình thường hoặc hơi tăng nhẹ. Bệnh
kéo dài 1-3 ngày rồi khỏi. Trường hợp nặng cơ thể sốt cao, chân tay co
qu
ắp, bệnh khỏi sau 10 ngày.
Vi khuẩn Clostridium perfringens
Là một trực khuẩn to, ngắn, thẳng hoặc hơi cong, hai đầu tròn, kích
thước 0,5 – 0,8 x 3 - 4µ, bắt màu gram dương. Vi khuẩn có sức đề kháng
yếu, đun sôi 100ºC bị chết sau 5 phút. Nha bào của vi khuẩn có khả năng
chống đỡ tốt hơn đun sôi 100ºC bị diệt sau 1 giờ, formol 3% bị diệt sau 24
giờ.
Mầm bệnh thường thấy ở thịt nguyên liệu, thịt gia cầm. Chúng
thường cư trú trong ruột động vật, nhiễm vào thực phẩm bằng nhiều cách
và ở trong các sản phẩm đó chúng sẽ phát triển. Sau khi ăn các món ăn, chủ
yếu là thịt hoặc thực phẩm có nguồn gốc động vật bị nhiễm mầm bệnh thì
có th
ể bị lây bệnh.
Triệu chứng trúng độc: viêm ruột và dạ dày, đau bụng đi ngoài, phân lỏng
hoặc toàn nước có khi lẫn với máu hoặc mũi thỉnh thoảng có cả nôn mửa.
- 18 -
2.3. Các yếu tố môi trường trong các cơ sở giết mổ và chuồng nuôi ảnh
hưởng tới sức khoẻ người sản xuất và môi trường xung quanh
Yếu tố môi trường trong chăn nuôi và các cơ sở giết mổ có vai trò rất
2
sẽ tăng lên do kết quả phân giải
phân động vật và do quá trình hô hấp bình thường của động vật trong một
không gian kín. Vì v
ậy trong các chuồng nuôi có mật độ cao và thông khí
kém, hàm lượng cacbonic tăng cao có thể vượt quá tiêu chuẩn và trở nên
r
ất có hại đối với cơ thể.
Theo Helbak và c
ộng sự (1978) (dẫn theo Bùi Thị Phương Hoà) đã
ti
ến hành thí nghiệm đối với gà mái đẻ nuôi trong chuồng có nồng độ khí
CO
2
là 5% trong 24h thấy gà ngạt thở, ủ rũ, đứng không vững, phân nhiều
n
ước, pH máu giảm.
- 19 -
Có nhiều ý kiến khác nhau về hàm lượng khí CO
2
cho phép trong các
cơ sở chăn nuôi và cơ sở giết mổ. Theo Blaunt (1974) (Dẫn theo Bùi Thị
Phương Hoà, 2000) th
ì hàm lượng khí CO
2
trong chuồng nuôi không vượt
quá 0,07 – 0,1%. Còn theo Perocastell và m
ột số tác giả thì con số này là
0,02%.
Ở Việt Nam, chỉ tiêu vệ sinh thú y cho phép của CO
ở lên
250.000 ppm tr
ở lên
Khó th
ở, thờ thẫn hoặc đau đầu
Tác h
ại gây mê, choáng váng, bất tỉnh
Gây t
ử vong
II. Đối với lợn:
40.000 ppm
90.000 ppm
200.000 ppm tr
ở lên
Tăng nhịp thở
Khó chịu
L
ợn thịt xuất chuồng không chịu nổi quá 1 giờ
- 20 -
2.3.1.2. Khí sunfuahydro (H
2
S)
Đây là loại khí độc tiềm tàng trong các chuồng chăn nuôi gia súc gia
cầm. Nó được sinh ra do vi sinh vật yếm khí phân huỷ protein và các vật
chất hữu cơ co chứa Sunfua khác. Các khí thải H
2
S sinh ra được giữ lại
trong chất lỏng của nơi lưu giữ phân.
Khí H
2
S ở nồng độ cao trong các chuồng chăn nuôi. Người ta có thể xác định
được m
ùi H
2
S ở nồng độ rất thấp (0,025ppm) trong không khí chuồng nuôi.
