Chức năng của Viện Kiểm sát trong giai đoạn truy tố - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60380104

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ GIA LÂM

HÀ NỘI - 2015


Lời cám ơn
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu công tác thực
tiến, được sự hướng dẫn, giảng dạy của các thầy, cô, sự quan tâm giúp đỡ của
cơ quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành
Luận văn thạc sỹ Luật học.
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu cùng các
thầy, cô Trường Đại học Luật Hà Nội, các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ đã tận
tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu, cách nghiên
cứu để giúp tôi có thể hiểu và xử lý đề tài một cách phù hợp nhất với khả năng
của mình. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Vũ Gia Lâm,
người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn.

TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ .......................................................................
1.1. Một số vấn đề chung về chức năng của viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố.......

5

1.1.1. Giai đoạn truy tố và khái niệm chức năng của Viện kiểm sát trong giai

5

đoạn truy tố..............................................................................................................
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định và thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong

10

giai đoạn truy tố........................................................................................
1.1.3. Mối quan hệ giữa các chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

12

1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về chức năng của

14

viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố.............................................................
1.2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về chức năng thực hành

14

quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố..................................
1.2.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về chức năng kiểm sát


59

2.2.1. Giải pháp lập pháp.........................................................................................

59

2.2.2. Các giải pháp khác........................................................................................

65

KẾT LUẬN............................................................................................................

70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................

71


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.

BLHS

Bộ luật Hình sự

2.

BLTTHS


Viện kiểm sát nhân dân

8.

VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân tối cao


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân,
vì dân. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta không ngừng đổi mới, phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phấn đấu vì
sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện
mục tiêu đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải đẩy mạnh công cuộc cải
cách tư pháp, chú trọng đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm
xây dựng nền tư pháp vững mạnh, dân chủ, công bằng và nghiêm minh theo hướng
ngày càng chú trọng hơn đến lợi ích của cá nhân và không xử oan người vô tội.
Viện kiểm sát (VKS) là một trong những cơ quan trọng yếu trong hệ thống các cơ
quan tư pháp được giao nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, duy trì trật tự
pháp luật, đảm bảo sự ổn định cho xã hội. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
đã chỉ rõ: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp”. Chức năng cơ bản
và quan trọng này của VKS phải được thực hiện liên tục và xuyên suốt trong tất cả
các giai đoạn tố tụng hình sự, đặc biệt là giai đoạn truy tố.

Viện kiểm sát trong một số giai đoạn như “Chức năng của Viện kiểm sát trong giai
đoạn xét xử phúc thẩm hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Trần Xuân
Quang, Luận văn thạc sỹ luật học 2009; “Chức năng của Viện kiểm sát trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự”, Nguyễn Hữu Khoa, Luận văn thạc sỹ luật học
năm 2010; “Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự”, Vương Thị Thanh Hương, Luận văn thạc sỹ luật học năm 2010,... hay
nghiên cứu về từng chức năng của Viện kiểm sát như “Quyền công tố ở Việt Nam”,
Lê Thị Tuyết Hoa, Luận án tiến sỹ Luật học năm 2002; “Kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Lê Lan Chi,
Luận văn thạc sỹ Luật học năm 1995,...
Bên cạnh đó, cũng có một số bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành như
“Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình
sự của Viện kiểm sát”, TS. Hoàng Thị Sơn, Tạp chí Luật học, Số đặc san về Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003; “Bàn về chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình
sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, TS. Lê Thị Tuyết Hoa, Tạp chí Kiểm sát số
18/2007,...
Những công trình nghiên cứu trên đa số nghiên cứu chức năng của VKS
trong một số giai đoạn hoặc từng chức năng riêng lẻ của VKS. Vì vậy, việc nghiên


3

cứu một cách toàn diện và có hệ thống để làm sáng tỏ chức năng của VKS trong
giai đoạn truy tố là cần thiết.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận chung về chức năng của Viện
kiểm sát, quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chức năng của Viện kiểm sát
trong giai đoạn truy tố và thực tiễn thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong
giai đoạn truy tố.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về chức năng của Viện kiểm sát

Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; bám sát chủ trương
quan điểm của Đảng và Nhà nước về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
kiểm sát và chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Để thực hiện đề tài, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương
pháp phân tích, tổng hợp để xây dựng khái niệm về chức năng của Viện kiểm sát
trong giai đoạn truy tố và nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành; phương
pháp thống kê, so sánh, phương pháp lý luận kết hợp với thực tiễn để làm rõ thực
trạng thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố.
6. Ý nghĩa và điểm mới của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học, góp
phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về chức năng của Viện kiểm sát trong giai
đoạn truy tố. Qua đó thấy được vai trò to lớn trong công tác đấu tranh phòng ngừa
tội phạm. Luận văn đã nêu ra một số giải pháp nâng cao chất lượng việc thực hiện
chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố. Hơn nữa, các kết quả nghiên
cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ quá trình học tập,
nghiên cứu môn Luật tố tụng hình sự cũng như làm tài liệu cho các cán bộ kiểm sát
trong hoạt động nghiệp vụ của mình.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn chia thành 2 chương.
Chương 1: Một số vấn đề chung và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về
chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố
Chương 2: Thực trạng thực hiện chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn
truy tố và một số giải pháp hoàn thiện.


5

để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án, nhiệm vụ giai đoạn điều tra là xác


6

định các tình tiết của tội phạm và người phạm tội để quyết định khởi tố bị can, kết
thúc điều tra đề nghị truy tố hay đình chỉ điều tra, nhiệm vụ của giai đoạn truy tố là
kiểm tra kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà
cơ quan Điều tra có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định của
Viện kiểm sát được chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự
đúng tội, đúng người và đúng pháp luật. Đồng thời, mỗi giai đoạn có những cơ
quan, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng nhất định và phạm vi quyền
và nghĩa vụ tố tụng của mỗi chủ thể quan hệ tố tụng cũng khác nhau trong mỗi giai
đoạn. Ví dụ: Trong giai đoạn điều tra vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng chính là
CQĐT, cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra, còn VKS là cơ quan thực hiện
việc kiểm sát điều tra. Trong giai đoạn truy tố. VKS là cơ quan tiến hành tố tụng
chính. Mặt khác, quy định khởi tố, điều tra vụ án và quyết định việc truy tố thành
một giai đoạn tố tụng trong khi chưa có sự xác định rõ ràng các chức năng tố tụng
của các cơ quan tiến hành tố tụng khiến các hoạt động tố tụng không hiệu quả và
kéo dài.
Trong nghiên cứu lý luận về tố tụng hình sự, thường chia quá trình tố tụng
thành các giai đoạn tương ứng với những cơ quan và người tiến hành tố tụng. Đó là:
- Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự;
- Giai đoạn điều tra vụ án;
- Giai đoạn truy tố;
- Giai đoạn xét xử sơ thẩm;
- Giai đoạn xét xử phúc thẩm;
- Giai đoạn thi hành bản án, quyết định của Tòa án;
- Giai đoạn xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bằng thủ tục
giám đốc thẩm và tái thẩm [25, tr.10 - 11].

định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự của bị can, bị cáo. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến
hành tố tụng...”. Trong giai đoạn này, VKS cần nghiên cứu tất cả các vấn đề được
thể hiện trong hồ sơ điều tra nhằm xác định quá trình điều tra vụ án có tuân thủ các
quy định của pháp luật TTHS hay không? các vấn đề cần điều tra đã được làm rõ
chưa? còn có thiếu sót, sai lầm nào cần khắc phục không?,... Từ đó kịp thời ban
hành các quyết định tố tụng cần thiết nhằm hoàn thiện hồ sơ, khắc phục những vi
phạm pháp luật của CQĐT nếu có để đảm bảo việc quyết định truy tố bị can đúng
đắn, tạo cơ sở vững chắc cho Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;
góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, lợi ích của nhà nước, tổ chức, công dân