Ảnh hưởng có hại của các hàm lượng khí H
2
S khác nhau
trong chu
ồng nuôi
Nồng độ H
2
S (ppm) Ảnh hưởng có hại
250 Mệt mỏi, niêm mạc mắt bị kích thích, tăng tiết
nước bọt
400 Yếu cơ, khó nuốt, khó thở
700 Hôn mê
1000 Trúng độc, co thắt và dẫn đến chết
- 21 -
Hàm lượng H
2
S cho phép trong không khí chuồng nuôi theo X.A
Kastelle, năm 1998 (Dẫn theo B
ùi Thị Phươg Hoà) là 0,001%. Ở Việt Nam
tiêu chuẩn cho phép tối đa là 0,015mg/l (Đỗ Ngọc Hoè, 1995) (Dẫn theo
Bùi Thị Phương Hoà).
Amoniac và Sunfuahydro đều dễ ho
à tan và hấp thu trên bề mặt ẩm:
độ ẩm không khí càng cao thì NH
3
3
vào còn kích thích mạnh hệ thống thần kinh
trung
ương làm ngừng hô hấp, huyết áp tăng, toàn thân tê liệt, ngất.
Theo Đào Ngọc Phong (1979) khi hít phải nồng độ 75 – 100 ppm
amoniac gây ra s
ự biến đổi trong biểu mô đường hô hấp, làm mất lớp vi
mao và tăng tế bào tiết dịch nhầy. Nhịp tim và nhịp thở cũng bị ảnh hưởng
và có th
ể gây xuất huyết trong các túi khí phế quản. Ở nồng độ 100 ppm,
NH
3
gây loét niêm mạc và mù mắt. Ảnh hưởng có hại của NH
3
trong các
chu
ồng nuôi thường gây stress mãn tính ở gia súc, gia cầm, cơ thể kém sức
- 22 -
đề kháng, dễ mắc các bệnh về phổi. Bảng dưới đây cho thấy các tác hại khi
ti
ếp xúc với amoniac :
Tác hại của Amoniac dối với người và lợn khi hít phải
Nồng độ tiếp xúc Tác hại hoặc triệu chứng
I. Đối với người :
6 – 20 ppm trở lên
100 ppm trong 1 gi
ờ
400 ppm trong 1 giờ
700 ppm
5.000 ppm
r
ồi dẫn đến co giật.
Nồng độ NH
3
điển hình trong chuồng có môi trường được điều hoà
và thông thoáng t
ốt là 20 ppm và đạt 50 ppm nếu để phân tích tụ trên nền
c
ứng. Vào mùa đông tốc độ thông gió chậm hơn thì có thể vượt 50 ppm và
có th
ể lên đến 100 – 200 ppm (Hội đồng hạt cốc Hoa Kỳ, 1996).
Hàm lượng amoniac trong các cơ sở chăn nuôi giết mổ phụ thuộc
vào s
ố lượng chất thải, chất hữu cơ tích tụ lại trong các lớp độn chuồng, tức
- 23 -
là phụ thuộc vào mật độ nuôi gia súc, gia cầm, độ ẩm, nhiệt độ của không
khí và c
ủa lớp độn chuồng, nguyên liệu và độ xốp của lớp độn chuồng.
Thường thì khu bẩn chứa nhiều NH
3
hơn khu sạch. Nồng độ của NH
3
được
phát hi
ện trong các trại chăn nuôi thường < 100 ppm.
Có nh
ững ý kiến khác nhau về nồng độ NH
3
tối đa cho phép trong
không khí chuồng nuôi và trong các cơ sở sản xuất. Theo T.M.Coldhft
N
ồng độ CO cao tới 250 ppm trong các khu chăn nuôi lợn sinh sản
có thể làm tăng số lượng lợn con đẻ non, lợn con đẻ ra bị chết nhưng xét
nghiệm bệnh lý cho thấy không có liên quan tới các bệnh truyền nhiễm.
- 24 -
Tác hại của Oxit cacbon đối với người và lợn
Nồng độ tiếp xúc Tác hại hoặc triệu chứng
I. Đối với người :
50 ppm trong 8 giờ
500 ppm trong 3 giờ
1.000 ppm trong 1 giờ
4.000 ppm trở lên
M
ệt nhọc, đau đầu.
Đau đầu kinh ni
ên, nôn mửa và tinh thần suy yếu
Co giật, tiếp xúc lâu sinh mê sảng
Tử vong
II. Đối với lợn :
200 – 250 ppm
Trên 1500 ppm
L
ợn con sơ sinh yếu ớt
Gây sảy thai cho lợn chửa kỳ 2, tăng số lợn chết
thai và giảm tốc độ sinh trưởng của lợn con.
2.3.1.5. Khí Metan (CH
4
)
Chất khí này được thải ra theo phân do vi sinh vật phân giải nguồn
dinh dưỡng gồm các chất xơ và bột đường trong q