8

được tôn trọng và bảo đảm. Thực hiện tốt chức năng của VKS trong giai đoạn truy
tố sẽ góp phần tích cực và hiệu quả vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
1.1.1.2. Khái niệm chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố
Chức năng theo tiếng Latin là “functio” có nhiều nghĩa khác nhau, có thể
hiểu là nghĩa vụ, phạm vi hoạt động, vai trò hay hiểu là loại hoạt động đặc biệt của
sinh vật và của các cơ quan, tế bào của nó. Tùy ngữ cảnh cụ thể để áp dụng nhưng
nghĩa chủ đạo của chức năng là phương diện hoạt động để thực hiện nhiệm vụ của
mình [12, tr.05].
Theo Từ điển luật học, chức năng là phương diện, mặt hoạt động chủ yếu của
một thiết chế (cơ quan, tổ chức) [5, tr.13]. Theo nghĩa Hán Việt, chức là việc phần
mình, năng là sức làm được. Từ đó, chức năng cũng còn được hiểu là hoạt động chủ
yếu của một cơ quan, tổ chức nào đó. Có thể lấy ví dụ như: chức năng của Tòa án là
xét xử.
Các cơ quan nhà nước cấu thành nên bộ máy nhà nước và các nhiệm vụ,
chức năng của Nhà nước được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước. Trong quá
trình hoạt động, mọi nhà nước đều thiết lập các cơ quan khác nhau và trao cho

chất là một giai đoạn tố tụng hình sự độc lập và quan trọng, pháp luật quy định VKS
có những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau để thực hiện các chức năng của mình.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: Chức năng của VKS trong
giai đoạn truy tố là việc VKS tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm truy tố bị can
ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng hoặc ra những quyết định khác để giải quyết
đúng đắn vụ án hình sự, đồng thời bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm
chỉnh và thống nhất.
Chức năng của VKS trong tố tụng hình sự nói chung cũng như trong giai
đoạn truy tố nói riêng bao gồm: thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật. Ta có thể đưa ra khái niệm cho từng chức năng cụ thể này như sau:
Thứ nhất, chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
Thuật ngữ “thực hành quyền công tố” lần đầu tiên xuất hiện trong Hiến pháp
năm 1980 khi quy định về chức năng của VKS. Mặc dù đến nay trong nghiên cứu
khoa học còn nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về quyền công tố và thực hành
quyền công tố, song cơ bản đều cho rằng: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà
nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền
này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện để phát
hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi
phạm tội. Ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho VKS. Thực hành
quyền công tố là chức năng đặc thù của VKS, thể hiện ở việc sử dụng tổng hợp các


10

quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội ở giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử
vụ án hình sự [19, tr.57].
Như vậy, từ khái niệm giai đoạn truy tố (đã đề cập ở trên) có thể rút ra khái
niệm: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố là việc VKS sử dụng tổng
hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy

luật trao chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Hai chức
năng đặc trưng, tiêu biểu trên của VKS đã được ghi nhận và khẳng định trong các
bản Hiến pháp; các nghị quyết, văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 48NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020”, Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Pháp lệnh Kiểm sát viên
VKSND năm 2002. Do đó, việc quy định chức năng của VKS nói chung cũng như
trong giai đoạn tố tụng nói riêng đã góp phần thể chế hóa các quan điểm, tư tưởng,
chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước, đặt nền tảng và dần hoàn thiện
cho việc hình thành cơ sở lý luận về chức năng tố tụng hình sự và chức năng trong
giai đoạn truy tố của VKS, bảo đảm thống nhất về mặt nhận thức.
Truy tố là một giai đoạn tố tụng hình sự quan trọng. Do đó, với việc thực
hiện hiệu quả và tích cực chức năng của mình, VKS đã góp phần không nhỏ vào sự
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và tự do của công dân
trong các giai đoạn trước khi xét xử tại Tòa án, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực
của Nhà nước pháp quyền. Đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân vào hoạt động
của VKS nói riêng cũng như của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung; tham gia
tích cực vào việc giáo dục ý thức pháp luật của nhân dân, từ đó góp phần giữ vững
an ninh chính trị, ổn định an ninh trật tự xã hội, tăng cường hiệu quả của công tác
đấu tranh phòng và chống tội phạm.
1.1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Việc quy định chức năng cụ thể, rõ ràng còn góp phần tạo cơ sở pháp lý cho
hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trong
phạm vi chức năng của mình, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động
thực tiễn.
Trước hết, thực hiện tốt chức năng của VKS trong giai đoạn truy tố đã góp
phần khẳng định và nâng cao vai trò của VKS. Các quyết định của VKS trong giai
đoạn này tạo cơ sở pháp lý để phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các giai đoạn tố
tụng và các quan hệ tố tụng. Nếu có đủ căn cứ để truy tố thì quyết định truy tố sẽ
phát sinh trình tự giải quyết tố tụng mới đó là giai đoạn xét xử sơ thẩm, quan hệ tố

1.1.3. Mối quan hệ giữa các chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn
truy tố
Theo Từ điển Tiếng Việt “mối quan hệ” được hiểu là “sự gắn liền về mặt nào
đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì có
thể tác động đến sự vật kia” [28, tr.485]. Từ đó có thể hiểu mối quan hệ giữa hai
hay nhiều sự vật, hiện tượng thể hiện ở sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong sự
tồn tại và phát triển. Nguyên lý về mối liên hệ đã khẳng định rằng các sự vật, hiện


13

tượng tồn tại trong thế giới khách quan không thể tồn tại độc lập mà luôn là một thể
thống nhất, có sự tác động lẫn nhau.
Vì vậy, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật là hai
chức năng độc lập, có đối tượng tác động, phạm vi, nội dung hoạt động khác nhau
nhưng lại có quan hệ chặt chẽ, gắn bó, tác động qua lại với nhau. Hoạt động kiểm
sát việc tuân theo pháp luật có hiệu quả sẽ là cơ sở giúp hoạt động thực hành quyền
công tố đúng đắn, chính xác, khách quan và ngược lại hoạt động thực hành quyền
công tố cũng là tiền đề cho hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Thực tiễn
thực hiện chức năng của ngành kiểm sát cho thấy, trên cơ sở các quy định của pháp
luật, VKS các cấp luôn quán triệt và thực hiện nghiêm túc quan điểm đấu tranh
chống tội phạm gắn liền với đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong việc giải
quyết các vụ án hình sự, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội được phát hiện phải
được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, đồng thời đảm bảo hoạt động
của các cơ quan tư pháp hợp pháp và có căn cứ, tuân thủ đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong giai đoạn truy tố, VKS thực hiện chức năng,
nhiệm vụ nhằm kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố
tụng mà cơ quan Điều tra có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định
của Viện kiểm sát được chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm
hình sự đúng tội, đúng người và đúng pháp luật.

tội, đúng pháp luật.
Cả hai chức năng này đều có chung mục đích là nhằm đảm bảo mọi hành vi
phạm tội đều bị xử lý kịp thời, truy tố được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người phạm tội; đồng thời,
vụ án phải được giải quyết một cách đúng đắn, khách quan, hợp pháp và công bằng.
Tính độc lập của hai chức năng này chỉ là tương đối, trong một số trường hợp khó
có thể phân định cụ thể và rõ ràng giữa hai chức năng này. Việc thực hiện đồng thời
hai chức năng này là nhiệm vụ hết sức nặng nề đòi hỏi Kiểm sát viên phải nỗ lực
rèn luyện, nêu cao tinh thần trách nhiệm.
1.2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ
1.2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về chức năng
thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố
1.2.1.1. Phạm vi thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai
đoạn truy tố
Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạn truy tố
có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định nhằm kiểm tra lại tính hợp


15

pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà CQĐT đã áp dụng để bảo
đảm cho các quyết định của VKS được chính xác và khách quan góp phần truy cứu
trách nhiệm hình sự đúng tội, đúng người và đúng pháp luật. Phạm vi thực hành
quyền công tố của VKS trong giai đoạn truy tố được thực hiện từ khi VKS nhận hồ
sơ vụ án hình sự kèm theo bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố do Cơ quan điều
tra chuyển đến và kết thúc bằng việc Viện kiểm sát ra một trong các quyết định sau:
Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng theo thủ tục thông thường hoặc bằng
quyết định truy tố theo thủ tục đặc biệt; Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung; Đình chỉ
hoặc tạm đình chỉ vụ án hình sự.

điểm của Nhà nước đối với tội phạm và người phạm tội. Về cơ bản, VKS chỉ được
ra quyết định truy tố để xét xử những người có hành vi phạm tội đã được khởi tố,
điều tra và được Cơ quan điều tra hoàn thành hồ sơ đề nghị truy tố (có trường hợp
VKS truy tố cả bị can đã được CQĐT đình chỉ điều tra (khoản 4 Điều 164
BLTTHS). Do đó, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội phải
đảm bảo tính có căn cứ, đúng pháp luật và chính sách hình sự của Đảng và Nhà
nước.
Theo Điều 166 BLTTHS năm 2003, thời hạn quyết định truy tố của VKS đối
với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng là hai mươi ngày, đối với tội
phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là ba mươi ngày, kể từ
ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của CQĐT. Trong trường hợp
cần thiết, Viện trưởng VKS có thể gia hạn thêm, nhưng không quá mười ngày đối
với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày
đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng.
Bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố) là văn bản pháp lý thể hiện quan
điểm của VKS về việc xử lý tội phạm và người phạm tội. Quan trọng hơn, nó còn là
một trong những căn cứ để Tòa án xem xét, quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đồng
thời, bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố) cũng quy định giới hạn xét xử của Tòa
án. Điều này đã được quy định cụ thể và rõ ràng tại Điều 196 BLTTHS. Đó là: “Tòa
án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố
và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử. Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác
với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội
khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố”. Trên cơ sở đó, Tòa án
thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo chuẩn bị cho việc xét xử như phân công
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, thành lập Hội đồng xét xử, yêu cầu Đoàn luật sư phân


17




18

Để đảm bảo giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và có căn cứ,
sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nếu thấy có căn cứ quy định tại Điều 168 BLTTHS
thì trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung.
Theo quy định tại Điều 168 BLTTHS, VKS ra quyết định trả hồ sơ cho
CQĐT để điều tra bổ sung khi nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy:
1. Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát
không thể tự mình bổ sung được;
2. Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng
phạm khác;
3. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Những vấn đề cần được điều tra bổ sung phải được nêu rõ trong quyết định
yêu cầu điều tra bổ sung.
- Trường hợp thứ nhất, còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án
mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được
Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành không quy định và giải thích chứng cứ
quan trọng là gì và thế nào là không thể tự mình bổ sung được. Có quan điểm cho
rằng “đã là chứng cứ thì đều có giá trị chứng minh như nhau, không thể chia thành
chứng cứ quan trọng và không quan trọng” [7, tr.32]. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch
số 01/2010/TTLT-VKSTC-BCA-TATC ngày 28/7/2010 của Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ điều tra bổ sung (gọi tắt là Thông tư số
01/2010/TTLT) đã quy định rất cụ thể thế nào là chứng cứ quan trọng, khắc phục
được những bất đồng về nhận thức và áp dụng về chứng cứ quan trọng của vụ án.
Theo đó, “Chứng cứ quan trọng đối với vụ án” quy định tại khoản 1 Điều 168 và
điểm a khoản 1 Điều 179 BLTTHS là chứng cứ quy định tại Điều 64 của BLTTHS
dùng để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 63 của BLTTHS và

định người thực hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ gì và trong trường
hợp mục đích, động cơ phạm tội là yếu tố tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc là
yếu tố (tình tiết) của cấu thành tội phạm hoặc là yếu tố (tình tiết) định khung hình
phạt;
- Chứng cứ để chứng minh tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự của bị can, bị cáo là chứng cứ xác định bị can, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 46 của Bộ luật hình sự; có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự hoặc là
chứng cứ xác định tình tiết định khung hình phạt;


20

- Chứng cứ để chứng minh những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo là
chứng cứ xác định lý lịch tư pháp của bị can, bị cáo;
- Chứng cứ để chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm
tội gây ra” là chứng cứ để đánh giá tính chất, hậu quả (vật chất và phi vật chất) của
hành vi phạm tội trong việc xác định tội phạm và quyết định hình phạt;
- Chứng cứ khác để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 63
của BLTTHS mà thiếu chứng cứ đó thì không có đủ căn cứ để giải quyết vụ án,
như: Chứng cứ để xác định chính xác tuổi của bị can, bị cáo là người chưa thành
niên hoặc xác định chính xác tuổi của người bị hại là trẻ em; chứng cứ để chứng
minh vị trí, vai trò của từng bị can, bị cáo trong trường hợp đồng phạm hoặc phạm
tội có tổ chức,...
Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp thiếu chứng cứ quan trọng VKS
đều trả hồ sơ để điều tra bổ sung. VKS chỉ trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu thiếu
những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ
sung được. Trong thực tiễn áp dụng, vẫn còn nhiều bất đồng trong việc xác định
như thế nào là việc không thể tự mình bổ sung được. Có thể hiểu việc VKS không
thể tự mình bổ sung được là do không có điều kiện về phương tiện, công cụ, lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status